Xác định tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên là hạt nhân chính trị ở cơ sở, Đảng bộ tỉnh Lào Cai chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong đó phát triển đảng viên trẻ năng động, tiêu biểu người dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng bổ sung nguồn lực mới cho Đảng.
Mô hình thêu máy công nghiệp của đảng viên trẻ Lù A Đông tại thôn Púng Luông, xã Púng Luông (Lào Cai) tạo việc làm cho 3 lao động với mức lương từ 5 - 8 triệu đồng/người/tháng.
Đảng viên trẻ tiên phong
Với phương châm “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, thời gian qua, những đảng viên trẻ ở tỉnh Lào Cai đều thể hiện bản lĩnh vững vàng, tinh thần sáng tạo, khát vọng được đóng góp trí tuệ, sức trẻ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của quê hương. Thông qua các phong trào, những đảng viên trẻ từng bước hoàn thiện mình, mạnh dạn đi đầu trong phát triển kinh tế và trở thành tấm gương sáng ở địa phương.
Đến thôn Púng Luông, xã vùng cao Púng Luông (Lào Cai) vào những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ, dọc tuyến đường trung tâm thôn rợp khắp lá cờ đỏ sao vàng và cờ hoa. Những ngôi nhà khang trang nối dài nhau cho thấy diện mạo nông thôn khởi sắc và sự cố gắng, nỗ lực của người Mông vùng cao trong phát triển kinh tế. Đằng sau sự đổi thay ấy không thể thiếu vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ đảng viên cơ sở, nhất là đảng viên trẻ.
Đảng viên trẻ Lù A Đông tại thôn Púng Luông, xã Púng Luông (Lào Cai) khởi nghiệp thành công với mô hình thêu máy công nghiệp.
Là người con dân tộc Mông, sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo Púng Luông, đảng viên trẻ Lù A Đông (sinh năm 2000) luôn ấp ủ ước mơ khởi nghiệp để tăng thu nhập cho gia đình và tạo việc làm cho người dân địa phương. Nhận thấy văn hóa trang phục của dân tộc mình có nhiều nét đặc sắc và hấp dẫn khách du lịch, đảng viên trẻ Lù A Đông tự tìm hiểu kiến thức thêu và thiết kế hoa văn. Sau đó, Đông mạnh dạn vay mượn gần 300 triệu đồng để đầu tư giàn máy thêu thổ cẩm. Nhận thấy hiệu quả, Đông tiếp tục đầu tư thêm một giàn máy thêu khác và máy may quần áo.
Đến nay, sau 8 tháng khởi nghiệp, mô hình thêu công nghiệp của Đông rất triển vọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Sau khi trừ chi phí, đến nay, Đông đã thu lợi nhuận hơn 100 triệu đồng. Sản phẩm Đông chủ yếu làm ra gồm: váy, áo, túi xách, mũ và các mẫu hoa văn thêu thổ cẩm trong trang phục người Mông. Tất cả mẫu hoa văn đều được Đông tự thiết kế với sự mới mẻ nhưng vẫn mang giá trị văn hóa truyền thống. Những sản phẩm này đều được người dân trong xã và các tỉnh khác ưa chuộng bởi sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Ngoài đem lại thu nhập ổn định, Đông còn tạo việc làm thường xuyên cho 3 lao động trong thôn với mức lương từ 5 - 8 triệu đồng/người/tháng.
Lù A Đông cho biết: "Là một đảng viên trẻ với tinh thần nhiệt huyết của một người thanh niên, mình mong muốn có công việc ổn định và trở thành chỗ dựa vững chắc cho vợ con. Mình lựa chọn con đường kinh doanh nhằm giữ lại bản sắc văn hóa dân tộc. Hiện các sản phẩm của mình không đủ để phục vụ nhu cầu khách hàng. Nhiều đơn hàng mình phải tạm dừng, chưa dám nhận bởi không đủ sản phẩm. Thời gian tới, mình tiếp tục đầu tư thêm máy móc để tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu khách hàng. Mặt khác, mình mong muốn tạo thêm việc làm cho các bạn trẻ trong xã để các bạn không phải đi làm xa mà vẫn có thu nhập ổn định tại quê nhà".
Đảng viên trẻ Giàng A Lử tại thôn Nậm Khắt, xã Púng Luông (Lào Cai) luôn gương mẫu đi đầu trong việc vận động gia đình, nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ngoài những đảng viên trẻ tiên phong trong phát triển kinh tế, nhiều đảng viên trẻ khác tại xã Púng Luông luôn gương mẫu đi đầu trong việc vận động gia đình, nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng viên Giàng A Lử (sinh năm 2001), ở thôn Nậm Khắt, xã Púng Luông là một trong những người tiêu biểu như vậy.
Chính thức vào đảng từ tháng 9/2024, hơn một năm được đứng trong hàng ngũ của Đảng là một quá trình phấn đấu và đầy tự hào của Lử. Hàng ngày, ngoài thời gian làm việc nhà, Lử thường xuyên đến các hộ gia đình trong thôn nắm tình hình phát triển kinh tế và những tâm tư, nguyện vọng của người dân để báo cáo, đề xuất với Bí thư chi bộ nhằm xây dựng thôn, bản ấm no, hạnh phúc. Với Lử, đây không chỉ là nhiệm vụ của một đảng viên trẻ, mà còn là niềm vui của anh khi được giúp đỡ người dân.
Anh Lử phấn khởi nói, sau khi tham gia nghĩa vụ quân sự và trở về địa phương, anh luôn ấp ủ ước mơ phấn đấu vào Đảng. Trở thành đảng viên trẻ, ngoài tập trung phát triển kinh tế gia đình, anh thường xuyên vận động anh em họ hàng và người dân xung quanh nghiêm chỉnh chấp hành các quy định pháp luật; trong đó chú trọng tuyên truyền người dân xây dựng nếp sống văn minh. Anh thường xuyên vận động phụ nữ trong thôn dọn dẹp vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, nuôi nhốt gia súc, tham gia vệ sinh đường làng, ngõ xóm, trồng hoa ven đường. Nhờ sự tận tình, nhiệt huyết, anh được người dân trong thôn quý mến và tôn trọng.
Điểm sáng nơi vùng cao
Công tác phát triển đảng viên được chi bộ thôn Púng Luông, xã Púng Luông (Lào Cai) quan tâm lồng ghép trong các cuộc họp.
Tại các xã vùng cao, khó khăn lớn trong công tác phát triển đảng là việc khó tạo nguồn đảng viên người dân tộc thiểu số. Bởi đây là thực trạng chung ở các xã khu vực miền núi do trình độ dân trí khu vực này không đều, điều kiện kinh tế thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao. Thế nhưng, với nhiều giải pháp thu hút đồng bào dân tộc thiểu số trẻ ưu tú tham gia vào Đảng, xã vùng cao Púng Luông trở thành xã điển hình của tỉnh Lào Cai về xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên.
Xã Púng Luông có trên 94% đồng bào dân tộc Mông sinh sống, nhận thức của người dân còn hạn chế, đời sống gặp nhiều khó khăn. Do đó, muốn tuyên truyền người dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội, cần phát huy vai trò của những người đảng viên, đặc biệt là đảng viên dân tộc thiểu số, bởi họ là cầu nối tuyên truyền trực tiếp giữa chính quyền với người dân.
Bà Nguyễn Thùy Nhung, Trưởng Ban Xây dựng Đảng xã Púng Luông cho biết, Đảng bộ xã Púng Luông hiện có 41 chi bộ (25 chi bộ thôn, 16 chi bộ cơ sở) với 880 đảng viên, trong đó đa số đảng viên là người dân tộc thiểu số. Công tác xây dựng Đảng luôn được xã Púng Luông chú trọng và coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ủy. Để nâng cao chất lượng và số lượng đảng viên, hàng năm, Đảng ủy xã xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển đảng viên, đẩy mạnh nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ.
Cùng đó, Đảng ủy xã luôn quan tâm đến việc tạo nguồn, phát triển đảng viên người dân tộc thiểu số; chú trọng phát hiện, giới thiệu, bồi dưỡng, kết nạp những quần chúng ưu tú, gương mẫu trong lao động, sản xuất. Nhờ vậy, số lượng đảng viên kết nạp hàng năm của xã đều hoàn thành và vượt chỉ tiêu tỉnh giao.
Năm 2025, công tác phát triển đảng viên của xã có nhiều khởi sắc. Toàn xã kết nạp 37/33 đảng viên theo kế hoạch giao, vượt 112% chỉ tiêu. Đây là sự nỗ lực lớn trong công tác phát triển Đảng của một xã vùng cao khó khăn như Púng Luông, trong đó có sự nỗ lực từ các chi bộ thôn.
