Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Mảnh đất vùng biên Quảng Trực (Lâm Đồng) đang tiếp tục thay da đổi thịt và khoác lên mình một diện mạo mới. Thành quả này là nhờ sự ưu tiên nguồn lực của Trung ương và địa phương, sự chung sức, chung lòng của cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn xã; đặc biệt là vai trò nêu gương cũng như tấm lòng vì cộng đồng của các già làng, người có uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hiến đất xây nhà văn hóa

lam-dong-300826-1.jpg
Năm nay đã hơn 70 tuổi, ông Điểu Sranh, người có uy tín ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn khỏe mạnh, rắn rỏi và là điểm tựa của bà con bon Bu Nung, xã Quảng Trực.

Năm nay 71 tuổi, ông Điểu Sranh là một trong những người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng và là tấm gương tuổi cao, gương sáng điển hình của bon Bu Nung (xã Quảng Trực). Đây là vùng đất phên giậu của Tổ quốc. Ông Điểu Sranh chia sẻ mình sinh ra và lớn lên ở bon Bu Prăng 1, xã Quảng Trực, gần biên giới Campuchia. Sau khi lập gia đình, ông chuyển về bon Bu Nung và gắn bó với nơi này gần 50 năm nay.

Theo ông Điểu Sranh, đồng bào người M’Nông trong bon Bu Nung đều chăm chỉ làm ăn. Đời sống của bà con ngày càng được cải thiện. Bon Bu Nung nằm cách Quốc lộ 14C khoảng 500m, cách trung tâm xã Quảng Trực hơn 1km và cách trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng khoảng 250km. Địa phương có hệ thống giao thông, đường điện và cơ sở hạ tầng được đầu tư hoàn thiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của bà con.

Trước đây, đời sống đồng bào gặp nhiều khó khăn do điều kiện đi lại, cơ sở hạ tầng hạn chế, phong tục, tập quán canh tác của không phù hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cà phê, hồ tiêu… “Trồng cà phê, trồng tiêu cần có cán bộ khuyến nông hướng dẫn và Nhà nước hỗ trợ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Bà con vừa học vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Thêm nữa, hơn 10 năm nay, cây mắc ca được UBND xã Quảng Trực đưa vào trồng khá phổ biến. Cây này không phải chăm sóc nhiều nêu phù hợp với tập quán của bà con. Nhờ đó, thu nhập của người dân ngày càng ổn định để vươn lên thoát nghèo”, ông Điểu Sranh chia sẻ thêm.

quang-truc-1.jpg
Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới tại xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng, vừa được bàn giao và đưa vào sử dụng.

Phát huy vai trò nêu gương và tinh thần vì cộng đồng, năm 2023, gia đình ông Điểu Sranh đã hiến tặng đất để Nhà nước xây dựng nhà văn hóa cộng đồng bon Bu Nung. Công trình được hoàn thành vào năm 2024. Nhà văn hóa Bon hoàn thành đã giúp bà con có thêm một không gian sinh hoạt văn hóa; đồng thời địa phương hoàn thành một tiêu chí quan trọng trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Theo ông Đoàn Minh Thuận, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Trực, ông Điểu Sranh là một tấm gương tuổi cao gương sáng của bon Bu Nung nói riêng, xã Quảng Trực nói chung. Tháng 9/2024, UBND xã Quảng Trực đã gửi thư cám ơn ông Điểu Sranh và gia đình về đóng góp thiết thực, kịp thời cho địa phương khi đã hiến tặng hơn 1.200m2 đất thổ cư và đất nông nghiệp xây dựng công trình nhà văn hóa Bon. Tháng 6/2024, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông (cũ, nay là tỉnh Lâm Đồng) đã tặng bằng khen cho gia đình ông Điểu Sranh do có những thành tích xuất sắc trong công tác và các hoạt động vì cộng đồng.

Gần 20 năm giữ rừng nơi phên dậu tổ quốc

lam-dong-300826-2.jpg
Ông Điểu Ká, 62 tuổi, bon Bu Prăng 1A, xã Quảng Trực là người có uy tín của vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng.

Ông Điểu Ká (trú Bon Bu Prăng 1A, xã Quảng Trực) cũng là người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng. Ông vừa gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, vừa đi đầu trong tuyên truyền, vận động bà con với quan điểm xuyên suốt: Nhà nước làm là cho mình, tốt cho nhà mình, Bon mình.

Ông Điểu Ká (61 tuổi) đã có gần 20 năm nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Vành đai biên giới (tỉnh Lâm Đồng). Tổ của ông được giao khoán hơn 110ha rừng phòng hộ. Đây là khu vực biên giới với địa hình đồi dốc, hiểm trở, đi lại rất khó khăn. “Nhiều năm nay, tổ của tôi chia làm nhiều nhóm và thay nhau đi tuần tra, phối hợp với chủ rừng thực hiện quản lý, bảo vệ, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Vào mùa khô, tổ thực hiện thêm các nhiệm vụ liên quan đến phòng cháy, chữa cháy rừng và quản lý người ra, vào rừng, sử dụng lửa trong rừng…”, ông Điểu Ká tâm sự.

Khu vực tổ nhận giao khoán quản lý được quy hoạch là rừng phòng hộ và có vai trò quan trọng trong gìn giữ nguồn nước, phòng, chống thiên tai, sạt lở đất cũng như ý nghĩa lớn về quốc phòng - an ninh tại khu vực biên giới. Gia đình ông Điểu Ká và hầu hết các hộ nhận khoán trong tổ đều sinh ra, lớn lên và nhiều đời gắn bó với mảnh đất nơi phên giậu Tổ quốc này.

Ông Điểu Ká cho biết, nhờ đó mà cả tổ đều thông thạo đường đi lối lại. Để đi hết ranh giới khu vực được giao quản lý có khi phải đi bộ cả buổi. Anh em đi xuyên rừng, ở lại đêm trong rừng để phối hợp quản lý, bảo vệ rừng. Công việc này vừa gần gũi, vừa gắn bó với văn hóa sống hài hóa, dựa vào rừng của bà con người M’Nông vừa mang lại thu nhập ổn định mỗi năm (khoảng 7 - 8 triệu đồng/hộ). Công việc giúp bà con có thêm rau rừng, quả rừng, măng rừng để cải thiện bữa ăn...

Theo ông Đỗ Thành Tâm, Phó Ban Quản lý Rừng phòng hộ Vành đai biên giới, tổ quản lý, bảo vệ rừng do ông Điểu Ká làm tổ trưởng đã gắn bó với công tác giao khoán, quản lý bảo vệ rừng của đơn vị từ năm 2007 (trước năm 2025 là Ban Quản lý rừng phòng hộ Thác Mơ). Đây cũng là tổ có thành tích ấn tượng khi từ trước tới nay chưa để xảy ra vụ phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng, cháy rừng trong khu vực được giao quản lý, bảo vệ. “Bản thân ông Điểu Ká rất thông thạo địa hình và gương mẫu, trách nhiệm trong bảo vệ rừng và đã trở thành hạt nhân của cả tổ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đơn vị chủ rừng rất yên tâm khi giao rừng và phối hợp quản lý, bảo vệ rừng với bà con”.

Hạ tầng giao thông, thủy lợi tại hầu hết các thôn (bon) của xã Quảng Trực được đầu tư hoàn thiện để bà con phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.

Hạ tầng giao thông, thủy lợi tại hầu hết các thôn (bon) của xã Quảng Trực được đầu tư hoàn thiện để bà con phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.

Bon Bu Prăng 1A hiện có hơn 150 hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu; đa số là người M’Nông. Hệ thống hạ tầng giao thông, điện, đường, trường, trạm, nhà văn hóa… tại Bu Prăng 1A đều được Nhà nước đầu tư xây dựng khang trang, đáp ứng các nhu cầu của người dân. Ông Điểu Ká cho biết có, nhiều hạng mục, dự án hạ tầng trong bon có sự đóng góp của bà con, từ ngày công lao động cho đến việc hiến đất, hiến cây cối, tường rào… “Con đường trước nhà mình được Nhà nước mở rộng từ năm 2020. Đường đi qua đất nhà ai thì nhà đó đều đồng lòng hiến đất, dỡ bỏ hàng rào, cây cối… để hỗ trợ. Tôi vận động, giải thích và bà con hiểu, đồng lòng, ủng hộ chủ trương chung”.

Theo ông Điểu Ká, quan điểm xuyên suốt trong qua trình vận động bà con là phải giải thích cho họ hiểu sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của ngành chức năng, chính quyền địa phương. Từ đó, bà con có các điều kiện thuận lợi nhất để làm ăn kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Quảng Trực là một trong năm xã biên giới đất liền của tỉnh Lâm Đồng, có diện tích rộng (gần 56.000ha) với gần 3.200 hộ dân, trong đó có hơn 45% là hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Theo quyết định phê duyệt quy hoạch chung xã Quảng Trực được UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành vào cuối tháng 6/2026, xã là đơn vị hành chính đặc thù mang tầm chiến lược và được xác định là trung tâm giao thương trên hành lang kinh tế Đông - Tây tỉnh Lâm Đồng./.

Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Tại Điện Biên, thời gian qua nhiều phụ nữ vùng cao luôn đi đầu trong các phong trào, phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và vận động hội viên cùng vươn lên. Họ chính là những “thủ lĩnh phụ nữ” ở cơ sở.

