Vốn chính sách 'đánh thức' cà phê xứ lạnh và du lịch Măng Đen

Khu Du lịch sinh thái Măng Đen được quy hoạch là một trong hai vùng phát triển du lịch chủ lực của tỉnh Quảng Ngãi. Không chỉ được biết đến với khí hậu mát mẻ quanh năm, cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ, Măng Đen còn là “cái nôi” của thương hiệu Cà phê xứ lạnh Măng Đen; là nơi tạo ra dấu ấn du lịch riêng có bằng hình thức lưu trú, nghỉ dưỡng homestay.

Nhờ nguồn vốn vay chính sách xã hội, chị Y The tại thôn Kon Chênh (xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi) đã phát triển gần 2 ha cà phê xứ lạnh. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Nhờ nguồn vốn vay chính sách xã hội, chị Y The tại thôn Kon Chênh (xã Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi) đã phát triển gần 2 ha cà phê xứ lạnh. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Trong quá trình xây dựng và phát triển các thương hiệu riêng, mang tính đặc trưng của Măng Đen, có sự đóng góp không nhỏ của nguồn vốn tín dụng chính sách. Nhờ nguồn vốn này, bà con đã có điều kiện mở rộng diện tích cà phê xứ lạnh, hoàn thiện các mô hình homestay để phục vụ nhu cầu của du khách, người tiêu dùng.

Từ “Cà phê xứ lạnh Măng Đen”

Theo thống kê của Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông, đến hết tháng 9/2025, đơn vị đã cho vay phát triển cà phê xứ lạnh với tổng dư nợ gần 27 tỷ đồng, với 378 hộ vay, tổng diện tích trồng khoảng 193 ha. Nguồn vốn giúp bà con có điều kiện mở rộng diện tích, đầu tư phân bón, giống cây, cải tạo vườn tạp. Nhiều hộ đã hình thành vùng sản xuất cà phê tập trung, sản phẩm có chất lượng tốt, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị và thị trường, thu nhập bình quân từ cà phê xứ lạnh tăng từ 50 - 60% so với trước khi vay vốn.

Ông Đỗ Phú Cường, Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông cho biết, trong những năm qua, cấp ủy, chính quyền địa phương luôn xác định phát triển cà phê xứ lạnh là một trong những hướng đi tiềm năng, phù hợp với điều kiện khí hậu và địa hình của địa phương, góp phần tạo việc làm, ổn định đời sống, tăng thu nhập cho người dân.

“Nguồn vốn tín dụng chính sách không chỉ giúp người dân đầu tư phát triển sản xuất, mà còn tạo động lực thay đổi tư duy sản xuất, góp phần quan trọng vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển nông nghiệp bền vững và xây dựng thương hiệu địa phương. Đặc biệt tại Măng Đen, đây là yếu tố then chốt giúp đưa cây cà phê xứ lạnh trở thành cây trồng chủ lực, gắn với chiến lược phát triển kinh tế nông thôn mới”, ông Đỗ Phú Cường cho biết thêm.

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông thăm hỏi, hỗ trợ người dân trong phát triển diện tích cà phê. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông thăm hỏi, hỗ trợ người dân trong phát triển diện tích cà phê. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Chị Y The, trú thôn Kon Chênh, xã Măng Đen cho biết, năm 2011, hoàn cảnh kinh tế của gia đình chị rất khó khăn, thu nhập bấp bênh từ việc đi làm thuê và trồng lúa, trồng sắn. Nhận thấy tiềm năng từ cây cà phê xứ lạnh Arabica, chị mạnh dạn làm thủ tục vay 30 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để trồng 2.000 cây cà phê. Tuy nhiên, do chưa nắm rõ kỹ thuật trồng, chăm sóc, nên thu nhập từ cà phê không cao, chỉ khoảng 60 triệu/năm.

Sau đó, được sự hướng dẫn của ngành nông nghiệp và cán bộ Ngân hàng Chính sách xã hội, chị Y The đã thay đổi phương thức canh tác và chăm sóc cà phê. Năm 2022, chị tiếp tục vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội để trồng mới 3.000 cây cà phê; đồng thời tái canh diện tích cà phê già cỗi. Đến nay, gần 2 ha cà phê của gia đình chị đã phát triển tốt hơn trước, chuẩn bị cho thu hoạch, được kỳ vọng mang đến nguồn thu ổn định, bền vững, với mức thu cao hơn khoảng 60%.

Đến dịch vụ lưu trú homestay

Nhờ khoản vay 170 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình chị Y Tuấn đã hoàn thiện được homestay khang trang, đón khoảng 1.000 khách mỗi năm, cho thu nhập khoảng 400 triệu đồng. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Nhờ khoản vay 170 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình chị Y Tuấn đã hoàn thiện được homestay khang trang, đón khoảng 1.000 khách mỗi năm, cho thu nhập khoảng 400 triệu đồng. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Dịch vụ lưu trú homestay là hình thức du lịch không mới, nhưng đòi hỏi nguồn vốn lớn, cũng như việc cung ứng các dịch vụ đi kèm phải phù hợp với xu thế và thị hiếu, nhu cầu của du khách. Tại Măng Đen, dịch vụ homestay phần lớn được gắn liền với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ như Mơ Nâm, Ca Dong (là các nhánh của dân tộc Xơ Đăng). Tuy nhiên, bà con thường gặp khó khăn về mặt tài chính; đồng thời, còn thiếu kỹ năng về phục vụ ẩm thực hay các hoạt động trải nghiệm theo nhu cầu của du khách.

Để có được nguồn tài chính hoàn thiện các dự án homestay, nhiều bà con trên địa bàn xã Măng Đen đã tìm đến nguồn vốn tín dụng chính sách. Chị Y Tuấn (trú thôn Kon Chênh, xã Măng Đen) là một điển hình. Nhận thấy trung tâm xã Măng Đen thường xuyên xảy ra tình trạng không còn chỗ trống trong các cơ sở lưu trú; đồng thời, từ trung tâm xã đến làng Kon Chênh chỉ khoảng 5km, vợ chồng chị đã có ý tưởng phát triển dịch vụ lưu trú homestay.

Đầu năm 2024, vợ chồng chị Tuấn đến Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông để làm thủ tục, vay 170 triệu đồng theo gói vay giải quyết việc làm. Cùng với nguồn vốn của gia đình, đến giữa năm 2024, chị Tuấn đã hoàn thành và đưa vào sử dụng homestay với 7 phòng, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu lưu trú của hơn 50 khách. Bên cạnh lưu trú, chị cũng phát triển thêm dịch vụ ẩm thực với các món ăn truyền thống của dân tộc như gà nướng cơm lam, rau rừng,… để du khách trải nghiệm, thưởng thức.

“Từ khi đi vào hoạt động đến nay, lượng khách đến với homestay của gia đình tôi rất đông. Trung bình, một năm tôi đón khoảng 1.000 lượt khách, thu về hơn 400 triệu đồng. Hiện nay, gia đình tôi mong muốn tiếp tục được vay thêm vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội để mở rộng mô hình homestay, nâng cao chất lượng phục vụ du khách cũng như nhân rộng mô hình đến với nhiều bà con trong thôn hơn”, chị Y Tuấn nói.

Theo ông Đỗ Phú Cường, hiện nay toàn xã Măng Đen có 26 hộ vay vốn chính sách xã hội để phát triển mô hình homestay, tổng dư nợ gần 2,6 tỷ đồng. Nguồn vốn giúp các hộ mạnh dạn đầu tư cơ sở lưu trú, cải thiện hạ tầng, xây dựng dịch vụ đón khách du lịch. Một số homestay bước đầu hoạt động hiệu quả, thu hút khách du lịch, tạo việc làm cho lao động tại chỗ, nhất là thanh niên. Đây là mô hình góp phần quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số tại chỗ, phát triển du lịch cộng đồng, gắn với nông nghiệp sạch.

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông hỗ trợ người dân vay vốn phát triển kinh tế. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Cán bộ Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Kon Plông hỗ trợ người dân vay vốn phát triển kinh tế. Ảnh: Cao Nguyên/TTXVN

Ông Trương Văn Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Măng Đen đánh giá, nhờ nguồn vốn vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách xã hội, diện tích cà phê xứ lạnh trên địa bàn xã tăng đều theo từng năm, góp phần chuyển đổi cây trồng hiệu quả, nâng cao nhận thức và kỹ thuật canh tác, tạo sinh kế bền vững cho bà con nhân dân, nhất là bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ đó đến nay, tổng diện tích cà phê xứ lạnh của xã đạt 680,4 ha; trong đó trồng mới năm 2025 gần 186 ha.

Nhờ vào việc phát triển vùng nguyên liệu rộng lớn, hiện nay trên địa bàn xã cũng đã có nhiều đơn vị, doanh nghiệp trực tiếp thu mua cà phê xứ lạnh Arabica để chế biến sâu, tạo ra thành phẩm cà phê được người tiêu dùng ưa chuộng, đưa thương hiệu “Cà phê xứ lạnh Măng Đen” đến với người dân trên khắp cả nước. Điển hình trong đó như thương hiệu Café de Măng Đen, T' Măng Deeng, Rẩy Rừng Coffee,…

Trong khi đó, hình thức du lịch homestay đang được bà con nhân dân trên địa bàn xã tích cực triển khai; là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển du lịch của Măng Đen. Nhờ vào việc vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội, bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có thêm nguồn tài chính để hoàn thiện homestay, tạo ra những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng của vùng đất “ba hồ, bảy thác” Măng Đen.

“Cùng với sự hỗ trợ của các cấp, nguồn vốn chính sách đã giúp hình thành vùng nguyên liệu tập trung, là nền tảng cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu “Cà phê xứ lạnh Măng Đen”. Một số mô hình đã kết hợp trồng cà phê với du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, homestay, tạo giá trị gia tăng và lan tỏa lợi ích kinh tế trong cộng đồng; phát huy bản sắc văn hóa của bà con dân tộc thiểu số tại chỗ. Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập, ổn định, bền vững cho người dân, đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, hiện thực hóa mục tiêu tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3,5% vào cuối năm 2025”, ông Trương Văn Minh nhấn mạnh./.

Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Quảng Trị phân bổ hơn 2.134 tỷ đồng cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia

Quảng Trị phân bổ hơn 2.134 tỷ đồng cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia

Tỉnh Quảng Trị vừa ban hành Quyết định phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch năm 2026 từ nguồn vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đưa Nghị quyết 57 vào từng công việc ở cơ sở

Đưa Nghị quyết 57 vào từng công việc ở cơ sở

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển.

Xác minh vụ cưa hạ nhiều cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã ở Gia Lai

Xác minh vụ cưa hạ nhiều cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã ở Gia Lai

Hàng chục cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã H'Bông cũ, nay là xã Ia Hrú đã bị cưa hạ tận gốc, điều này đặt ra “dấu hỏi’’ về công tác quản lý tài sản công sau sáp nhập tại một số địa phương ở Gia Lai. Đáng chú ý, đây là địa phương thứ ba tại Gia Lai xuất hiện phản ánh liên quan đến trách nhiệm quản lý tài sản công sau sáp nhập.

Quảng Ngãi: Sáp nhập thôn - Hòa nhập cùng phát triển

Quảng Ngãi: Sáp nhập thôn - Hòa nhập cùng phát triển

Sau sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố, tỉnh Quảng Ngãi hiện còn 1.098 thôn, tổ dân phố, giảm 612 đơn vị so với trước sắp xếp. Đáng chú ý, nhiều thôn ở phía Tây tỉnh Quảng Ngãi được sáp nhập từ các thôn cũ có nhiều dân tộc khác nhau, tạo nên thôn mới đa dạng hơn về thành phần dân tộc; đồng thời bà con hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.

Xây dựng ‘cột mốc lòng dân’ vững chãi nơi biên cương

Xây dựng ‘cột mốc lòng dân’ vững chãi nơi biên cương

Tây Ninh đang bước vào một cuộc chuyển mình lịch sử với lộ trình bứt phá toàn diện giai đoạn 2026-2030, trọng tâm là xây dựng nông thôn mới hiện đại và giảm nghèo đa chiều. Địa phương không chỉ đặt mục tiêu đưa 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới mà còn hướng tới một cột mốc mang tính nhân văn sâu sắc: Phấn đấu không còn hộ nghèo theo chuẩn Trung ương vào năm 2030. Tổng nguồn lực huy động dự kiến hơn 17.411 tỷ đồng được xem là "đòn bẩy" chiến lược để vùng đất biên cương nâng tầm vị thế, đảm bảo sự phát triển hài hòa và không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình đô thị hóa.

Tháo gỡ rào cản công nghệ, đưa chuyển đổi số ở vùng biên đi vào thực chất ​

Tháo gỡ rào cản công nghệ, đưa chuyển đổi số ở vùng biên đi vào thực chất ​

Ở xã biên giới Đăk Ơ (thành phố Đồng Nai), đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 40%, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã đang từng bước đổi mới để phục vụ người dân tốt hơn. Từ việc thành lập các tổ hỗ trợ tận thôn đến áp dụng nguyên tắc “6 rõ”, chính quyền địa phương nỗ lực công khai, minh bạch quy trình thủ tục hành chính.