Bí thư chi bộ thôn Púng Luông Giàng A Lềnh cho biết, chi bộ có 27 đảng viên người dân tộc Mông, trong đó đảng viên trẻ chiếm hơn 40%. Năm 2025 chi bộ kết nạp được một quần chúng ưu tú vào Đảng. Năm 2026, Đảng ủy giao chi bộ kết nạp một quần chúng ưu tú, chi bộ phấn đấu sẽ kết nạp 2 - 3 đồng chí để tạo nguồn cho Đảng. Nhằm đạt được mục tiêu, ngay từ đầu năm chi bộ đã xây dựng kế hoạch phát triển đảng viên, trong đó chú trọng nâng cao về chất lượng. Chi bộ đề ra nhiều giải pháp như: tập trung rà soát trong nhân dân, nhất là những người năng nổ trong các hoạt động; những đảng viên đi đầu trong phát triển kinh tế tiếp tục nhân rộng mô hình, truyền cảm hứng cho các bạn trẻ khởi nghiệp để thu hút việc làm tại địa phương, hạn chế tình trạng thanh niên đi làm ăn xa.
Năm 2026, xã Púng Luông được Tỉnh ủy Lào Cai giao kết nạp 3,5% với 31 người, Đảng ủy xã phấn đấu kết nạp vượt 10% so với chỉ tiêu giao (35 đảng viên). Đến nay, Đảng ủy xã Púng Luông xây dựng kế hoạch và triển khai nhiều giải pháp nhằm hoàn thành mục tiêu đề ra.
Ông Giàng A Vừ, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Púng Luông cho biết, song song với số lượng, Đảng ủy xã Púng Luông rất quan tấm đến chất lượng. Để tạo nguồn phát triển đảng viên năm 2026 và những năm tiếp theo, Đảng ủy xã chú trọng mở các lớp tìm hiểu về Đảng. Trong đó, xã mở riêng một lớp tìm hiểu Đảng cho các đoàn viên thanh niên trong độ tuổi nhập ngũ với 30 đoàn viên thanh niên; hiện xã đang xem xét làm hồ sơ cho 16 người. Việc kết nạp đảng trong độ tuổi thanh niên lên đường nhập ngũ vừa làm tăng chất lượng cho quân nhân đầu vào, vừa giúp hoàn thành chỉ tiêu chính trị quan trọng trong việc kết nạp đảng.
Ngoài ra, xã sẽ phối hợp với Trung tâm Chính trị Mù Cang Chải mở lớp riêng cho các đối tượng là học sinh Trung học phổ thông với 30 người. Đồng thời, xã quan tâm phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp, hợp tác xã, lực lượng dân quân tự vệ và quần chúng nhân dân tại các thôn để giới thiệu cho Đảng, từ đó, lựa chọn được những đảng viên ưu tú, nhiệt huyết góp phần tăng chất lượng Đảng.
Năm 2025, toàn tỉnh Lào Cai đã kết nạp 3.783 đảng viên, đạt 103,64% kế hoạch; trong đó, 100% (103/103) đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy đều hoàn thành và vượt chỉ tiêu được giao; nhiều địa phương hoàn thành kế hoạch sớm, có tỷ lệ kết nạp vượt cao, đóng góp quan trọng vào kết quả chung của toàn Đảng bộ, góp phần bổ sung nguồn sinh lực quan trọng cho Đảng.
Cùng với việc hoàn thành vượt mức chỉ tiêu, công tác kết nạp đảng viên tiếp tục được thực hiện chặt chẽ, bảo đảm hài hòa giữa số lượng và chất lượng, cơ cấu ngày càng hợp lý. Trong số đảng viên mới được kết nạp, đảng viên nữ chiếm 43,91%, đảng viên là người dân tộc thiểu số chiếm 55,37%, đoàn viên thanh niên chiếm 56,11%. Đặc biệt, công tác phát triển đảng viên ở khu vực biên giới đạt kết quả tích cực với 367 đảng viên, đạt 101,67% kế hoạch; góp phần củng cố tổ chức đảng, tăng cường sức mạnh chính trị ở địa bàn chiến lược của tỉnh.
Năm 2026, Đảng bộ tỉnh Lào Cai phấn đấu mục tiêu kết nạp trên 3.300 đảng viên, đạt từ 2,5% đến 3% so với tổng số đảng viên của Đảng bộ. Để hoàn thành mục tiêu, Đảng bộ tỉnh Lào Cai tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân về tầm quan trọng công tác phát triển đảng viên; nâng cao năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cấp ủy, cán bộ làm công tác đảng, thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác phát triển đảng viên; phát huy vai trò các tổ chức chính trị - xã hội trong việc phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định để tổ chức đảng xem xét, kết nạp./.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn