Bước vào nghiệp võ khi 14 tuổi và sau gần 12 năm học tập, rèn luyện, thi đấu, vận động viên người dân tộc Thái Lò Văn Biển (quê xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) đã giành được hơn 30 huy chương các loại trên mọi đấu trường trong nước và khu vực. Không chỉ là niềm tự hào của làng võ thuật địa phương, Biển còn là tuyển thủ quốc gia đầu tiên của tỉnh Điện Biên giành Huy chương Vàng tại đấu trường SEA Games và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen do có thành tích thi đấu xuất sắc tại giải đấu này.
Sinh năm 2000, là con út trong gia đình có 10 anh chị em, trong nhà không ai theo nghiệp võ. Tuy nhiên từ nhỏ, anh luôn là chàng trai hiếu động, đam mê thể thao, đặc biệt là võ thuật. Niềm đam mê cùng khát vọng trở thành võ sĩ chuyên nghiệp đã thôi thúc anh nỗ lực tập luyện và gặt hái được nhiều thành tích nổi bật.
Năm 14 tuổi, anh đến Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh Điện Biên tham gia thi tuyển để thỏa niềm đam mê võ thuật. Ông Lò Văn Thích (bố của Biển) chia sẻ, khi biết tin con trai trúng tuyển và được lên tỉnh học võ, cả nhà đều vui mừng. Tuy nhiên, do tuổi còn nhỏ, lần đầu đi học xa nhà nên ai cũng thương cháu. “Mỗi lần lên thăm, thấy chân, tay con tím tái vì tập luyện, tôi không đành lòng để cháu đi theo nghiệp võ. Tuy nhiên thấy Biển có niềm đam mê, năng khiếu và quyết tâm theo học, tôi chỉ biết động viên con cố gắng tập luyện và thi đấu thật tốt…” - ông Thích cho biết.
Sau hai năm theo đuổi môn võ Karate tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh Điện Biên, vận động viên Lò Văn Biển đã mang về cho riêng mình đầy đủ bộ sưu tập gồm Huy chương Vàng, Bạc, Đồng ở hạng cân 65 - 75 kg tại các giải đấu trẻ toàn quốc. Đây chính là bước đệm đưa anh trở thành niềm tự hào của nền võ thuật tỉnh Điện Biên. Nhờ thành tích thi đấu nổi bật, anh vinh dự được triệu tập vào đội tuyển trẻ Karate quốc gia.
Nhớ lại ngày đó, anh Biển tâm sự: “Khi biết tin được triệu tập vào đội tuyển trẻ quốc gia, em vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Thời gian đầu xuống Hà Nội tham gia đội tuyển, em gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt do tập luyện ở môi trường mới. Tuy nhiên, được sự quan tâm, động viên, dạy bảo tận tình của các thầy ở đội tuyển, em đã có thêm động lực để cố gắng hơn trong tập luyện cũng như trong thi đấu”.
Không phụ lòng của các huấn luyện viên, ngay trong năm 2017, Biển đã giành được Huy chương Vàng ở hạng cân 75 kg tại Giải vô địch trẻ Karate Đông Nam Á. Từ năm 2018 đến năm 2022, anh liên tục giành nhiều Huy chương Bạc và Đồng tại các kỳ Đại hội Thể thao toàn quốc. Sớm khẳng định năng lực qua các giải đấu ở cấp đội tuyển trẻ, năm 2023, anh được triệu tập vào đội tuyển Karate quốc gia. Được tập luyện trong môi trường chuyên nghiệp cùng với sự nỗ lực của bản thân, anh ngày càng hoàn thiện được kỹ năng và bản lĩnh thi đấu.
Anh Lò Văn Biển (ngoài cùng bên trái) cùng đồng đội ăn mừng sau khi đoạt Huy chương Vàng tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 32 (Sea Games 32) diễn ra tại Campuchia vào năm 2023. Ảnh: TTXVN phát
Đặc biệt, năm 2023 là năm ghi dấu bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp thi đấu đỉnh cao khi vận động viên Lò Văn Biển giành “cú đúp” Huy chương Vàng đồng đội nam và Huy chương Đồng cá nhân ở hạng cân 75kg tại Giải vô địch Karate Đông Nam Á tổ chức ở Philippines. Cũng trong năm 2023, tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 32 (SEA Games 32) diễn ra tại Campuchia, anh tiếp tục cùng đội tuyển quốc gia Karate Việt Nam xuất sắc giành Huy chương Vàng nội dung đồng đội nam.
Nói về cậu học trò mà mình đã từng gắn bó, thầy Khương Văn Đức, Huấn luyện viên môn Karate (Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh Điện Biên) cho biết, ngoài đời, Biển là cậu học trò hiền lành, giản dị trong cuộc sống nhưng khi lên sàn thi đấu, em luôn mạnh mẽ, có quyết tâm cao và không ngại va chạm. Dù sinh ra và lớn lên ở vùng cao, cuộc sống còn nhiều khó khăn nhưng với niềm đam mê, Biển luôn nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi gian khó để đạt được thành tích cao trong thi đấu. Lò Văn Biển là tấm gương sáng để các vận động viên trẻ học hỏi, noi theo.
Ghi nhận những đóng góp mà vận động viên Lò Văn Biển mang lại cho nền thể thao nước nhà, năm 2023, em đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng Bằng khen do có thành tích thi đấu xuất sắc, giành Huy chương Vàng tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á lần thứ 32 (SEA Games 32) và Huy chương Vàng tại Giải vô địch Karate Đông Nam Á năm 2023. Ngoài ra, em còn nhận được nhiều Bằng khen, Giấy khen của UBND tỉnh Điện Biên trao tặng. Năm 2023, Lò Văn Biển là một trong 143 học sinh, sinh viên, thanh niên dân tộc thiểu số xuất sắc, tiêu biểu lần thứ X, do Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức, tuyên dương.
Chia sẻ về dự định của mình, vận động viên Lò Văn Biển tâm sự: “Hiện tại, em đang tích cực tập luyện chuẩn bị cho Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2026. Với kinh nghiệm của bản thân, em mong muốn sau này sẽ cùng với các thầy ở Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu Thể dục Thể thao tỉnh Điện Biên, tiếp tục dìu dắt và đào tạo nhiều thế hệ vận động viên giỏi cho tỉnh”./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn