Y Lim, người bảo tồn nghề nấu rượu cần dân tộc Xơ Đăng

Được biết đến như “đầu tàu” trong phát triển du lịch cộng đồng tại huyện Kon Plông, những năm qua, Nghệ nhân ưu tú Y Lim (sinh năm 1970, trú Làng du lịch cộng đồng Kon Pring, thị trấn Măng Đen) đã dành nhiều tâm huyết để xây dựng và lan tỏa hình ảnh, văn hóa, nghệ thuật độc đáo của người Xơ Đăngđến với du khách trong và ngoài nước. Một trong những nét độc đáo của người Xơ Đăng đã được Nghệ nhân ưu tú Y Lim bảo tồn và phát huy là nghề nấu rượu cần – loại rượu đặc trưng của người dân tộc thiểu số tại chỗ khu vực Tây Nguyên.

Anh 1cp1.jpg
Nghệ nhân ưu tú Y Lim đang chuẩn bị những ghè rượu cần để giao cho khách

Sinh ra và lớn lên tại làng Kon Rốc, xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum, nhưng Y Lim lại gắn cuộc sống của mình cũng như công tác bảo tồn các giá trị văn hóa của người dân tộc thiểu số Xơ Đăng tại Làng du lịch cộng đồng Kon Pring. Không chỉ xây dựng hình ảnh du lịch cho làng bằng dịch vụ lưu trú homestay đầu tiên, Y Lim còn cung cấp các sản phẩm văn hóa, ẩm thực đặc trưng của người Xơ Đăng cho du khách, trong đó có rượu cần.

Y Lim “bén duyên” với nghề nấu rượu cần từ năm 2004. Thời điểm đó, thấy những người nấu rượu trong làng nấu để sử dụng trong các hoạt động của làng, Y Lim cũng mày mò, học hỏi những người đi trước để nấu. Ban đầu, rượu nấu ra chưa ngon, Y Lim không bỏ cuộc mà tiếp tục nghiên cứu, đưa ra các phương pháp nấu sao cho vị rượu được ngon hơn.

“Đến năm 2018, mình bắt đầu nấu rượu để cung cấp cho du khách đến tham quan, trải nghiệm tại làng. Sau nhiều năm học tập thì rượu mình nấu ra cũng ngon, được nhiều người khen, nhưng do cách bảo quản rượu chưa tốt nên một số lần khách cũng chưa ưng ý. Sau này, tôi phơi nguyên liệu và nấu tại xã Ngọc Réo, rồi đưa lên Măng Đen ủ, nên rượu đã ngon hơn rất nhiều, được du khách và một số nhà hàng trên địa bàn thị trấn sử dụng thường xuyên”, Nghệ nhân ưu tú Y Lim kể.

Theo nghệ nhân Y Lim, đối với nấu rượu cần, quan trọng nhất là khâu nấu rượu. Người nấu phải biết cách nấu nóng nước, đến một nhiệt độ nhất định sẽ đổ gạo vào. Sau đó, phải đo lượng nước so với lượng gạo sao cho đảm bảo tỉ lệ, không quá thừa hoặc không quá thiếu. Khi trộn với mem, hỗn hợp nước và gạo phải ở một nhiệt độ vừa phải, không quá nóng cũng không quá nguội. Khi đó, sẽ tạo ra rượu có vị thơm ngon nhất.

Anh 2.JPG
Rượu cần Y Lim được dán mác sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng

Ngoài ra, một yếu tố khác không kém phần quan trọng là men lá. Lá phải được phơi dưới lửa, để khô vừa phải. Đến khi lá khô có thể cháy được, thì đem ra vò, trộn với cơm để tạo được vị thơm. Sau khi trộn đều các nguyên liệu, rượu sẽ được mang đi ủ trong thời gian từ 3 – 4 tháng.

“Mỗi tháng mình sẽ nấu khoảng 50 ghè rượu cần, mỗi ghè có dung tích từ 4 – 6 lít. Sau khi đủ thời gian ủ, mình sẽ bán cho du khách hoặc các nhà hàng với giá từ 350.000 đồng/ghè. Khi khách đến mua rượu, mình sẽ để cho mọi người thử rượu trước, nếu ngon mới lấy, chưa ngon thì sẽ ủ tiếp hoặc có phương pháp thay đổi để rượu ngon hơn”, Nghệ nhân ưu tú Y Lim nói.

Bên cạnh việc nấu rượu, Y Lim cũng tích cực truyền đạt cách nấu rượu cần của người Xơ Đăng cho thế hệ trẻ trong làng. Mỗi khi nấu, Y Lim thường gọi thanh niên trong làng lại, vừa nấu, vừa truyền dạy cho các em. Đến nay, đã có 4 – 5 thanh niên trong làng Kon Rốc, xã Ngọc Réo, huyện Đăk Hà biết cách nấu rượu cần.

“Rượu cần không chỉ là một loại thức uống, mà còn là nét văn hóa của người Xơ Đăng tại Kon Tum. Vì vậy, mình luôn nhận thức được vai trò và trách nhiệm trong việc bảo tồn và phát huy nghề nấu rượu cần, luôn hỗ trợ, giúp đỡ những bạn trẻ trong làng để họ nấu rượu được ngon hơn. Khi rượu ngon sẽ được nhiều người biết đến, rượu cần của người Xơ Đăng sẽ không bị mai một, trở thành một nghề mưu sinh cho bà con”, Nghệ nhân ưu tú Y Lim tâm sự.

Ông Đặng Đình Toán, Trưởng phòng Văn hóa huyện Kon Plông cho biết, năm 2020, bà Y Lim được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú trong việc bảo tồn nét văn hóa cồng chiêng. Nghệ nhân ưu tú Y Lim rất nhanh nhạy trong việc phát triển kinh tế gắn với nghề nấu rượu cần truyền thống của người Xơ Đăng tại chỗ.

“Việc nấu rượu cần của Nghệ nhân ưu tú Y Lim đã góp phần mang lại sự phong phú về ẩm thực mang tính đặc trưng của người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ đến du khách cũng như người dân khi đến với Làng du lịch cộng đồng Kon Pring nói riêng và Khu du lịch Măng Đen nói chung. Qua đó, quảng bá nét văn hóa, ẩm thực, bảo tồn và phát huy nghề nấu rượu cần của bà con dân tộc Xơ Đăng”, ông Đặng Đình Toán khẳng định.

Tháng 9/2024, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum đã vinh danh và khen thưởng Nghệ nhân ưu tú Y Lim vì đã có thành tích xuất sắc trong bảo tồn, phát huy giá trị nghề Làm rượu cần.

Dư Toán

(TTXVN)
Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Từ những ngày đầu triển khai công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đội ngũ già làng, người có uy tín ở tỉnh Đồng Nai đã phát huy vai trò là "cầu nối" quan trọng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình thông qua lá phiếu cử tri. Không chỉ dừng lại ở việc vận động, già làng, người có uy tín tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào phẩm chất và năng lực của các ứng cử viên trong nhiệm kỳ bầu cử này.

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vượt qua những hủ tục lạc hậu và sự khắc nghiệt của thiên nhiên vùng biên viễn, vợ chồng bác sĩ người Mông Lầu Bá Hùa (cán bộ y tế Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh) và Hờ Y Chùa (Trung tâm Y tế Kỳ Sơn) đã viết nên một câu chuyện đầy cảm hứng về nghị lực và y đức. Không chọn phồn hoa đô hội, họ tình nguyện ở lại nơi gian khó nhất, coi sự sống của đồng bào là lẽ sống của chính mình, trở thành những "lá chắn" vững chãi bảo vệ sức khỏe nhân dân nơi cửa ngõ biên cương.

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Xuân mới về trên khắp buôn làng Tây Nguyên. Trong sắc mai vàng và âm vang cồng chiêng rộn rã, niềm vui của đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk Lắk càng thêm trọn vẹn khi nhiều quần chúng ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Những đảng viên trẻ là người dân tộc thiểu số đang từng ngày khẳng định vai trò tiên phong, góp sức xây dựng buôn làng ngày càng phát triển.

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, không khí Xuân dường như ấm áp hơn tại buôn Tul B, xã Ea Wer, tỉnh Đắk Lắk. Với các em nhỏ là “con nuôi Công an xã”, Tết năm nay không chỉ có bánh kẹo, quần áo mới mà còn trọn vẹn yêu thương từ những “người bố đặc biệt” cán bộ, chiến sĩ Công an xã Ea Wer.

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Xác định tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên là hạt nhân chính trị ở cơ sở, Đảng bộ tỉnh Lào Cai chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong đó phát triển đảng viên trẻ năng động, tiêu biểu người dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng bổ sung nguồn lực mới cho Đảng.

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Trong phong trào thi đua yêu nước của công nhân, lao động tỉnh Thái Nguyên, nhiều tấm gương điển hình đã và đang lan tỏa mạnh mẽ tinh thần lao động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, bền bỉ theo đuổi hành trình cải tiến kỹ thuật, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và địa phương.

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”, anh Bùi Văn Miệt (49 tuổi, dân tộc Mường) tại xã Tân Lợi (Đồng Nai) là tấm gương sáng trong việc giữ gìn và truyền lửa các môn thể thao dân tộc.

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Tại vùng biên giới tỉnh Đồng Nai, bác sĩ Bùi Thị Thu Liễu (51 tuổi, Trưởng Trạm Y tế xã Hưng Phước) thầm lặng cống hiến, dốc hết nhiệt huyết, tình yêu nghề để chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là tấm gương điển hình tiên tiến giai đoạn 2020-2025 được ngành Y tế tỉnh Đồng Nai vinh danh.

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Công tác chuẩn bị cho đợt tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2026 tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai đang được triển khai nghiêm túc, trách nhiệm. Nhiều thanh niên đã chủ động viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ, thể hiện tinh thần xung kích, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

A Thái (sinh năm 1992, dân tộc Rơ Măm) là Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn của làng Le ở xã biên giới Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi. Anh là tấm gương sáng về tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, đưa “ý Đảng” vào “lòng dân” một cách tự nhiên và hiệu quả, thắp lên ngọn lửa niềm tin và khát vọng vươn lên cho cả cộng đồng.

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Piêng Luống và Phia Òi là 2 trong tổng số 21 bản của xã biên giới Nhôn Mai (tỉnh Nghệ An), nằm biệt lập như những “ốc đảo” bên kia sông Nậm Nơn, thuộc lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Những năm qua, trong điều kiện khó khăn về kinh tế, giao thông, cơ sở hạ tầng của bản làng, các giáo viên “cắm bản” ở các điểm trường Mầm non bản Piêng Luống, Phia Òi (Trường Mầm non Nhôn Mai) vẫn bám trụ địa bàn, gần gũi với nhân dân, đem tình yêu thương con trẻ, tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề để miệt mài “gieo chữ” cho các thế hệ con em đồng bào các dân tộc nơi đây.

Thanh niên nông thôn bền bỉ làm giàu từ quê hương

Thanh niên nông thôn bền bỉ làm giàu từ quê hương

Từ những mô hình sản xuất hiệu quả tại cơ sở, nhiều thanh niên nông thôn đã khẳng định bản lĩnh, tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng làm giàu chính đáng. Với họ, Giải thưởng Lương Định Của không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực cá nhân, mà còn là động lực để tiếp tục gắn bó với nông nghiệp, đổi mới tư duy, lan tỏa những cách làm hay, góp phần phát triển kinh tế và xây dựng quê hương.

