Mảnh đất vùng biên Quảng Trực (Lâm Đồng) đang tiếp tục thay da đổi thịt và khoác lên mình một diện mạo mới. Thành quả này là nhờ sự ưu tiên nguồn lực của Trung ương và địa phương, sự chung sức, chung lòng của cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn xã; đặc biệt là vai trò nêu gương cũng như tấm lòng vì cộng đồng của các già làng, người có uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiến đất xây nhà văn hóa
Năm nay 71 tuổi, ông Điểu Sranh là một trong những người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng và là tấm gương tuổi cao, gương sáng điển hình của bon Bu Nung (xã Quảng Trực). Đây là vùng đất phên giậu của Tổ quốc. Ông Điểu Sranh chia sẻ mình sinh ra và lớn lên ở bon Bu Prăng 1, xã Quảng Trực, gần biên giới Campuchia. Sau khi lập gia đình, ông chuyển về bon Bu Nung và gắn bó với nơi này gần 50 năm nay.
Theo ông Điểu Sranh, đồng bào người M’Nông trong bon Bu Nung đều chăm chỉ làm ăn. Đời sống của bà con ngày càng được cải thiện. Bon Bu Nung nằm cách Quốc lộ 14C khoảng 500m, cách trung tâm xã Quảng Trực hơn 1km và cách trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng khoảng 250km. Địa phương có hệ thống giao thông, đường điện và cơ sở hạ tầng được đầu tư hoàn thiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của bà con.
Trước đây, đời sống đồng bào gặp nhiều khó khăn do điều kiện đi lại, cơ sở hạ tầng hạn chế, phong tục, tập quán canh tác của không phù hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị cao như cà phê, hồ tiêu… “Trồng cà phê, trồng tiêu cần có cán bộ khuyến nông hướng dẫn và Nhà nước hỗ trợ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Bà con vừa học vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Thêm nữa, hơn 10 năm nay, cây mắc ca được UBND xã Quảng Trực đưa vào trồng khá phổ biến. Cây này không phải chăm sóc nhiều nêu phù hợp với tập quán của bà con. Nhờ đó, thu nhập của người dân ngày càng ổn định để vươn lên thoát nghèo”, ông Điểu Sranh chia sẻ thêm.
Phát huy vai trò nêu gương và tinh thần vì cộng đồng, năm 2023, gia đình ông Điểu Sranh đã hiến tặng đất để Nhà nước xây dựng nhà văn hóa cộng đồng bon Bu Nung. Công trình được hoàn thành vào năm 2024. Nhà văn hóa Bon hoàn thành đã giúp bà con có thêm một không gian sinh hoạt văn hóa; đồng thời địa phương hoàn thành một tiêu chí quan trọng trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Theo ông Đoàn Minh Thuận, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Trực, ông Điểu Sranh là một tấm gương tuổi cao gương sáng của bon Bu Nung nói riêng, xã Quảng Trực nói chung. Tháng 9/2024, UBND xã Quảng Trực đã gửi thư cám ơn ông Điểu Sranh và gia đình về đóng góp thiết thực, kịp thời cho địa phương khi đã hiến tặng hơn 1.200m2 đất thổ cư và đất nông nghiệp xây dựng công trình nhà văn hóa Bon. Tháng 6/2024, Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông (cũ, nay là tỉnh Lâm Đồng) đã tặng bằng khen cho gia đình ông Điểu Sranh do có những thành tích xuất sắc trong công tác và các hoạt động vì cộng đồng.
Gần 20 năm giữ rừng nơi phên dậu tổ quốc
Ông Điểu Ká (trú Bon Bu Prăng 1A, xã Quảng Trực) cũng là người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng. Ông vừa gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, vừa đi đầu trong tuyên truyền, vận động bà con với quan điểm xuyên suốt: Nhà nước làm là cho mình, tốt cho nhà mình, Bon mình.
Ông Điểu Ká (61 tuổi) đã có gần 20 năm nhận giao khoán quản lý bảo vệ rừng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Vành đai biên giới (tỉnh Lâm Đồng). Tổ của ông được giao khoán hơn 110ha rừng phòng hộ. Đây là khu vực biên giới với địa hình đồi dốc, hiểm trở, đi lại rất khó khăn. “Nhiều năm nay, tổ của tôi chia làm nhiều nhóm và thay nhau đi tuần tra, phối hợp với chủ rừng thực hiện quản lý, bảo vệ, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng. Vào mùa khô, tổ thực hiện thêm các nhiệm vụ liên quan đến phòng cháy, chữa cháy rừng và quản lý người ra, vào rừng, sử dụng lửa trong rừng…”, ông Điểu Ká tâm sự.
Khu vực tổ nhận giao khoán quản lý được quy hoạch là rừng phòng hộ và có vai trò quan trọng trong gìn giữ nguồn nước, phòng, chống thiên tai, sạt lở đất cũng như ý nghĩa lớn về quốc phòng - an ninh tại khu vực biên giới. Gia đình ông Điểu Ká và hầu hết các hộ nhận khoán trong tổ đều sinh ra, lớn lên và nhiều đời gắn bó với mảnh đất nơi phên giậu Tổ quốc này.
Ông Điểu Ká cho biết, nhờ đó mà cả tổ đều thông thạo đường đi lối lại. Để đi hết ranh giới khu vực được giao quản lý có khi phải đi bộ cả buổi. Anh em đi xuyên rừng, ở lại đêm trong rừng để phối hợp quản lý, bảo vệ rừng. Công việc này vừa gần gũi, vừa gắn bó với văn hóa sống hài hóa, dựa vào rừng của bà con người M’Nông vừa mang lại thu nhập ổn định mỗi năm (khoảng 7 - 8 triệu đồng/hộ). Công việc giúp bà con có thêm rau rừng, quả rừng, măng rừng để cải thiện bữa ăn...
Theo ông Đỗ Thành Tâm, Phó Ban Quản lý Rừng phòng hộ Vành đai biên giới, tổ quản lý, bảo vệ rừng do ông Điểu Ká làm tổ trưởng đã gắn bó với công tác giao khoán, quản lý bảo vệ rừng của đơn vị từ năm 2007 (trước năm 2025 là Ban Quản lý rừng phòng hộ Thác Mơ). Đây cũng là tổ có thành tích ấn tượng khi từ trước tới nay chưa để xảy ra vụ phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất rừng, cháy rừng trong khu vực được giao quản lý, bảo vệ. “Bản thân ông Điểu Ká rất thông thạo địa hình và gương mẫu, trách nhiệm trong bảo vệ rừng và đã trở thành hạt nhân của cả tổ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đơn vị chủ rừng rất yên tâm khi giao rừng và phối hợp quản lý, bảo vệ rừng với bà con”.
Hạ tầng giao thông, thủy lợi tại hầu hết các thôn (bon) của xã Quảng Trực được đầu tư hoàn thiện để bà con phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.
Bon Bu Prăng 1A hiện có hơn 150 hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu; đa số là người M’Nông. Hệ thống hạ tầng giao thông, điện, đường, trường, trạm, nhà văn hóa… tại Bu Prăng 1A đều được Nhà nước đầu tư xây dựng khang trang, đáp ứng các nhu cầu của người dân. Ông Điểu Ká cho biết có, nhiều hạng mục, dự án hạ tầng trong bon có sự đóng góp của bà con, từ ngày công lao động cho đến việc hiến đất, hiến cây cối, tường rào… “Con đường trước nhà mình được Nhà nước mở rộng từ năm 2020. Đường đi qua đất nhà ai thì nhà đó đều đồng lòng hiến đất, dỡ bỏ hàng rào, cây cối… để hỗ trợ. Tôi vận động, giải thích và bà con hiểu, đồng lòng, ủng hộ chủ trương chung”.
Theo ông Điểu Ká, quan điểm xuyên suốt trong qua trình vận động bà con là phải giải thích cho họ hiểu sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của ngành chức năng, chính quyền địa phương. Từ đó, bà con có các điều kiện thuận lợi nhất để làm ăn kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Quảng Trực là một trong năm xã biên giới đất liền của tỉnh Lâm Đồng, có diện tích rộng (gần 56.000ha) với gần 3.200 hộ dân, trong đó có hơn 45% là hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Theo quyết định phê duyệt quy hoạch chung xã Quảng Trực được UBND tỉnh Lâm Đồng ban hành vào cuối tháng 6/2026, xã là đơn vị hành chính đặc thù mang tầm chiến lược và được xác định là trung tâm giao thương trên hành lang kinh tế Đông - Tây tỉnh Lâm Đồng./.
Tên tự gọi: Mnông.
Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...
Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.
Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.
Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.
Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.
Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.
Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.
Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.
Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.
Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.
Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.
Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.
Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.
Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.
Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.
Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.
Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.
Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...
Theo cema.gov.vn