A Thái (sinh năm 1992, dân tộc Rơ Măm) là Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn của làng Le ở xã biên giới Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi. Anh là tấm gương sáng về tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, đưa “ý Đảng” vào “lòng dân” một cách tự nhiên và hiệu quả, thắp lên ngọn lửa niềm tin và khát vọng vươn lên cho cả cộng đồng.
Thay đổi “nếp nghĩ, cách làm”
Làng Le, xã Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi là nơi sinh sống của 192 hộ dân với gần 600 nhân khẩu là đồng bào dân tộc thiểu số ít người Rơ Măm. Kinh tế của bà con Rơ Măm phụ thuộc chủ yếu vào trồng lúa, trồng sắn, nên đời sống còn nhiều khó khăn, với tỉ lệ hộ nghèo hơn 10%, hộ cận nghèo trên 30% vào năm 2020. Từ tháng 3/2020, A Thái - một thanh niên trẻ tuổi của làng trở thành Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn.
Sinh ra từ làng, nên A Thái rất gần gũi và hiểu rõ bà con trong làng, thấu hiểu những trăn trở, tâm tư, nguyện vọng của người dân. Vì vậy, anh biết được bà con đang khó khăn điều gì và cần vấn đề gì. Anh nhận ra, muốn thoát nghèo bền vững, điều cốt lõi nhất phải là thay đổi tư duy, nếp nghĩ, cách làm đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân. “Bà con mình cần cù, chịu khó nhưng nếu chỉ làm theo lối cũ thì không thể khá lên được; phải mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp mới mang lại giá trị kinh tế cao”, A Thái nói.
Nghĩ là làm, A Thái tiên phong trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cải tạo vườn tạp, ứng dụng kỹ thuật sản xuất thâm canh để nâng cao năng suất và giá trị cho nông sản. Song song với đó, anh tích cực vận động bà con người dân học hỏi, làm theo. Ban đầu, không ít người hoài nghi về những gì A Thái nói, nhưng anh không nản lòng. Anh cùng các cán bộ thôn và cán bộ khuyến nông “đi từng ngõ, gõ từng nhà”, vừa giải thích, vừa cầm tay chỉ việc, hướng dẫn bà con.
Dần dần, những diện tích trồng sắn không còn hiệu quả được bà con Rơ Măm trong làng Le chuyển đổi sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như cao su, cà phê, sầu riêng, mắc ca, cây ăn quả. Các đàn vật nuôi được chăm sóc theo đúng kỹ thuật, cung cấp nguồn thức ăn và được tiêm vaccine phòng bệnh đầy đủ.
Với sự hỗ trợ từ nguồn lực của Nhà nước và sự nỗ lực của người dân, giờ đây bộ mặt kinh tế của làng Le từng bước phát triển và đạt được nhiều kết quả tích cực. Làng Le hôm nay đã phủ một màu xanh trù phú của những vườn cây mới, đàn gia súc, gia cầm ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, phát triển ổn định. Tổng diện tích gieo trồng đạt 155,5 ha, trong đó có 116 ha cây trồng hằng năm và 39,5 ha cây trồng lâu năm. Tổng đàn gia súc, gia cầm gần 900 con.
Bằng sự nỗ lực không ngừng nghỉ trong công tác dân vận khéo của cá nhân Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn A Thái và sự nỗ lực, quyết tâm của bà con Rơ Măm, đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo của làng Le giảm còn 3,6%, hộ cận nghèo giảm xuống 11,4%, thu nhập bình quân đầu người của làng đạt 20 triệu đồng/người/năm (tăng 5 triệu đồng so với năm 2020). Nỗ lực vận động bà con người dân thay đổi nếp nghĩ, cách làm của anh A Thái không chỉ giúp bà con nâng cao thu nhập, cải thiện chất lượng đời sống, mà còn giúp bà con củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Bảo tồn văn hóa Rơ Măm
Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn làng Le A Thái (đứng giữa) thường xuyên phối hợp với các cán bộ tuyên truyền, vận động bà con bảo tồn nét văn hóa truyền thống. Ảnh: TTXVN phát
Không chỉ là người đi đầu, dẫn dắt bà con nhân dân trên mặt trận kinh tế, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn A Thái còn tích cực bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Anh hiểu rằng, xây dựng nông thôn mới không chỉ là làm đường bê tông, làm nhà ngói mới mà còn phải giữ được “hồn cốt” của bản sắc văn hóa dân tộc.
