Y Lim, người bảo tồn nghề nấu rượu cần dân tộc Xơ Đăng

Được biết đến như “đầu tàu” trong phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Kon Plông, những năm qua, Nghệ nhân ưu tú Y Lim (sinh năm 1970, trú Làng du lịch cộng đồng Kon Pring, thị trấn Măng Đen) đã dành nhiều tâm huyết để xây dựng và lan tỏa hình ảnh, văn hóa, nghệ thuật độc đáo của người Xơ Đăngđến với du khách trong và ngoài nước. Một trong những nét độc đáo của người Xơ Đăng đã được Nghệ nhân ưu tú Y Lim bảo tồn và phát huy là nghề nấu rượu cần – loại rượu đặc trưng của người dân tộc thiểu số tại chỗ khu vực Tây Nguyên.

Anh 1cp1.jpg
Nghệ nhân ưu tú Y Lim đang chuẩn bị những ghè rượu cần để giao cho khách

Sinh ra và lớn lên tại làng Kon Rốc, xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, nhưng Y Lim lại gắn cuộc sống của mình cũng như công tác bảo tồn các giá trị văn hóa của người dân tộc thiểu số Xơ Đăng tại Làng du lịch cộng đồng Kon Pring. Không chỉ xây dựng hình ảnh du lịch cho làng bằng dịch vụ lưu trú homestay đầu tiên, Y Lim còn cung cấp các sản phẩm văn hóa, ẩm thực đặc trưng của người Xơ Đăng cho du khách, trong đó có rượu cần.

Y Lim “bén duyên” với nghề nấu rượu cần từ năm 2004. Thời điểm đó, thấy những người nấu rượu trong làng nấu để sử dụng trong các hoạt động của làng, Y Lim cũng mày mò, học hỏi những người đi trước để nấu. Ban đầu, rượu nấu ra chưa ngon, Y Lim không bỏ cuộc mà tiếp tục nghiên cứu, đưa ra các phương pháp nấu sao cho vị rượu được ngon hơn.

“Đến năm 2018, mình bắt đầu nấu rượu để cung cấp cho du khách đến tham quan, trải nghiệm tại làng. Sau nhiều năm học tập thì rượu mình nấu ra cũng ngon, được nhiều người khen, nhưng do cách bảo quản rượu chưa tốt nên một số lần khách cũng chưa ưng ý. Sau này, tôi phơi nguyên liệu và nấu tại xã Ngọc Réo, rồi đưa lên Măng Đen ủ, nên rượu đã ngon hơn rất nhiều, được du khách và một số nhà hàng trên địa bàn thị trấn sử dụng thường xuyên”, Nghệ nhân ưu tú Y Lim kể.

Theo nghệ nhân Y Lim, đối với nấu rượu cần, quan trọng nhất là khâu nấu rượu. Người nấu phải biết cách nấu nóng nước, đến một nhiệt độ nhất định sẽ đổ gạo vào. Sau đó, phải đo lượng nước so với lượng gạo sao cho đảm bảo tỉ lệ, không quá thừa hoặc không quá thiếu. Khi trộn với mem, hỗn hợp nước và gạo phải ở một nhiệt độ vừa phải, không quá nóng cũng không quá nguội. Khi đó, sẽ tạo ra rượu có vị thơm ngon nhất.

Anh 2.JPG
Rượu cần Y Lim được dán mác sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng

Ngoài ra, một yếu tố khác không kém phần quan trọng là men lá. Lá phải được phơi dưới lửa, để khô vừa phải. Đến khi lá khô có thể cháy được, thì đem ra vò, trộn với cơm để tạo được vị thơm. Sau khi trộn đều các nguyên liệu, rượu sẽ được mang đi ủ trong thời gian từ 3 – 4 tháng.

“Mỗi tháng mình sẽ nấu khoảng 50 ghè rượu cần, mỗi ghè có dung tích từ 4 – 6 lít. Sau khi đủ thời gian ủ, mình sẽ bán cho du khách hoặc các nhà hàng với giá từ 350.000 đồng/ghè. Khi khách đến mua rượu, mình sẽ để cho mọi người thử rượu trước, nếu ngon mới lấy, chưa ngon thì sẽ ủ tiếp hoặc có phương pháp thay đổi để rượu ngon hơn”, Nghệ nhân ưu tú Y Lim nói.

Bên cạnh việc nấu rượu, Y Lim cũng tích cực truyền đạt cách nấu rượu cần của người Xơ Đăng cho thế hệ trẻ trong làng. Mỗi khi nấu, Y Lim thường gọi thanh niên trong làng lại, vừa nấu, vừa truyền dạy cho các em. Đến nay, đã có 4 – 5 thanh niên trong làng Kon Rốc, xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà biết cách nấu rượu cần.

“Rượu cần không chỉ là một loại thức uống, mà còn là nét văn hóa của người Xơ Đăng tại Kon Tum. Vì vậy, mình luôn nhận thức được vai trò và trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy nghề nấu rượu cần, luôn hỗ trợ, giúp đỡ những bạn trẻ trong làng để họ nấu rượu được ngon hơn. Khi rượu ngon sẽ được nhiều người biết đến, rượu cần của người Xơ Đăng sẽ không bị mai một, trở thành một nghề mưu sinh cho bà con”, Nghệ nhân ưu tú Y Lim tâm sự.

Ông Đặng Đình Toán, Trưởng phòng Văn hóa huyện Kon Plông cho biết, năm 2020, bà Y Lim được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú trong việc bảo tồn nét văn hóa cồng chiêng. Nghệ nhân ưu tú Y Lim rất nhanh nhạy trong việc phát triển kinh tế gắn với nghề nấu rượu cần truyền thống của người Xơ Đăng tại chỗ.

“Việc nấu rượu cần của Nghệ nhân ưu tú Y Lim đã góp phần mang lại sự phong phú về ẩm thực mang tính đặc trưng của người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đến du khách cũng như người dân khi đến với Làng du lịch cộng đồng Kon Pring nói riêng và Khu du lịch Măng Đen nói chung. Qua đó, quảng bá nét văn hóa, ẩm thực, bảo tồn và phát huy nghề nấu rượu cần của bà con dân tộc Xơ Đăng”, ông Đặng Đình Toán khẳng định.

Tháng 9/2024, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum đã vinh danh và khen thưởng Nghệ nhân ưu tú Y Lim vì đã có thành tích xuất sắc trong bảo tồn, phát huy giá trị nghề Làm rượu cần.

Dư Toán

(TTXVN)
Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Cứ mỗi dịp hè đến, những người lính mang quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Ia Púch, tỉnh Gia Lai, lại trở thành những người thầy bồi đắp kiến thức cho các học sinh nghèo vùng biên giới. Suốt 5 năm qua, lớp học đã trở thành địa chỉ thân thuộc của các em có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bận mưu sinh, ít có điều kiện kèm cặp việc học được củng cố kiến thức, duy trì thói quen học tập và vui chơi lành mạnh trong những ngày hè.

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Cùng với việc chủ động “4 tại chỗ” của các địa phương, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã ở tỉnh Lào Cai đang bám địa bàn, kịp thời phát hiện nguy cơ, triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân trong mùa mưa lũ, không để bị động, bất ngờ.

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Từ sự kiên trì, gần dân của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã sẵn sàng tháo dỡ công trình, nhường đất vì lợi ích chung. Những mét vuông đất được người dân tự nguyện hiến tặng không chỉ để mở rộng những con đường mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, trách nhiệm vì cộng đồng.

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Đến cuối tháng 7, việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo các thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã hoàn tất. Tại nhiều xã vùng núi phía Tây, bà con nhân dân trong các thôn đã tin tưởng, tín nhiệm bầu lên các trưởng thôn “GenZ”. Với sức trẻ, nhiệt huyết, cùng sự năng động, sáng tạo và thích nghi với thời đại công nghệ 4.0, những trưởng thôn “GenZ” được kỳ vọng mang đến "luồng sinh khí" mới, giúp các thôn vùng sâu, vùng xa ngày càng được khởi sắc, phát triển.

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Từng xông pha trong lửa đạn, cống hiến tuổi trẻ, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc, nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, nhiều thương binh, bệnh binh ở xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai lại tiếp tục nỗ lực trên “mặt trận” làm kinh tế, góp phần vào sự phát triển của địa phương.

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Giữa những dãy núi trùng điệp của xã Sơn Tây (Quảng Ngãi), nơi cuộc sống của đồng bào Ca Dong vẫn còn nhiều nhọc nhằn, có một ngôi nhà mới vừa được dựng lên trên khu đất an toàn sau thiên tai.

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Hơn ba thập kỷ gắn bó với công việc chung, ông Lỷ A Sy (sinh năm 1952, dân tộc Nùng), người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn Hòa Bình, xã Sông Lũy, tỉnh Lâm Đồng luôn là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Bằng tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu, ông đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động người dân chung sức xây dựng nông thôn mới và giữ gìn bình yên nơi xóm làng.

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Ở xã vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai, Bí thư chi bộ thôn Cung 11 (trước sáp nhập) Sùng A Mùa bằng sự nỗ lực quyết tâm cùng với nghị lực phi thường đã vượt qua cám dỗ và mặc cảm để đứng dậy sau vấp ngã rồi phấn đấu trở thành người có uy tín trong cộng đồng.

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Nhiều hộ dân ở xã Tân Lợi, thành phố Đồng Nai đang tự nguyện hiến hàng ha đất cùng những vườn cây đang cho thu hoạch để mở đường giao thông. Dù phải chấp nhận thiệt thòi trước mắt, người dân vẫn sẵn sàng chung sức vì lợi ích lâu dài của cộng đồng, góp phần đẩy nhanh tiến độ các công trình và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Ngày 1/7, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026, em Đặng Quỳnh Trang, học sinh lớp 12C3, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn, là gương mặt xuất sắc của tỉnh Điện Biên trên bảng vàng thủ khoa tổ hợp A00 cả nước với tổng điểm 29,5; trong đó đạt điểm tuyệt đối ở hai môn Toán 10, Hóa 10 và Vật lý 9,5 điểm.

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Tốt nghiệp chương trình cao đẳng ngành Dược tại Huế, cô gái trẻ người Bru - Vân Kiều Hồ Thị Thiết (sinh năm 2002) không chọn ở lại thành phố lập nghiệp như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Với tình yêu tha thiết dành cho quê hương, Thiết đã chọn trở về thôn Chênh Vênh, xã biên giới Hướng Phùng (tỉnh Quảng Trị), nơi mình sinh ra và lớn lên.

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Sinh ra ở một bản vùng cao còn nhiều khó khăn tại Tuyên Quang, Giàng Thị Pà chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ học đại học, càng không nghĩ sẽ tốt nghiệp cùng lúc hai bằng đại học. Thế nhưng từ những câu chuyện vượt khó của bố mẹ, cô gái người Mông đã từng bước chinh phục con đường tri thức và lựa chọn trở về cống hiến cho quê hương.

Người giữ tiếng kèn Saranai

Người giữ tiếng kèn Saranai

Ở làng Chăm Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng, có một người cao tuổi vẫn lặng lẽ dành trọn tâm huyết cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và vun đắp khối đoàn kết trong cộng đồng. Đó là già làng Thông Long, người có uy tín tiêu biểu của đồng bào Chăm, được bà con quý trọng bởi những đóng góp bền bỉ trong bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Bí thư chi bộ hết lòng vì nhân dân vùng cao

Bí thư chi bộ hết lòng vì nhân dân vùng cao

Những đổi thay ở thôn Xá Nhù, xã vùng cao đặc biệt khó khăn Tà Xi Láng (tỉnh Lào Cai), luôn có sự đóng góp của Bí thư Chi bộ Giàng A Dê - một người tâm huyết, sáng tạo và hết lòng vì nhân dân vùng cao.

Gieo những mùa vàng no ấm nơi biên cương của Tổ quốc

Gieo những mùa vàng no ấm nơi biên cương của Tổ quốc

Trên những cánh đồng lúa nước đang vào mùa thu hoạch ở xã biên giới Ia Mơ, tỉnh Gia Lai, tiếng máy gặt vang lên rộn ràng giữa sắc vàng trải dài khắp các thung lũng. Những bao lúa đầy ắp được người dân vận chuyển về nhà trong niềm vui được mùa. Ít ai biết rằng, phía sau những mùa vàng no ấm hôm nay là hành trình nhiều năm bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng trong việc giúp người dân thay đổi tập quán sản xuất, từng bước vươn lên thoát nghèo.

Bốn vị sư liệt sĩ Khmer và 'ngọn lửa đoàn kết' cháy mãi trong lòng dân tộc

Bốn vị sư liệt sĩ Khmer và 'ngọn lửa đoàn kết' cháy mãi trong lòng dân tộc

Cách đây 52 năm, tại tỉnh Rạch Giá (nay là tỉnh An Giang) có 4 vị sư Khmer: Danh Hom, Danh Tấp, Danh Hoi, Lâm Hùng cùng người dân địa phương tổ chức biểu tình đấu tranh đòi chính quyền Mỹ - Ngụy không được bắt chư tăng đi lính và bắn phá chùa chiền. Tinh thần đấu tranh cách mạng và sự hy sinh của 4 vị sư trở thành những ngọn lửa khơi dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết trong đồng bào Khmer nói riêng, người dân nói chung.

Đảng viên mở lối chuyển đổi sinh kế trên miền đá Lũng Cú

Đảng viên mở lối chuyển đổi sinh kế trên miền đá Lũng Cú

Những ngày đầu hè, trên các sườn núi đá tai mèo ở xã Lũng Cú, màu xanh của những ruộng gừng mới trồng đang dần phủ kín nhiều diện tích đất từng chỉ quen với cây ngô. Xen giữa những triền đá xám là những vườn hạt dẻ đang bén rễ, những luống dược liệu bắt đầu sinh trưởng, mở ra kỳ vọng về một hướng đi mới cho nông nghiệp nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc.

'Thắp sáng' bản Ca Dong bằng lời Bác dạy

'Thắp sáng' bản Ca Dong bằng lời Bác dạy

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhiều cá nhân đã âm thầm cống hiến, lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc trong cộng đồng. Tại xã vùng cao Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, cựu chiến binh Nguyễn Quang Thế (thường được đồng bào mến thương gọi bằng cái tên “anh Thế 76”) là một tấm gương sáng như thế. Hơn 15 năm qua, anh đã kiên trì hành trình kết nối yêu thương, đồng hành cùng đồng bào Ca Dong vượt qua gian khó, ổn định cuộc sống.

Người có uy tín góp sức đổi thay vùng đồng bào Khmer

Người có uy tín góp sức đổi thay vùng đồng bào Khmer

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, những người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc Khmer tại Vĩnh Long đang ngày càng khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt ở cơ sở.

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Giữa núi rừng biên viễn Tây Bắc, có một người phụ nữ lặng lẽ dành gần cả cuộc đời để giữ lại tiếng nói, câu hát và ký ức của dân tộc mình. Đó là Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân (sinh năm 1951, người dân tộc Si La, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu).

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, có một người già làng đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con suốt nhiều năm qua. Ở tuổi gần 80, già làng Y Hơ Êban vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn bình yên, vun đắp cuộc sống no ấm cho buôn làng.

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

Ở buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, già làng Y Hơ Êban (sinh năm 1947) từ lâu đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con nơi đây. Với uy tín và trách nhiệm, già làng Y Hơ Êban lặng lẽ góp phần giữ gìn bình yên, mang lại cuộc sống ổn định, no ấm cho buôn làng.

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người Bí thư chi bộ, những năm qua, chị Đặng Thị Thu, Bí thư chi bộ thôn Chanh Yên, xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai luôn gương mẫu đi đầu, trách nhiệm, tận tụy trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, được nhân dân tin yêu.