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Cứ mỗi dịp hè đến, những người lính mang quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Ia Púch, tỉnh Gia Lai, lại trở thành những người thầy bồi đắp kiến thức cho các học sinh nghèo vùng biên giới. Suốt 5 năm qua, lớp học đã trở thành địa chỉ thân thuộc của các em có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bận mưu sinh, ít có điều kiện kèm cặp việc học được củng cố kiến thức, duy trì thói quen học tập và vui chơi lành mạnh trong những ngày hè.

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Cùng với việc chủ động “4 tại chỗ” của các địa phương, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã ở tỉnh Lào Cai đang bám địa bàn, kịp thời phát hiện nguy cơ, triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân trong mùa mưa lũ, không để bị động, bất ngờ.

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Từ sự kiên trì, gần dân của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã sẵn sàng tháo dỡ công trình, nhường đất vì lợi ích chung. Những mét vuông đất được người dân tự nguyện hiến tặng không chỉ để mở rộng những con đường mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, trách nhiệm vì cộng đồng.

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Đến cuối tháng 7, việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo các thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã hoàn tất. Tại nhiều xã vùng núi phía Tây, bà con nhân dân trong các thôn đã tin tưởng, tín nhiệm bầu lên các trưởng thôn “GenZ”. Với sức trẻ, nhiệt huyết, cùng sự năng động, sáng tạo và thích nghi với thời đại công nghệ 4.0, những trưởng thôn “GenZ” được kỳ vọng mang đến "luồng sinh khí" mới, giúp các thôn vùng sâu, vùng xa ngày càng được khởi sắc, phát triển.

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Từng xông pha trong lửa đạn, cống hiến tuổi trẻ, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc, nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, nhiều thương binh, bệnh binh ở xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai lại tiếp tục nỗ lực trên “mặt trận” làm kinh tế, góp phần vào sự phát triển của địa phương.

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Giữa những dãy núi trùng điệp của xã Sơn Tây (Quảng Ngãi), nơi cuộc sống của đồng bào Ca Dong vẫn còn nhiều nhọc nhằn, có một ngôi nhà mới vừa được dựng lên trên khu đất an toàn sau thiên tai.

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Hơn ba thập kỷ gắn bó với công việc chung, ông Lỷ A Sy (sinh năm 1952, dân tộc Nùng), người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn Hòa Bình, xã Sông Lũy, tỉnh Lâm Đồng luôn là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Bằng tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu, ông đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động người dân chung sức xây dựng nông thôn mới và giữ gìn bình yên nơi xóm làng.

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Ở xã vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai, Bí thư chi bộ thôn Cung 11 (trước sáp nhập) Sùng A Mùa bằng sự nỗ lực quyết tâm cùng với nghị lực phi thường đã vượt qua cám dỗ và mặc cảm để đứng dậy sau vấp ngã rồi phấn đấu trở thành người có uy tín trong cộng đồng.

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Nhiều hộ dân ở xã Tân Lợi, thành phố Đồng Nai đang tự nguyện hiến hàng ha đất cùng những vườn cây đang cho thu hoạch để mở đường giao thông. Dù phải chấp nhận thiệt thòi trước mắt, người dân vẫn sẵn sàng chung sức vì lợi ích lâu dài của cộng đồng, góp phần đẩy nhanh tiến độ các công trình và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Ngày 1/7, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026, em Đặng Quỳnh Trang, học sinh lớp 12C3, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn, là gương mặt xuất sắc của tỉnh Điện Biên trên bảng vàng thủ khoa tổ hợp A00 cả nước với tổng điểm 29,5; trong đó đạt điểm tuyệt đối ở hai môn Toán 10, Hóa 10 và Vật lý 9,5 điểm.

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Tốt nghiệp chương trình cao đẳng ngành Dược tại Huế, cô gái trẻ người Bru - Vân Kiều Hồ Thị Thiết (sinh năm 2002) không chọn ở lại thành phố lập nghiệp như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Với tình yêu tha thiết dành cho quê hương, Thiết đã chọn trở về thôn Chênh Vênh, xã biên giới Hướng Phùng (tỉnh Quảng Trị), nơi mình sinh ra và lớn lên.

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Sinh ra ở một bản vùng cao còn nhiều khó khăn tại Tuyên Quang, Giàng Thị Pà chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ học đại học, càng không nghĩ sẽ tốt nghiệp cùng lúc hai bằng đại học. Thế nhưng từ những câu chuyện vượt khó của bố mẹ, cô gái người Mông đã từng bước chinh phục con đường tri thức và lựa chọn trở về cống hiến cho quê hương.

Người giữ tiếng kèn Saranai

Người giữ tiếng kèn Saranai

Ở làng Chăm Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng, có một người cao tuổi vẫn lặng lẽ dành trọn tâm huyết cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và vun đắp khối đoàn kết trong cộng đồng. Đó là già làng Thông Long, người có uy tín tiêu biểu của đồng bào Chăm, được bà con quý trọng bởi những đóng góp bền bỉ trong bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Bí thư chi bộ hết lòng vì nhân dân vùng cao

Bí thư chi bộ hết lòng vì nhân dân vùng cao

Những đổi thay ở thôn Xá Nhù, xã vùng cao đặc biệt khó khăn Tà Xi Láng (tỉnh Lào Cai), luôn có sự đóng góp của Bí thư Chi bộ Giàng A Dê - một người tâm huyết, sáng tạo và hết lòng vì nhân dân vùng cao.

Gieo những mùa vàng no ấm nơi biên cương của Tổ quốc

Gieo những mùa vàng no ấm nơi biên cương của Tổ quốc

Trên những cánh đồng lúa nước đang vào mùa thu hoạch ở xã biên giới Ia Mơ, tỉnh Gia Lai, tiếng máy gặt vang lên rộn ràng giữa sắc vàng trải dài khắp các thung lũng. Những bao lúa đầy ắp được người dân vận chuyển về nhà trong niềm vui được mùa. Ít ai biết rằng, phía sau những mùa vàng no ấm hôm nay là hành trình nhiều năm bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng trong việc giúp người dân thay đổi tập quán sản xuất, từng bước vươn lên thoát nghèo.

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

Bốn vị sư liệt sĩ Khmer và 'ngọn lửa đoàn kết' cháy mãi trong lòng dân tộc

Bốn vị sư liệt sĩ Khmer và 'ngọn lửa đoàn kết' cháy mãi trong lòng dân tộc

Cách đây 52 năm, tại tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh An Giang) có 4 vị sư Khmer: Danh Hom, Danh Tấp, Danh Hoi, Lâm Hùng cùng người dân địa phương tổ chức biểu tình đấu tranh đòi chính quyền Mỹ - Ngụy không được bắt chư tăng đi lính và bắn phá chùa chiền. Tinh thần đấu tranh cách mạng và sự hy sinh của 4 vị sư trở thành những ngọn lửa khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết trong đồng bào Khmer nói riêng, người dân nói chung.

Đảng viên mở lối chuyển đổi sinh kế trên miền đá Lũng Cú

Đảng viên mở lối chuyển đổi sinh kế trên miền đá Lũng Cú

Những ngày đầu hè, trên các sườn núi đá tai mèo ở xã Lũng Cú, màu xanh của những ruộng gừng mới trồng đang dần phủ kín nhiều diện tích đất từng chỉ quen với cây ngô. Xen giữa những triền đá xám là những vườn hạt dẻ đang bén rễ, những luống dược liệu bắt đầu sinh trưởng, mở ra kỳ vọng về một hướng đi mới cho nông nghiệp nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc.

'Thắp sáng' bản Ca Dong bằng lời Bác dạy

'Thắp sáng' bản Ca Dong bằng lời Bác dạy

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhiều cá nhân đã âm thầm cống hiến, lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc trong cộng đồng. Tại xã vùng cao Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, cựu chiến binh Nguyễn Quang Thế (thường được đồng bào mến thương gọi bằng cái tên “anh Thế 76”) là một tấm gương sáng như thế. Hơn 15 năm qua, anh đã kiên trì hành trình kết nối yêu thương, đồng hành cùng đồng bào Ca Dong vượt qua gian khó, ổn định cuộc sống.

Người có uy tín góp sức đổi thay vùng đồng bào Khmer

Người có uy tín góp sức đổi thay vùng đồng bào Khmer

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc Khmer tại Vĩnh Long đang ngày càng khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt ở cơ sở.

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Giữa núi rừng biên viễn Tây Bắc, có một người phụ nữ lặng lẽ dành gần cả cuộc đời để giữ lại tiếng nói, câu hát và ký ức của dân tộc mình. Đó là Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân (sinh năm 1951, người dân tộc Si La, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu).

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, có một người già làng đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con suốt nhiều năm qua. Ở tuổi gần 80, già làng Y Hơ Êban vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn bình yên, vun đắp cuộc sống no ấm cho buôn làng.

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

Ở buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, già làng Y Hơ Êban (sinh năm 1947) từ lâu đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con nơi đây. Với uy tín và trách nhiệm, già làng Y Hơ Êban lặng lẽ góp phần giữ gìn bình yên, mang lại cuộc sống ổn định, no ấm cho buôn làng.

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người Bí thư chi bộ, những năm qua, chị Đặng Thị Thu, Bí thư chi bộ thôn Chanh Yên, xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai luôn gương mẫu đi đầu, trách nhiệm, tận tụy trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, được nhân dân tin yêu.