Tăng tốc để những ngôi trường vùng biên kịp sáng đèn đón năm học mới

Tăng tốc để những ngôi trường vùng biên kịp sáng đèn đón năm học mới

Năm 2025, tỉnh Thanh Hóa đồng loạt khởi công 6 trường nội trú liên cấp với tổng mức đầu tư khoảng 739 tỷ đồng. Những công trình mang theo kỳ vọng mở rộng cơ hội học tập cho học sinh vùng biên, thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa miền núi và đồng bằng, đồng thời tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nơi phên giậu của Tổ quốc. Theo kế hoạch, 6 trường sẽ hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng trước năm học 2026-2027.

Bước chuyển mình từ chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố

Bước chuyển mình từ chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại thôn, bản theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhiều địa phương của tỉnh Sơn La gặp không ít khó khăn do địa bàn rộng, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn và sự khác biệt về phong tục, tập quán, văn hóa giữa các dân tộc. Song, với sự đồng thuận của người dân, chủ trương này đang được triển khai thuận lợi, mở ra không gian phát triển mới, kỳ vọng xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, phát triển bền vững.

Tăng tốc xây trường liên cấp vùng biên

Tăng tốc xây trường liên cấp vùng biên

Điện Biên đang khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm hoàn thành 9 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới trước năm học 2026-2027. Trước áp lực tiến độ tại một số công trình do thiếu nhân lực, ảnh hưởng của thời tiết và biến động giá vật liệu, tỉnh đã huy động cộng đồng doanh nghiệp chung tay hỗ trợ thi công.

Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa

Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa

Trước yêu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Gia Lai xác định ưu tiên nguồn lực đầu tư cho hệ thống y tế cơ sở tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn đặc biệt khó khăn, từng bước thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng.

Mua bán người - Hành trình trở về từ bóng tối

Mua bán người - Hành trình trở về từ bóng tối

Tội phạm mua bán người thời công nghệ số ẩn mình sau những tài khoản ảo trên mạng xã hội để dẫn dụ nạn nhân rơi vào bẫy hấp dẫn giăng sẵn. Và phía sau mỗi đường dây bị triệt phá là những nạn nhân từng chìm trong bóng tối và hành trình trở về quê hương luôn đầy gian nan.

Gia Lai: Nỗ lực sớm di dời người dân khỏi vùng thiên tai

Gia Lai: Nỗ lực sớm di dời người dân khỏi vùng thiên tai

Sau nhiều năm sống trong vùng thường xuyên ngập lụt, hơn 200 hộ dân thôn Bôn Jứ, xã Ia Tul, tỉnh Gia Lai vui mừng chuẩn bị chuyển đến khu tái định cư mới. Cùng với sự tham gia tích cực của lực lượng quân đội, doanh nghiệp và cộng đồng đang giúp xã Ia Tul tiến gần mục tiêu hoàn thành việc di dời người dân trước mùa mưa bão năm 2026.

Lâm Đồng: Lấy hạ tầng giao thông làm nền tảng phát triển

Lâm Đồng: Lấy hạ tầng giao thông làm nền tảng phát triển

Sau hợp nhất, tỉnh Lâm Đồng trở thành địa phương có diện tích lớn nhất cả nước, sở hữu không gian phát triển rộng lớn với nhiều tiềm năng về công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ và kinh tế biển. Trong bối cảnh đó, phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tăng cường liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững.

Đưa dịch vụ công số đến gần người dân

Đưa dịch vụ công số đến gần người dân

Ngày 27/7, tại phường Đông Kinh, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tổ chức triển khai Mô hình Trạm dịch vụ công số.

Ưu tiên ban hành nhiều chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Ưu tiên ban hành nhiều chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Lâm Đồng đã xem xét, thông qua nhiều nghị quyết quan trọng nhằm tạo thêm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại Kỳ họp thứ 5 (kỳ họp chuyên đề) Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031, diễn ra sáng 27/7. Đây được xem là bước cụ thể hóa các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân vùng dân tộc thiểu số, khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Kiểm tra tiến độ xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp tại Tuyên Quang

Kiểm tra tiến độ xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp tại Tuyên Quang

Chiều 26/7, trong chương trình công tác tại tỉnh Tuyên Quang, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã đi kiểm tra tiến độ xây dựng Trường Phổ thông nội trú Tiểu học và Trung học cơ sở Minh Tân; yêu cầu các đơn vị đẩy nhanh tốc độ thi công, bảo đảm chất lượng công trình để kịp đưa vào sử dụng ngay từ đầu năm học 2026-2027.