Anh tích cực vận động bà con tham gia khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống đang có nguy cơ bị mai một; đồng thời, kiên trì tuyên truyền, xóa bỏ các hủ tục. Nhờ sự cố gắng của anh, các lễ hội truyền thống, nét đẹp trong đời sống sinh hoạt, văn hóa được cộng đồng làng Le lưu trữ. Những điệu múa xoang, tiếng cồng, tiếng chiêng vang lên rộn rã khắp núi rừng biên giới Mô Rai. Các nghề truyền thống như đan lát, dệt thổ cẩm được bảo tồn và phát huy, tạo ra nguồn thu nhập cho bà con.
Đơn cử, nghề dệt thổ cẩm truyền thống của phụ nữ Rơ Măm trước năm 2020 gần như đã bị lãng quên do thiếu thị trường và nguyên liệu. Nhưng khi A Thái làm Bí thư kiêm Trưởng thôn, anh đã phối hợp với các tổ chức phụ nữ và tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm. Anh vận động thành lập Tổ hợp tác dệt thổ cẩm, cung cấp sợi dệt chất lượng và hỗ trợ quảng bá sản phẩm. Nhờ đó, nghề dệt thổ cẩm đã vực dậy mạnh mẽ, không chỉ bảo tồn được hoa văn, kỹ thuật truyền thống mà còn tạo ra thu nhập ổn định cho hơn 20 chị em phụ nữ trong làng.
Trong khi đó, do ảnh hưởng của công nghệ, nhiều nét văn hóa biểu diễn cồng chiêng, múa xoang và hát dân ca của người Rơ Măm đã dần bị mai một; trong đó, hát dân ca (theo tiếng Rơ Măm là Che) là loại hình nghệ thuật có nguy cơ thất truyền cao nhất. Nắm bắt được vấn đề của dân tộc mình, A Thái đã cùng với người có uy tín và các cán bộ Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi tích cực nghiên cứu các làn điệu Che để dạy cho những nghệ nhân trong làng. Nhờ đó, đến cuối năm 2025, đã có gần 10 nghệ nhân trong làng có thể hát được các bài Che ru con, ru cháu ngủ, Che về tình yêu, Che đi làm rẫy... Bên cạnh đó, không gian văn hóa cồng chiêng, múa xoang cũng được truyền dạy cho nhiều thế hệ trẻ, góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Già A Ngốc, người uy tín làng Le chia sẻ, nhờ có Bí thư A Thái, bà con làng Le không chỉ phát triển kinh tế, có cái ăn, cái mặc đầy đủ mà còn giữ được văn hóa, hồn cốt của cha ông. “Phát triển kinh tế là quan trọng, nhưng giữ được tiếng chiêng, giữ được khung dệt, giữ được lễ hội thì mới thực sự là cuộc sống no đủ và hạnh phúc”, già A Ngốc nói.
Bí thư Đảng ủy xã Mô Rai Trương Công Chính đánh giá, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn của làng Le A Thái là tấm gương tiêu biểu cho thế hệ cán bộ trẻ người dân tộc thiểu số dám nghĩ, dám làm. Với sự năng động, sáng tạo và đặc biệt là uy tín trong cộng đồng, A Thái đã làm tốt vai trò là hạt nhân xây dựng tình đoàn kết, là cầu nối vững chắc đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống, khơi dậy được sức mạnh nội sinh trong nhân dân.
Nhờ vào nỗ lực của mình, A Thái hiện được tín nhiệm bầu là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, tiếp tục được kỳ vọng sẽ tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, quy tụ và phát huy được sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng. Anh cũng nhận được nhiều bằng khen, giấy khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum (cũ), chính quyền các cấp của tỉnh Kon Tum trước đây và các đơn vị quân đội trao tặng vì đã có nhiều thành tích xuất sắc trong việc thực hiện các nhiệm vụ, góp phần xây dựng làng Le - làng ở biên giới ngày càng phát triển./.
