Vốn chính sách 'đánh thức' cà phê xứ lạnh và du lịch Măng Đen

Khu Du lịch sinh thái Măng Đen được quy hoạch là một trong hai vùng phát triển du lịch chủ lực của tỉnh Quảng Ngãi. Không chỉ được biết đến với khí hậu mát mẻ quanh năm, cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, Măng Đen còn là “cái nôi” của thương hiệu Cà phê xứ lạnh Măng Đen; là nơi tạo ra dấu ấn du lịch riêng có bằng hình thức lưu trú, nghỉ dưỡng homestay.

Nhờ nguồn vốn vay chính sách xã hội, chị Y The tại thôn Kon Chênh (xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi) đã phát triển gần 2 ha cà phê xứ lạnh. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Nhờ nguồn vốn vay chính sách xã hội, chị Y The tại thôn Kon Chênh (xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi) đã phát triển gần 2 ha cà phê xứ lạnh. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Trong quá trình xây dựng và phát triển các thương hiệu riêng, mang tính đặc trưng của Măng Đen, có sự đóng góp không nhỏ của nguồn vốn tín dụng chính sách. Nhờ nguồn vốn này, bà con đã có điều kiện mở rộng diện tích cà phê xứ lạnh, hoàn thiện các mô hình homestay để phục vụ nhu cầu của du khách, người tiêu dùng.

Từ “Cà phê xứ lạnh Măng Đen”

Theo thống kê của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông, đến hết tháng 9/2025, đơn vị đã cho vay phát triển cà phê xứ lạnh với tổng dư nợ gần 27 tỷ đồng, với 378 hộ vay, tổng diện tích trồng khoảng 193 ha. Nguồn vốn giúp bà con có điều kiện mở rộng diện tích, đầu tư phân bón, giống cây, cải tạo vườn tạp. Nhiều hộ đã hình thành vùng sản xuất cà phê tập trung, sản phẩm có chất lượng tốt, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị và thị trường, thu nhập bình quân từ cà phê xứ lạnh tăng từ 50 - 60% so với trước khi vay vốn.

Ông Đỗ Phú Cường, Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông cho biết, trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền địa phương luôn xác định phát triển cà phê xứ lạnh là một trong những hướng đi tiềm năng, phù hợp với điều kiện khí hậu và địa hình của địa phương, góp phần tạo việc làm, ổn định đời sống, tăng thu nhập cho người dân.

“Nguồn vốn tín dụng chính sách không chỉ giúp người dân đầu tư phát triển sản xuất, mà còn tạo động lực thay đổi tư duy sản xuất, góp phần quan trọng vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng thương hiệu địa phương. Đặc biệt tại Măng Đen, đây là yếu tố then chốt giúp đưa cây cà phê xứ lạnh trở thành cây trồng chủ lực, gắn với chiến lược phát triển kinh tế nông thôn mới”, ông Đỗ Phú Cường cho biết thêm.

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông thăm hỏi, hỗ trợ người dân trong phát triển diện tích cà phê. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông thăm hỏi, hỗ trợ người dân trong phát triển diện tích cà phê. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Chị Y The, trú thôn Kon Chênh, xã Măng Đen cho biết, năm 2011, hoàn cảnh kinh tế của gia đình chị rất khó khăn, thu nhập bấp bênh từ việc đi làm thuê và trồng lúa, trồng sắn. Nhận thấy tiềm năng từ cây cà phê xứ lạnh Arabica, chị mạnh dạn làm thủ tục vay 30 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để trồng 2.000 cây cà phê. Tuy nhiên, do chưa nắm rõ kỹ thuật trồng, chăm sóc, nên thu nhập từ cà phê không cao, chỉ khoảng 60 triệu/năm.

Sau đó, được sự hướng dẫn của ngành nông nghiệp và cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội, chị Y The đã thay đổi phương thức canh tác và chăm sóc cà phê. Năm 2022, chị tiếp tục vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội để trồng mới 3.000 cây cà phê; đồng thời tái canh diện tích cà phê già cỗi. Đến nay, gần 2 ha cà phê của gia đình chị đã phát triển tốt hơn trước, chuẩn bị cho thu hoạch, được kỳ vọng mang đến nguồn thu ổn định, bền vững, với mức thu cao hơn khoảng 60%.

Đến dịch vụ lưu trú homestay

Nhờ khoản vay 170 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình chị Y Tuấn đã hoàn thiện được homestay khang trang, đón khoảng 1.000 khách mỗi năm, cho thu nhập khoảng 400 triệu đồng. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Nhờ khoản vay 170 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình chị Y Tuấn đã hoàn thiện được homestay khang trang, đón khoảng 1.000 khách mỗi năm, cho thu nhập khoảng 400 triệu đồng. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Dịch vụ lưu trú homestay là hình thức du lịch không mới, nhưng đòi hỏi nguồn vốn lớn, cũng như việc cung ứng các dịch vụ đi kèm phải phù hợp với xu thế và thị hiếu, nhu cầu của du khách. Tại Măng Đen, dịch vụ homestay phần lớn được gắn liền với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ như Mơ Nâm, Ca Dong (là các nhánh của dân tộc Xơ Đăng). Tuy nhiên, bà con thường gặp khó khăn về mặt tài chính; đồng thời, còn thiếu kỹ năng về phục vụ ẩm thực hay các hoạt động trải nghiệm theo nhu cầu của du khách.

Để có được nguồn tài chính hoàn thiện các dự án homestay, nhiều bà con trên địa bàn xã Măng Đen đã tìm đến nguồn vốn tín dụng chính sách. Chị Y Tuấn (trú thôn Kon Chênh, xã Măng Đen) là một điển hình. Nhận thấy trung tâm xã Măng Đen thường xuyên xảy ra tình trạng không còn chỗ trống trong các cơ sở lưu trú; đồng thời, từ trung tâm xã đến làng Kon Chênh chỉ khoảng 5km, vợ chồng chị đã có ý tưởng phát triển dịch vụ lưu trú homestay.

Đầu năm 2024, vợ chồng chị Tuấn đến Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông để làm thủ tục, vay 170 triệu đồng theo gói vay giải quyết việc làm. Cùng với nguồn vốn của gia đình, đến giữa năm 2024, chị Tuấn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng homestay với 7 phòng, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu lưu trú của hơn 50 khách. Bên cạnh lưu trú, chị cũng phát triển thêm dịch vụ ẩm thực với các món ăn truyền thống của dân tộc như gà nướng cơm lam, rau rừng,… để du khách trải nghiệm, thưởng thức.

“Từ khi đi vào hoạt động đến nay, lượng khách đến với homestay của gia đình tôi rất đông. Trung bình, một năm tôi đón khoảng 1.000 lượt khách, thu về hơn 400 triệu đồng. Hiện nay, gia đình tôi mong muốn tiếp tục được vay thêm vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để mở rộng mô hình homestay, nâng cao chất lượng phục vụ du khách cũng như nhân rộng mô hình đến với nhiều bà con trong thôn hơn”, chị Y Tuấn nói.

Theo ông Đỗ Phú Cường, hiện nay toàn xã Măng Đen có 26 hộ vay vốn chính sách xã hội để phát triển mô hình homestay, tổng dư nợ gần 2,6 tỷ đồng. Nguồn vốn giúp các hộ mạnh dạn đầu tư cơ sở lưu trú, cải thiện hạ tầng, xây dựng dịch vụ đón khách du lịch. Một số homestay bước đầu hoạt động hiệu quả, thu hút khách du lịch, tạo việc làm cho lao động tại chỗ, nhất là thanh niên. Đây là mô hình góp phần quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ, phát triển du lịch cộng đồng, gắn với nông nghiệp sạch.

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông hỗ trợ người dân vay vốn phát triển kinh tế. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông hỗ trợ người dân vay vốn phát triển kinh tế. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Ông Trương Văn Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Măng Đen đánh giá, nhờ nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội, diện tích cà phê xứ lạnh trên địa bàn xã tăng đều theo từng năm, góp phần chuyển đổi cây trồng hiệu quả, nâng cao nhận thức và kỹ thuật canh tác, tạo sinh kế bền vững cho bà con nhân dân, nhất là bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó đến nay, tổng diện tích cà phê xứ lạnh của xã đạt 680,4 ha; trong đó trồng mới năm 2025 gần 186 ha.

Nhờ vào việc phát triển vùng nguyên liệu rộng lớn, hiện nay trên địa bàn xã cũng đã có nhiều đơn vị, doanh nghiệp trực tiếp thu mua cà phê xứ lạnh Arabica để chế biến sâu, tạo ra thành phẩm cà phê được người tiêu dùng ưa chuộng, đưa thương hiệu “Cà phê xứ lạnh Măng Đen” đến với người dân trên khắp cả nước. Điển hình trong đó như thương hiệu Café de Măng Đen, T' Măng Deeng, Rẩy Rừng Coffee,…

Trong khi đó, hình thức du lịch homestay đang được bà con nhân dân trên địa bàn xã tích cực triển khai; là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển du lịch của Măng Đen. Nhờ vào việc vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có thêm nguồn tài chính để hoàn thiện homestay, tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng của vùng đất “ba hồ, bảy thác” Măng Đen.