Chàng thanh niên dân tộc Dao làm giàu từ cây chanh rừng

Chàng thanh niên dân tộc Dao làm giàu từ cây chanh rừng

Anh Hoàng Phúc Thắng (người dân tộc Dao ở thôn Bó Pằm, xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn) đã đi tiên phong trong phát triển kinh tế, thành lập hợp tác xã để liên kết sản xuất, xây dựng sản phẩm OCOP nhằm nâng cao giá trị nông sản địa phương... Anh Thắng trở thành một trong những điển hình nông dân sản xuất giỏi tiêu biểu của tỉnh Lạng Sơn dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI.

Người thầy thuốc bền bỉ cống hiến nơi địa đầu Tổ quốc

Người thầy thuốc bền bỉ cống hiến nơi địa đầu Tổ quốc

Giữa guồng quay hối hả của đời sống y tế hiện đại, nơi mỗi quyết định chuyên môn đều gắn với sinh mệnh con người, có những cán bộ quản lý bền bỉ đứng ở tuyến sau, âm thầm giữ cho “cỗ máy” bệnh viện vận hành thông suốt, an toàn và nhân văn. Bác sĩ chuyên khoa II Đoàn Lương Anh, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang là một người như thế.

Thi đua yêu nước: Người Chăm phủ xanh miền cát trắng bay

Thi đua yêu nước: Người Chăm phủ xanh miền cát trắng bay

Giữa trưa ở xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa, nắng như đổ lửa, gió từ biển thổi hun hút qua những triền cát trắng khô khát. Nhưng ở làng Tuấn Tú, những vườn măng tây xanh mướt vẫn vươn lên mạnh mẽ. Ở trung tâm gam màu đối lập ấy là ông Hùng Ky (sinh năm 1969), người Chăm hiền lành, dáng người rắn rỏi được bà con trìu mến gọi là “người phủ xanh cát trắng bay”.

'Thầy giáo số' quân hàm xanh

'Thầy giáo số' quân hàm xanh

Những cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tại Lai Châu giúp người dân tiếp cận các kỹ năng số cơ bản còn được gọi trìu mến là “Thầy giáo số” quân hàm xanh. Những "giáo viên" này đang lặng lẽ góp phần rút ngắn khoảng cách số, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi biên cương Tổ quốc.

Dẫn dắt đồng bào dân tộc thiểu số cùng vượt khó làm giàu

Dẫn dắt đồng bào dân tộc thiểu số cùng vượt khó làm giàu

Từ mảnh đất Cao Bằng, ông Lâm Văn Giàng (sinh năm 1968, người dân tộc Tày) theo gia đình vào lập nghiệp trên vùng đất đỏ Miền Đông tại ấp Chà Lon, nay thuộc xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai, từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. Bằng ý chí kiên cường và sự nỗ lực không ngừng, ông đã xây dựng thành công một mô hình kinh tế tổng hợp quy mô lớn, mang lại thu nhập hơn 6 tỷ đồng/năm. Ông Giàng trở thành một trong những điển hình nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tiêu biểu của cả nước.

Người Sư cả 'nặng lòng' với cộng đồng người Chăm

Người Sư cả 'nặng lòng' với cộng đồng người Chăm

Ở vùng đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tại tỉnh Lâm Đồng, Sư cả Thường Xuân Hữu (sinh năm 1947), Chủ tịch Hội đồng chức sắc Bàlamôn giáo tỉnh là người được bà con tin yêu, kính trọng. Không chỉ tận tâm dẫn dắt tín đồ trong sinh hoạt tôn giáo, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, ông còn là người có uy tín tiêu biểu, gương mẫu vận động đồng bào chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng nếp sống văn minh, góp phần bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thắp lửa khởi nghiệp cho thanh niên vùng khó

Thắp lửa khởi nghiệp cho thanh niên vùng khó

Sinh năm 1995 tại xã Phú Túc (tỉnh Gia Lai), anh Kpă Séo, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ thanh niên xã Đất Bằng, là một trong những gương mặt thanh niên tiêu biểu của địa phương trong phong trào thi đua lao động sản xuất, khởi nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Hiến đất mở đường, tháo gỡ 'điểm nghẽn' hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Hiến đất mở đường, tháo gỡ 'điểm nghẽn' hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thực hiện khâu đột phá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Ia Hiao lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo vận động nhân dân hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn, phong trào hiến đất làm đường tại xã Ia Hiao (tỉnh Gia Lai) thời gian qua đã lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

Lớp học tình thương nơi rốn lũ

Lớp học tình thương nơi rốn lũ

Giữa xã Thiên Nhẫn - nơi được mệnh danh là “rốn lũ” của tỉnh Nghệ An có một ngôi trường không còn tiếng trống, không cờ hoa. Thế nhưng, vào mỗi dịp cuối tuần, nơi đây lại rộn ràng tiếng cười nói và tinh thần ham học của hơn 30 học trò tiểu học đặc biệt. Đó là lớp học tình thương do các cựu giáo chức tâm huyết tổ chức cho những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn được tiếp thêm kiến thức, kỹ năng và hơi ấm yêu thương.

Người phụ nữ Khmer giữ nét vẽ tranh trên kiếng ở xã Thuận Hòa

Người phụ nữ Khmer giữ nét vẽ tranh trên kiếng ở xã Thuận Hòa

Nghệ nhân Triệu Thị Vui, 67 tuổi, ở xã Thuận Hòa (TP Cần Thơ), được biết đến như “người giữ lửa” của nghề vẽ tranh trên kiếng truyền thống, một nét nghệ thuật đặc trưng của văn hóa Khmer Nam Bộ. Qua từng nét vẽ tinh tế, bà tái hiện các tích Phật, mang giá trị nghệ thuật và đậm tính tâm linh, đồng thời truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ sắc màu tranh kiếng Khmer đang ngày càng hiếm người theo loại tranh thủ công này.

Chàng trai người Tày với thương hiệu Chè Chốt 468

Chàng trai người Tày với thương hiệu Chè Chốt 468

Với ý chí vươn lên và khát vọng làm giàu ngay trên mảnh đất biên cương, anh Lý Đức Dân (người dân tộc Tày, thôn Nà Toong, xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) đã trở thành một trong 36 thanh niên tiêu biểu được Trung ương Đoàn tuyên dương năm 2025.

Tuyên dương đồng bào dân tộc thiểu số vượt khó, sáng tạo

Tuyên dương đồng bào dân tộc thiểu số vượt khó, sáng tạo

Ngày 3/12, UBND tỉnh Đồng Nai tổ chức Hội nghị biểu dương các gương điển hình tiên tiến trong đồng bào dân tộc thiểu số năm 2025, nhằm tôn vinh những cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất, học tập và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

'Cầu nối' phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa Khmer​​

'Cầu nối' phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa Khmer​​

Hơn 10 năm nay, ông Thạch Bình, 63 tuổi, người dân tộc Khmer - người có uy tín tiêu biểu tại xã Nha Bích (Đồng Nai) được người dân biết đến bởi tinh thần nhiệt huyết, tận tâm trong công việc và luôn gương mẫu trong cộng đồng. Với vai trò là người có uy tín, ông đã và đang trở thành cầu nối quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer tại địa phương.

Những nữ 'nông dân số' ở Lào Cai

Những nữ 'nông dân số' ở Lào Cai

Những năm qua, công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến đã được các cấp, ngành tỉnh Lào Cai chú trọng thực hiện, qua đó xuất hiện nhiều tấm gương trong cộng đồng đi đầu về phát triển kinh tế, xã hội.

Người có uy tín - Điểm tựa niềm tin cộng đồng

Người có uy tín - Điểm tựa niềm tin cộng đồng

Giữa không gian núi rừng Điện Biên, lực lượng người có uy tín từ lâu giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng. Am hiểu phong tục, tiếng nói địa phương, họ là cầu nối đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân một cách gần gũi và thuyết phục.