Bất cập công trình đường gom dân sinh dự án cao tốc Bắc - Nam qua Đắk Lắk

Bất cập công trình đường gom dân sinh dự án cao tốc Bắc - Nam qua Đắk Lắk

Dự án thành phần đoạn Chí Thạnh - Vân Phong thuộc Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025 qua địa bàn tỉnh Đắk Lắk (viết tắt là Dự án cao tốc Chí Thạnh - Vân Phong) đang thực hiện các hạng mục công trình đường gom dân sinh phục vụ đi lại của người dân khu vực lân cận. Tuy nhiên, nhà thầu thi công thực hiện chậm tiến độ; một số đoạn công trình bị tháo dỡ hành lang an toàn, khiến gia súc tràn vào vô cùng nguy hiểm.

An Giang: Tết Quân - Dân năm 2027

An Giang: Tết Quân - Dân năm 2027

Từ trung tuần tháng 6/2026 đến 29/01/2027, Tết Quân - Dân năm 2027 của tỉnh An Giang được tổ chức tại xã Thạnh Lộc với chủ đề “Lực lượng vũ trang An Giang cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Thạnh Lộc tiếp tục chung sức xây dựng nông thôn mới”.

Chính sách mới tạo thêm động lực cho đội ngũ y tế cơ sở ở vùng cao

Chính sách mới tạo thêm động lực cho đội ngũ y tế cơ sở ở vùng cao

Từ ngày 15/7/2026, Nghị định số 192/2026/NĐ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực, quy định nhiều chính sách mới đối với đội ngũ y tế, trong đó tăng phụ cấp trực và mức hỗ trợ hằng tháng cho nhân viên y tế thôn, bản, tổ dân phố và cô đỡ thôn, bản. Tại Điện Biên, chính sách được kỳ vọng tạo thêm động lực để đội ngũ y tế cơ sở yên tâm công tác, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.

Cụ thể hóa thông điệp của Hội nghị Trung ương 3 bằng chuyển động thực chất từ cơ sở

Cụ thể hóa thông điệp của Hội nghị Trung ương 3 bằng chuyển động thực chất từ cơ sở

Tỉnh Tuyên Quang đang chuyển mạnh từ tư duy quản lý theo địa giới sang quản trị thống nhất không gian phát triển; gắn quy hoạch với phân cấp, dữ liệu và trách nhiệm thực thi. Đây là cơ sở để địa phương tháo gỡ những điểm nghẽn về đất đai, dự án, hạ tầng, thủ tục hành chính, đưa các nguồn lực đang phân tán thành động lực tăng trưởng mới.

Ba chuyển đổi cốt lõi ở tỉnh vùng miền núi, biên giới

Ba chuyển đổi cốt lõi ở tỉnh vùng miền núi, biên giới

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Cao Bằng Phan Thăng An khẳng định: Chuyển đổi số trước hết không chỉ là công nghệ, mà là câu chuyện của tư duy lãnh đạo và phương thức tổ chức thực hiện. Khâu đột phá quan trọng nhất chính là chuyển đổi từ tư duy quản lý truyền thống sang tư duy quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu. Cao Bằng tập trung vào ba chuyển đổi cốt lõi: nhận thức của đội ngũ cán bộ, phương thức điều hành của cơ quan nhà nước và cách tiếp cận người dân, doanh nghiệp từ “quản lý” sang “phục vụ”.

Triển khai sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập

Triển khai sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục công lập

Chiều 22/7, Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai Kế hoạch số 277/KH-UBND ngày 20/7/2026 về sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp và trường chuyên biệt công lập trên địa bàn tỉnh.

Xây dựng xã không ma túy ở vùng cao

Xây dựng xã không ma túy ở vùng cao

Thời gian qua, Công an xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai chủ động nhiều giải pháp trong phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy, xây dựng môi trường xã hội an toàn, văn minh.

Đưa pháp luật và ‘Bình dân học vụ số’ đến vùng biên Mường Khương

Đưa pháp luật và ‘Bình dân học vụ số’ đến vùng biên Mường Khương

Từ ngày 20-21/7, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai tổ chức chương trình tuyên truyền pháp luật và thông tin đối ngoại tại xã biên giới Mường Khương; thu hút đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia. Chương trình tuyên truyền góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, kỹ năng số và ý thức bảo vệ chủ quyền biên giới cho đồng bào các dân tộc.

Chung sức xây dựng đường tuần tra biên giới

Chung sức xây dựng đường tuần tra biên giới

Chiều 20/7, UBND xã Tùng Vài (tỉnh Tuyên Quang) phối hợp với Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Ban Nội chính Tỉnh ủy Tuyên Quang và các đơn vị tài trợ tổ chức khánh thành giai đoạn 1 tuyến đường tuần tra biên giới lên các cột mốc 307, 308, 309 tại thôn Thèn Ván.