“Cùng với sự hỗ trợ của các cấp, nguồn vốn chính sách đã giúp hình thành vùng nguyên liệu tập trung, là nền tảng cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu “Cà phê xứ lạnh Măng Đen”. Một số mô hình đã kết hợp trồng cà phê với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, homestay, tạo giá trị gia tăng và lan tỏa lợi ích kinh tế trong cộng đồng; phát huy bản sắc văn hóa của bà con dân tộc thiểu số tại chỗ. Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định, bền vững cho người dân, đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, hiện thực hóa mục tiêu tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3,5% vào cuối năm 2025”, ông Trương Văn Minh nhấn mạnh./.

Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Ngăn chặn thực phẩm 'bẩn' ngay từ khu vực biên giới

Ngăn chặn thực phẩm 'bẩn' ngay từ khu vực biên giới

Trước tình trạng vận chuyển, kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ diễn biến phức tạp tại khu vực biên giới, các lực lượng chức năng tỉnh Quảng Ninh đã tăng cường kiểm tra và triệt phá nhiều điểm tập kết, vận chuyển thực phẩm lậu với quy mô lớn. Đây là hành động thiết thực, góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân và du khách đến Quảng Ninh, nhất là vào mùa du lịch hè cao điểm như hiện nay.

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Nhằm giúp người dân chủ động chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm bệnh tật và giảm chi phí điều trị, ngành Y tế tỉnh Điện Biên vừa đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí tại 11 đơn vị y tế trên địa bàn.

Luân phiên bác sĩ về trạm y tế cấp xã ở Gia Lai

Luân phiên bác sĩ về trạm y tế cấp xã ở Gia Lai

Nhằm tăng cường năng lực cho tuyến y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Kế hoạch luân phiên bác sĩ về làm việc có thời hạn tại các trạm y tế cấp xã giai đoạn 2026-2030.

Xây dựng trường nội trú liên cấp ở biên giới trở thành mô hình giáo dục đặc biệt

Xây dựng trường nội trú liên cấp ở biên giới trở thành mô hình giáo dục đặc biệt

Chiều 5/6, làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về công tác phát triển giáo dục và tiến độ xây dựng hệ thống trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đánh giá cao sự chủ động, quyết liệt của tỉnh trong triển khai chủ trương xây dựng hệ thống trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới và kết quả phát triển giáo dục, đào tạo.

Kiểm soát chặt khu vực biên giới, chống vượt biên trái phép

Kiểm soát chặt khu vực biên giới, chống vượt biên trái phép

Cùng với sự phát triển của hoạt động giao thương, du lịch và hợp tác quốc tế, hoạt động xuất, nhập cảnh qua các cửa khẩu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn những năm gần đây ngày càng trở nên sôi động. Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động hợp pháp thì tình trạng xuất, nhập cảnh trái phép vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh trật tự khu vực biên giới, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh các loại tội phạm xuyên quốc gia và nguy cơ lây lan dịch bệnh. Trước thực tế đó, lực lượng Bộ đội Biên phòng trên tuyến biên giới Lạng Sơn triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm.

Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

Hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số

HĐND tỉnh Gia Lai khóa XIII ngày 29/5 đã thông qua Nghị quyết quy định chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn tỉnh nhằm tạo điều kiện cho người dân ổn định nơi ở, phát triển sản xuất, từng bước nâng cao đời sống; góp phần giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài cuối: Khát vọng trung tâm vùng

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài cuối: Khát vọng trung tâm vùng

Trong lịch sử phát triển của nhiều vùng kinh tế, luôn có những đô thị giữ vai trò hạt nhân kết nối. Đó không nhất thiết là nơi đông dân nhất hay có tốc độ tăng trưởng cao nhất, mà là nơi có khả năng tập hợp nguồn lực, thu hút đầu tư, dẫn dắt đổi mới và tạo sức lan tỏa đối với không gian xung quanh.

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài 1: Mở lối hành lang tăng trưởng mới

Tái định hình vị thế trung tâm Tây Nguyên - Bài 1: Mở lối hành lang tăng trưởng mới

Tây Nguyên đang đứng trước một giai đoạn chuyển động mới khi cấu trúc phát triển vùng dần thay đổi dưới tác động của các hành lang kinh tế, mạng lưới đô thị và những động lực tăng trưởng mới. Câu chuyện không còn dừng ở mở rộng hạ tầng hay phát triển từng địa phương riêng lẻ, mà đang hướng tới tổ chức lại không gian phát triển trên quy mô lớn hơn. Trong bối cảnh ấy, Đắk Lắk và đô thị Buôn Ma Thuột đứng trước cơ hội xác lập vai trò trung tâm kết nối, dẫn dắt những dòng chảy mới về sản xuất, dịch vụ và liên kết vùng của Tây Nguyên trong tương lai.

Nghĩa tình chiến sỹ biên phòng xây trường nơi vùng biên

Nghĩa tình chiến sỹ biên phòng xây trường nơi vùng biên

Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của UBND tỉnh Gia Lai về xây dựng hệ thống Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới, những ngày này, trên công trường xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã Ia Púch, không khí lao động đang diễn ra khẩn trương.

Đắk Lắk bảo tồn và phát huy tiềm năng du lịch vườn trà cổ trên đỉnh núi

Đắk Lắk bảo tồn và phát huy tiềm năng du lịch vườn trà cổ trên đỉnh núi

Sau khi khảo sát, phát hiện vườn trà cổ gần 100 năm tuổi trên núi Hòn Chảo (thôn Mỹ Thành, xã Hòa Mỹ, tỉnh Đắk Lắk), lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đã lên phương án bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên nơi đây, đồng thời phát triển và khai thác tiềm năng du lịch, tạo sinh kế cho người dân.

Nghệ An đẩy nhanh quy hoạch 5 xã vùng cao, biên giới sau sắp xếp đơn vị hành chính

Nghệ An đẩy nhanh quy hoạch 5 xã vùng cao, biên giới sau sắp xếp đơn vị hành chính

Ngày 26/5, làm việc với 5 xã vùng cao, biên giới gồm Quế Phong, Thông Thụ, Tri Lễ, Mường Quàng và Tiền Phong, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An Võ Trọng Hải yêu cầu các địa phương khẩn trương rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa nền tảng đối với định hướng phát triển lâu dài sau sắp xếp đơn vị hành chính.

Tuyên Quang chủ động, giữ ổn định cơ sở khi sắp xếp thôn, tổ dân phố

Tuyên Quang chủ động, giữ ổn định cơ sở khi sắp xếp thôn, tổ dân phố

Tuyên Quang đang khẩn trương triển khai việc sắp xếp thôn, tổ dân phố gắn với mô hình chính quyền địa phương hai cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý ở cơ sở, đồng thời bảo đảm ổn định đời sống nhân dân, giữ vững khối đoàn kết cộng đồng và thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách.

Trải nghiệm thu hoạch cam tại vườn của Hợp tác xã Du lịch cộng đồng ATK Phú Đình.

Thái Nguyên tập trung nguồn lực cho các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn mới

Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Thái Nguyên phấn đấu xây dựng nông thôn hiện đại, xanh, thông minh, phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, giảm nghèo đa chiều, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Sơn La định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận

Sơn La định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận

Ngày 22/5, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La phối hợp với UBND xã Yên Sơn tổ chức hội thảo chuyên đề “Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận xã Yên Sơn năm 2026”.

Chuyển đổi số vùng biên mở ra cơ hội phát triển mới

Chuyển đổi số vùng biên mở ra cơ hội phát triển mới

Tại các xã biên giới của tỉnh Lạng Sơn, hình ảnh cán bộ biên phòng, đoàn viên thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng hướng dẫn người dân cài đặt các ứng dụng dịch vụ công, thanh toán không dùng tiền mặt hay sử dụng điện thoại thông minh để trao đổi hàng hóa đã trở nên quen thuộc. Khắp những thôn xóm heo hút chạy dọc đường tuần tra biên giới, chuyển đổi số đang ngấm sâu vào đời sống người dân, mở ra nhiều thay đổi tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh biên giới và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nhiều mô hình 'Xã, phường không ma túy' đạt kết quả tích cực

Nhiều mô hình 'Xã, phường không ma túy' đạt kết quả tích cực

Sau hơn 2 tháng triển khai, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng “Xã, phường không ma túy” trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Tại nhiều điểm trường vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, nơi học sinh từng phải mang theo gạo, rau từ nhà đến lớp, Nghị định 66 của Chính phủ đang từng bước mang đến những đổi thay tích cực cho giáo dục miền núi.

Tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm trên tuyến biên giới

Tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm trên tuyến biên giới

Trong ngày 19-20/5, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiện, Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng dẫn đầu đoàn công tác đã kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác trinh sát, phòng, chống ma túy và tội phạm, công tác cửa khẩu năm 2025 và 4 tháng của năm 2026 tại Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế La Lay.

Tiếp thêm động lực cho nông dân vùng biên phát triển kinh tế

Tiếp thêm động lực cho nông dân vùng biên phát triển kinh tế

Ngày 17/5, tại xã Phước Vinh, Tây Ninh, báo Tuổi Trẻ, Công ty cổ phần GREENFEED Việt Nam phối hợp cùng Hội Nông dân và Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức lễ trao vốn Chương trình “Tiếp sức nhà nông” cho 40 hộ nông dân có hoàn cảnh khó khăn, có con em vượt khó học giỏi.