Dân số: 436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố ngôn ngữ của dân tộc Khơ Me và gần gũi với tiếng nói của một số nhóm trong dân tộc Xơ Ðăng. Người Rơ Măm hiện sử dụng thành thạo tiếng nói của nhiều dân tộc, trong đó có tiếng phổ thông.
Lịch sử: Những người già làng cho biết họ là cư dân đã sinh sống ở khu vực này từ xa xưa. Ðầu thế kỷ XX dân số của tộc này còn khá đông, phân bố trong 12 làng, ở lẫn với người Gia Lai. Hiện họ chỉ sống tập trung trong một làng.
Hoạt động sản xuất: Người Rơ Măm sống bằng nghề làm rẫy, trồng lúa nếp là chính, thêm một ít lúa tẻ, ngô và sắn. Họ sử dụng dao phát, rìu để đốn hạ cây, dùng lửa để đốt dọn rẫy, khi gieo trỉa dùng hai gậy chọc lỗ và một ống đựng hạt. Ðôi bàn tay vẫn là công cụ chính để tuốt lúa. Săn bắt và hái lượm còn giữ vai trò kinh tế quan trọng. Việc bắt cá dưới suối khá hiệu quả với đôi tay, rổ, đó và lá độc. Trong số những nghề phụ gia đình, nghề trồng bông, dệt vải được chú ý phát triển nhất. Vải họ dệt ra trước kia đủ cung cấp cho nhu cầu mặc của gia đình ngoài ra còn là hàng hoá trao đổi lấy dầu đốt, muối ăn và các công cụ lao động bằng sắt mà họ không làm ra được.
Ăn: Tập quán ăn bốc còn tồn tại khá phổ biến vào thời điểm hiện nay. Người dân thích cơm nếp đốt trong ống tre, nứa ăn với canh và muối ớt. Họ lấy nước từ các mạch ngầm, đựng trong những chiếc vỏ bầu khô để uống, không cần đun sôi. Những ngày lễ tết, hội hè cư dân uống rượu cần chế từ các loại gạo, sắn, bắp...
Mặc: Trong xã hội truyền thống, đàn ông Rơ Măm mặc khố, phía sau buông đến ống chân. Phụ nữ quấn váy và ở trần, một số mặc áo cộc tay. Váy và khố đều có màu trắng của vải mộc, không nhuộm. Phụ nữ ưa đeo hoa tai làm bằng ngà voi, nứa hoặc gỗ. Nam nữ thanh niên đều cắt 4 hoặc 6 chiếc răng cửa của hàm trên, khi bước vào tuổi trưởng thành.
Ở: Làng truyền thống của người Rơ Măm được dựng theo một trật tự cố định. Nhà ở là loại nhà sàn dài, cất kế tiếp, xung quanh ngôi nhà chung. Cửa chính của mọi ngôi nhà đều quay nhìn vào nhà rông và nhà ở của các gia đình là khu sân chơi. Quanh làng có hàng rào bảo vệ. Mỗi nóc nhà thường có nhiều bếp. Mỗi cặp vợ chồng ở trong một buồng có vách ngăn, với một bếp riêng. Gian chính giữa nhà là nơi tiếp khách... Tại làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, hiện nay mỗi gia đình sống trong một ngôi nhà cao to, rộng, thoáng, vách gỗ, mái ngói, do Nhà nước xây dựng.
Phương tiện vận chuyển: Gùi là phương tiện vận chuyển chính của người Rơ Măm, sử dụng sức mạnh của đôi vai và lưng. Gùi được đan cải hoa văn bằng nan nhuộm đen. Có loại gùi dành riêng cho việc vận chuyển công cụ săn bắt, đi rừng, làm rẫy của đàn ông. Có loại gùi lại chỉ sử dụng để vận chuyển váy, áo, đồ trang sức phụ nữ đem theo khi đi dự lễ tết, hội hè...
Quan hệ xã hội: Ðứng đầu làng là một già làng, người cao tuổi nhất trong làng, do dân tín nhiệm bầu ra. Làng truyền thống là một công xã láng giềng. Mọi thành viên quan hệ với nhau dựa trên cơ sở bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Họ không chỉ quan hệ với nhau trong khuôn khổ làng mà còn quan hệ với làng khác, dân tộc khác qua việc trao đổi hàng hoá và trao đổi hôn nhân. Quan hệ xã hội ở đây còn lưu giữ khá đậm các tàn dư của thời kỳ mẫu hệ vào giai đoạn đang chuyển nhanh sang chế độ phụ quyền.
Cưới xin: Việc cưới xin của người Rơ Măm thường phải qua hai bước chính ăn hỏi và đám cưới. Lễ cưới được tổ chức đơn giản, chỉ là bữa ăn uống cộng cảm của dân làng để chứng kiến và chúc mừng bữa ăn chung đầu tiên của cô dâu, chú rể. Tính chất hôn nhân của họ đang ở giai đoạn tiến lên chế độ phụ hệ. Sau ngày cưới đôi vợ chồng trẻ sống bên nhà vợ 4-5 năm rồi về ở bên nhà chồng hoặc cư trú luân phiên cả hai bên. Việc ly dị rất ít xảy ra.
Sinh đẻ: Trước kia phụ nữ Rơ Măm sinh đẻ trong ngôi nhà nhỏ ở ngoài rừng. Ðứa trẻ ra đời được cắt rốn bằng nứa hoặc một loại lá cây sắc. Mỗi làng có một hay hai bà đỡ là những người phụ nữ đã tuổi, nhiều kinh nghiệm trong việc sinh nở. Phụ nữ phải kiêng một số thức ăn có nhiều mỡ, từ khi có thai cho đến lúc đứa trẻ tròn 3 năm tuổi. Gần đây, họ sinh con tại nhà. Ngày đó người lạ không được vào, nếu ai vi phạm sẽ bị giữ lại trong nhà đến hết thời gian kiêng cữ và đứa trẻ sẽ được đặt tên trùng với tên người khách lạ.
Ma chay: Người Rơ Măm thường dùng trống để báo tin trong nhà có người chết. Xác chết được đặt ở mặt trước ngôi nhà, đầu hướng vào trong, mặt nhìn nghiêng. Việc chôn cất sẽ được tiến hành vào một hai hôm sau. Các ngôi mộ xếp theo hàng lối sao cho mặt người chết không nhìn hướng vào làng. Một số ít ngôi mộ chôn chung, từ 2 đến 3 người, thường là những người thân trong gia đình. Trong lễ bỏ mả có hai người đeo mặt nạ (một nam, một nữ) đánh trống nhảy múa. Mặt nạ nam có hai sừng trên đầu, mặt nạ nữ có hai chiếc răng nanh. Kết thúc lễ bỏ mả, hai chiếc mặt nạ được treo lại trên nhà mồ...
Thờ cúng: Người Rơ Măm quan niệm "vạn vật hữu linh", cả linh hồn con người sau khi chết cũng là lực lượng siêu nhiên đầy quyền lực và bí ẩn. Ðó là những đối tượng mà họ thờ cúng để cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn. Một trong những lực lượng siêu nhiên được người dân thờ cúng nhiều nhất là thần lúa. Họ cúng thần lúa vào ngày bắt đầu trỉa giống, khi lúa lên đòng, trước ngày tuốt lúa... để cầu mong một mùa rẫy bội thu.
Lễ tết: Trong tất cả những nghi lễ được tiến hành theo chu kỳ sản xuất hay chu kỳ đời người đều có hiến tế các con vật như: gà, lợn hoặc trâu. Ngày lễ lớn nhất thường được tổ chức sau khi thu hoạch mùa rẫy. Các gia đình trong làng làm lễ mừng kế tiếp nhau, có thể mỗi ngày một gia đình hay 4-5 ngày một chủ hộ giết lợn, gà, thậm chí tổ chức đâm trâu mời bà con trong làng tới dự. Sau lễ mừng lúa mới là thời điểm diễn ra hàng loạt đám cưới của nam nữ thanh niên và lễ bỏ mả cho người đã chết.
Văn nghệ: Những làn điệu dân ca, những bài hát giao duyên của nam nữ thanh niên, những câu chuyện kể của người già với bộ nhạc cụ gồm chiêng, trống và các loại đàn, sáo... được làm ra từ nguồn tre, nứa trong rừng là yếu tố chính tạo dựng nên nền văn nghệ dân gian của cư dân nơi đây.
Theo cema.gov.vn