70 năm Chiến thắng Tây Bắc (1952-2022): Bước phát triển mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng

70 năm Chiến thắng Tây Bắc (1952-2022): Bước phát triển mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng

Cách đây 70 năm, từ ngày 14/10 đến 10/12/1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tổ chức thành công Chiến dịch Tây Bắc. Chiến thắng này là sự kiện lịch sử quan trọng, có ý nghĩa lịch sử mang tầm chiến lược, khẳng định bước phát triển mới trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Đó là kết quả của việc nắm vững quy luật vận động cách mạng và chiến tranh giải phóng ở nước ta; khẳng định bước phát triển của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

70 năm Chiến thắng Tây Bắc (1952-2022): Bước phát triển mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng ảnh 1

Tây Bắc - địa bàn chiến lược quan trọng

Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng. Từ đây, địch có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào. Lực lượng địch chiếm đóng ở Tây Bắc có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, 11 khẩu pháo bố trí phân tán trên 144 cứ điểm, gồm phần lớn là quân ngụy. Lực lượng Âu-Phi có 3 tiểu đoàn chốt ở Sơn La, Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động; ngoài ra có tiểu đoàn dù ở Hà Nội khi cần, dùng đường không cơ động đến tăng viện.

Vùng Tây Bắc thời kỳ này gồm 5 tỉnh là Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Nghĩa Lộ là vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở, đất rộng, người thưa. Phía Tây giáp với 2 tỉnh của Lào (Phong Xa Lỳ, Sầm Nưa), phía Đông giáp với căn cứ địa Việt Bắc, phía Bắc là biên giới Việt Nam-Trung Quốc (đối diện tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam), phía Nam giáp với tỉnh Hòa Bình, thông với Liên khu 3 và Liên khu 4. Sông Thao, sông Mã, sông Đà là ba con sông lớn, quanh năm nước chảy xiết và chia cắt Tây Bắc thành các khu vực.
Đường vào Tây Bắc chỉ có hai trục lớn là đường số 41 từ Hòa Bình đi Mộc Châu (Sơn La) và đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc chủ yếu là Mông, Dao, Thái, Mường và Kinh có lịch sử phát triển lâu đời, có truyền thống yêu nước, cách mạng.

Tầm nhìn và chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chiến thắng Tây Bắc 1952 bắt nguồn từ tầm nhìn chiến lược, đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng, trong đó nội dung cốt lõi là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Rút kinh nghiệm từ các chiến dịch trước, bước sang năm 1952, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng, chọn địa bàn Tây Bắc để mở chiến dịch trong Thu Đông 1952.

Nhận định, Tây Bắc là địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, nhưng do địch khủng bố, ra sức tuyên truyền xuyên tạc, nên hiểu biết của nhân dân về cách mạng, về đường lối kháng chiến của Đảng chưa đầy đủ, cơ sở quần chúng của cách mạng yếu, phong trào du kích chiến tranh phát triển không đều. Kinh tế nghèo, lạc hậu, đời sống nhân dân rất khó khăn, Bộ Chính trị đề ra ba nhiệm vụ cho Chiến dịch Tây Bắc, đó là: tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc. Ba nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính. Như vậy, nhiệm vụ Chiến dịch Tây Bắc đã phản ánh sự kết hợp chặt chẽ, rõ nét hơn giữa nhiệm vụ quân sự với nhiệm vụ chính trị, đây cũng là nét mới về tư duy nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng của Đảng ta.

Về tổ chức lực lượng, Bộ Chính trị nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy, điều động các đại đoàn chủ lực (308, 312, 316) và một số đơn vị binh chủng cùng lực lượng vũ trang địa phương tham gia chiến dịch, do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Tổng quân số trực tiếp chiến đấu trong phạm vi chiến dịch khoảng 35.000 quân (không kể quân số các hướng nghi binh phối hợp). Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.

Về công tác hậu cần, Trung ương Đảng đặc biệt coi trọng, vì Tây Bắc là chiến trường xa căn cứ hậu phương của ta, địa hình rừng núi hiểm trở, nguồn nhân lực, vật chất tại chỗ hạn chế. Nhưng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, ta đã huy động được gần 20 vạn dân công từ khắp các Liên khu Việt Bắc, Khu Tây Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 với tổng số gần 7 triệu ngày công tham gia phục vụ chiến dịch. Các địa phương đã cung cấp cho chiến dịch hơn 11.000 tấn gạo, cùng hàng trăm tấn thực phẩm, vật chất. Có thể nói, trong bối cảnh chiến tranh và khó khăn ngày ấy, đây là cố gắng phi thường, biểu hiện ý chí cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của kháng chiến.

Đặc biệt trong chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự Hội nghị cán bộ bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Bắc (diễn ra từ ngày 6 đến 9/9/1952) động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công toàn mặt trận.

Về tổ chức, sử dụng lực lượng: nét nổi bật về tổ chức, sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Tây Bắc là ta đã tập trung lực lượng tiến công, đột phá liên tục, tiêu diệt từng khu vực phòng ngự gồm nhiều cứ điểm, cụm cứ điểm của địch; kết hợp chặt chẽ giữa sử dụng lực lượng tiến công địch trong công sự với lực lượng ngăn chặn, đón lõng địch phản kích hoặc rút lui. Trong thực hành chiến dịch, ta linh hoạt tổ chức hướng vu hồi nhằm nghi binh hướng tiến công chủ yếu, góp phần giải phóng một vùng đất rộng lớn, phá vỡ phòng tuyến phía nam Lai Châu của địch; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng tiến công chính diện với lực lượng bao vây, vu hồi, chia cắt. Để bảo đảm chắc thắng, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực lượng bao vây, kiềm chế, đánh chiếm các cứ điểm lân cận vòng ngoài; tập trung lực lượng ưu thế vào mục tiêu chủ yếu, tổ chức đội hình tiến công thành các bộ phận: Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu, thứ yếu; bộ phận tạo thế chặn viện, dương công; bộ phận hỏa lực chi viện chung; bộ phận hỏa lực chi viện trực tiếp.

Để giữ bí mật hướng chiến dịch, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo làm tốt công tác phòng gian, bảo mật; đồng thời tổ chức kế hoạch nghi binh rất chu đáo, chặt chẽ. Ta đưa một bộ phận quân chủ lực (Đại đoàn 320, Đại đoàn 304) cùng một số đại đội trinh sát của Bộ về tăng cường hoạt động ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (thuộc đồng bằng Liên khu 3). Các đại đoàn trực tiếp tham gia chiến dịch Tây Bắc (308, 312, 316) đang đứng chân ở trung du Bắc Bộ được lệnh cơ động về Tây Bắc, để lại hệ thống điện đài thường dùng nguyên vị trí cũ và phát sóng theo phiên thường lệ... Hoạt động nghi binh đó của ta đã “đánh lừa” được Bộ chỉ huy quân Pháp. Chúng nhận định các đại đoàn 308, 312, 316 của ta “án binh bất động” ở trung du Bắc Bộ và phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta trong Thu Đông 1952 là đồng bằng Bắc Bộ và tìm cách chuẩn bị đối phó. Khi ta nổ súng chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp rất bất ngờ, nhanh chóng rơi vào tình thế bị động, lúng túng và chịu thất bại. Đây cũng là nét đặc sắc về nghệ thuật nghi binh tài tình của ta.

Với cách đánh và tổ chức lực lượng phù hợp, Chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt và bắt hơn 6.000 tên địch; nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động địch bị xóa sổ; giải phóng một vùng địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000 km2 với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với Căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch, đảo lộn thế bố trí chiến lược của quân Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, như tướng Pháp Nava (P. Henri Navarre) trong cuốn “Đông Dương hấp hối” sau này đã thừa nhận: thất bại tại Tây Bắc đã làm tăng khó khăn từ phạm vi Việt Nam ra đến toàn Đông Dương và hoàn toàn bất ngờ đối với phía Pháp.

Ý nghĩa lịch sử

Chiến thắng Tây Bắc 1952 đã đi vào lịch sử kháng chiến giành độc lập dân tộc, là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế, tạo ra thế và lực mới để tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Về quân sự, Chiến thắng Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch (diệt, bắt sống và làm bị thương trên 6.000 tên địch), thu nhiều vũ khí trang bị. Đập tan thế bố trí lực lượng của địch tại vùng Tây Bắc và các cuộc hành quân, chi viện của địch, đẩy địch vào thế co cụm, phòng ngự bị động trên một số khu vực (Nà Sản).

Về chính trị, kinh tế, Chiến thắng Tây Bắc đã giải phóng được một vùng rộng lớn đất đai ở địa bàn chiến lược. Những cánh đồng rộng lớn như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Than Uyên, Quang Huy, Phù Yên lắm thóc, nhiều lâm thổ sản đã thuộc về ta, góp phần tạo thuận lợi cho việc xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân, cơ sở Đảng, cơ sở chính trị và tiềm lực cho kháng chiến; mở rộng hậu phương kháng chiến, tạo điều kiện thuận lợi cuộc tiến công chiến lược Đông xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam đó là giành và giữ vững được quyền chủ động trên chiến trường. Ta hoàn toàn chủ động lựa chọn chiến trường, mục tiêu và cách đánh với những lực lượng, quy mô khác nhau. Việc mở rộng được các vùng giải phóng, đặc biệt là kết nối thủ đô kháng chiến Việt Bắc với Tây Bắc, với Thượng Lào, Trung Quốc và kết nối với chiến trường vùng đồng bằng ở Liên khu 3, Liên khu 4 đã góp phần tăng thêm tiềm lực và tương quan sức mạnh giữa ta và địch, từng bước làm suy yếu và đẩy Pháp vào thế ngày càng bất lợi.

Chiến thắng Tây Bắc đã làm phá sản các chính sách quân sự, chính trị của thực dân Pháp tại Việt Nam, đẩy Pháp vào thế bị động về chiến lược, đồng thời giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp: Đập tan âm mưu củng cố “Xứ Thái”, “Xứ Nùng tự trị” và từng bước làm thất bại chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; đẩy thực dân Pháp vào thế bị động, lúng túng về chiến lược (phân tán, mắc kẹt trong mẫu thuẫn giữa tập trung và phân tán; giữa tiến công ra vùng tự do và phòng ngự ở vùng đã kiểm soát; giữa bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ và bảo vệ Thượng Lào…).

Chiến thắng Tây Bắc đã khẳng định sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam, khả năng tác chiến, hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn ở địa hình rừng núi, xa hậu phương, làm kinh nghiệm quý để ta tổ chức các chiến dịch với quy mô lớn hơn.

Chiến thắng Tây Bắc 1952 là nguồn động viên to lớn đối với quân và dân ta, qua đó góp phần củng cố niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc thắng lợi.

Chiến thắng Tây Bắc một mặt góp phần giải phóng phần lớn đất đai, dân số trên địa bàn chiến lược, mặt khác tạo điều kiện cho cách mạng Lào, đặc biệt là vùng Thượng Lào phát triển, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương Việt Nam-Lào-Campuchia từng bước phát triển tiến tới thắng lợi hoàn toàn.

Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Tây Bắc là dịp để ôn lại lịch sử cách mạng, tôn vinh và tri ân những cống hiến, hy sinh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; tuyên truyền giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phương Anh (tổng hợp)

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Tinh gọn bộ máy: Từng bước thích ứng với yêu cầu mới

Tinh gọn bộ máy: Từng bước thích ứng với yêu cầu mới

Sau một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, xã miền núi Minh Đài, tỉnh Phú Thọ đã từng bước ổn định tổ chức bộ máy, bảo đảm hoạt động quản lý Nhà nước thông suốt, không để gián đoạn việc giải quyết thủ tục hành chính và cung ứng dịch vụ công.

Tạo nền tảng thế trận lòng dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Tạo nền tảng thế trận lòng dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Sau khi hợp nhất địa giới hành chính, Tây Ninh tiếp tục củng cố thế trận biên phòng toàn dân bằng việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Bộ đội Biên phòng giúp nhân dân xã biên giới Sì Lở Lầu trồng sâm Lai Châu

Bộ đội Biên phòng giúp nhân dân xã biên giới Sì Lở Lầu trồng sâm Lai Châu

Trong những năm qua, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ làm tốt nhiệm vụ bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới mà còn luôn đồng hành hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào các dân tộc qua các mô hình phát triển nông nghiệp như: Trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung. Đặc biệt gần đây, lực lượng Biên phòng đã lựa chọn đưa cây sâm Lai Châu vào trồng tại bản Ngải Thầu, xã biên giới Sì Lở Lầu để tạo sinh kế cho người dân do phù hợp về thổ nhưỡng, khí hậu, đồng thời cũng đúng với định hướng phát triển cây dược liệu của tỉnh Lai Châu.

Xuất khẩu lao động giúp người dân miền núi Thanh Hóa giảm nghèo

Xuất khẩu lao động giúp người dân miền núi Thanh Hóa giảm nghèo

Nhiều năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã đẩy mạnh việc đưa người lao động của các xã miền núi đi làm việc ở nước ngoài. Nhiều người sau khi trở về đã có số vốn lớn để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từ các thôn bản nghèo đang còn nhà cửa đơn sơ, tới nay đã xuất hiện nhiều ngôi nhà kiên cố, đời sống người dân đã ổn định hơn trước.

Bứt phá tiến độ, hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố nơi biên cương

Bứt phá tiến độ, hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố nơi biên cương

Nằm trong đại dự án 21 trường liên cấp với tổng mức đầu tư hơn 7.700 tỷ đồng, 10 công trình giai đoạn 1 tại các xã biên giới Nghệ An đang bước vào chặng nước rút quyết định. Dù đối mặt với vô vàn áp lực từ thời tiết khắc nghiệt đến điều chỉnh kỹ thuật do sạt lở, các mũi thi công vẫn căng mình bám công trường, đưa 9/10 dự án giai đoạn 1 đạt mốc 80-90% khối lượng. Sự đồng lòng ấy đang hiện thực hóa giấc mơ trường mới kiên cố, kịp thời đón các em nhỏ dân tộc thiểu số vào lớp đúng ngày khai giảng.

Định hướng phát triển dâu tằm tơ thành ngành kinh tế chủ lực

Định hướng phát triển dâu tằm tơ thành ngành kinh tế chủ lực

Trong chiến lược phát triển nông nghiệp, Cao Bằng xác định nghề trồng dâu, nuôi tằm là một hướng đi tiềm năng, có thể tạo sinh kế bền vững cho người dân và nâng cao giá trị kinh tế địa phương. Hiện toàn tỉnh có 31 xã, phường tham gia sản xuất với hơn 2.700 hộ, diện tích dâu hơn 1.200 ha, sản lượng kén đạt khoảng 829 tấn/năm. Có thể nói, Cao Bằng rất có tiềm năng để phát triển trồng dâu nuôi tằm, tuy nhiên, sản phẩm chủ yếu mới dừng ở khâu nguyên liệu, tiêu thụ qua thương lái, chưa có nhà máy chế biến sâu để hoàn thiện chuỗi giá trị.

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 2: Để vị ngọt sầu riêng đi tiếp trăm năm

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 2: Để vị ngọt sầu riêng đi tiếp trăm năm

Lập kỷ lục 3,86 tỷ USD trong năm 2025, sầu riêng tiếp tục dẫn đầu nhóm rau quả xuất khẩu của Việt Nam; riêng Đắk Lắk đóng góp khoảng 1,1 tỷ USD. Bảy tháng của năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 493.000 tấn, thu về 950,7 triệu USD. Bước vào cao điểm thu hoạch tại Tây Nguyên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhận định kim ngạch cả năm chắc chắn vượt 4 tỷ USD.

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 1: 'Người gác gió' đi qua thế kỷ

Trăm năm sầu riêng Đắk Lắk - Bài 1: 'Người gác gió' đi qua thế kỷ

Đứng bên những lô cà phê trong đồn điền CADA để chắn gió, sầu riêng bén rễ trên đất Đắk Lắk từ hơn một thế kỷ trước. Từ những cây hạt nằm rải rác, Đắk Lắk nay đã mở thành vùng nguyên liệu lớn nhất cả nước, dự kiến thu hơn 544.000 tấn trong năm 2026. Đi qua một thế kỷ, cây sầu riêng mở thêm sinh kế; bước vào chặng đường của ngành hàng tỷ USD, người trồng và doanh nghiệp phải giữ chất lượng, số hóa quy trình, quản trị vùng trồng và giữ niềm tin của thị trường.

Lốc xoáy tốc mái, hư hỏng 47 căn nhà ở Cao Bằng

Lốc xoáy tốc mái, hư hỏng 47 căn nhà ở Cao Bằng

Chiều ngày 12/8, vào khoảng 15h00, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đã xảy ra mưa dông kèm lốc xoáy, gây thiệt hại về nhà ở và một số công trình công cộng. Theo báo cáo nhanh của Chi cục Tài nguyên nước tỉnh Cao Bằng, thiên tai ảnh hưởng đến các xã Trà Lĩnh, Quang Hán, Quảng Uyên và Đức Long.

Kết nối nguồn lực xã hội với nhu cầu thực tế của nông dân

Kết nối nguồn lực xã hội với nhu cầu thực tế của nông dân

Ngày 12/8, tại xã Cư Jút, Hội Nông dân và Tỉnh đoàn Lâm Đồng phối hợp với Báo Tuổi Trẻ, Công ty Cổ phần Greenfeed Việt Nam tổ chức trao vốn Chương trình “Tiếp sức nhà nông” cho 40 hộ nông dân có hoàn cảnh khó khăn và có con em vượt khó, học giỏi trên địa bàn.

Sắp xếp mạng lưới trường học: Phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu phát triển giáo dục

Sắp xếp mạng lưới trường học: Phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu phát triển giáo dục

Nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục, bảo đảm quyền học tập của trẻ em, học sinh và từng bước hình thành các cơ sở giáo dục quy mô phù hợp, nâng cao chất lượng, thời gian gần đây, toàn bộ hệ thống chính trị thành phố Huế đã phối hợp chặt chẽ, triển khai nhanh chóng, hiệu quả việc sắp xếp các trường mầm non, phổ thông công lập trực thuộc UBND phường, xã.

Tạo nền tảng học tập tốt nhất cho học sinh vùng biên

Tạo nền tảng học tập tốt nhất cho học sinh vùng biên

Sáu trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền của thành phố Đà Nẵng sẽ chính thức khánh thành đồng loạt đi vào hoạt động từ Ngày Khai giảng năm học mới 2026 - 2027. 

Giữ màu xanh rừng lim cổ thụ nơi biên giới

Giữ màu xanh rừng lim cổ thụ nơi biên giới

Hơn 60 ha rừng lim xanh với hàng nghìn cây gỗ quý có tuổi đời nhiều thập kỷ tại vùng biên giới Hà Tĩnh đang được Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn bảo vệ nghiêm ngặt. Giữa điều kiện thời tiết nắng nóng, lực lượng quản lý rừng vẫn duy trì tuần tra, kiểm soát cửa rừng, chủ động phòng cháy, chữa cháy và ứng dụng công nghệ để kịp thời phát hiện những nguy cơ bất thường.

Xây dựng chuỗi giá trị gắn nông nghiệp với du lịch, dịch vụ

Xây dựng chuỗi giá trị gắn nông nghiệp với du lịch, dịch vụ

Sau một năm vận hành chính quyền địa phương hai cấp, xã miền núi Cao Bồ (Tuyên Quang) từng bước ổn định tổ chức, nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở và tạo chuyển biến trong phục vụ người dân. Từ lợi thế về chè Shan tuyết, cá tầm, ruộng bậc thang và văn hóa Dao, địa phương đang từng bước chuyển từ phát triển sản xuất đơn thuần sang xây dựng chuỗi giá trị gắn nông nghiệp với du lịch, dịch vụ.

Hái lá thu tiền triệu từ cây chúc

Hái lá thu tiền triệu từ cây chúc

Từ loài cây vốn chỉ được trồng để lấy trái, cây chúc ở khu vực miền núi An Giang nay được người dân khai thác thêm giá trị từ những tán lá xanh. Lá chúc được thị trường ưa chuộng, trở thành nguồn thu nhập thường xuyên, mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho nhiều hộ dân ở vùng Bảy Núi An Giang.

Con đường mang tên hạnh phúc ở vùng cao xứ Lạng

Con đường mang tên hạnh phúc ở vùng cao xứ Lạng

Một con đường dài gần 3 km, rộng 3 m, xuyên qua đồi núi, vực sâu kết nối khu dân cư Lân Nóng, thôn Loi, xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn với bên ngoài đã được hoàn thành sau hơn 5 tháng thi công thần tốc.

Không để trường phổ thông nội trú biên giới xây xong nhưng chậm đưa vào hoạt động

Không để trường phổ thông nội trú biên giới xây xong nhưng chậm đưa vào hoạt động

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Công văn số 5241/BGDĐT-GDPT gửi Ủy ban nhân dân 22 tỉnh, thành phố, hướng dẫn xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện Đề án tổ chức và vận hành các trường phổ thông nội trú, bảo đảm các trường được đưa vào hoạt động đồng bộ, an toàn, hiệu quả ngay từ năm học 2026-2027.

Trao 'cần câu' tạo sinh kế bền vững cho các hộ nghèo ở vùng khó khăn

Trao 'cần câu' tạo sinh kế bền vững cho các hộ nghèo ở vùng khó khăn

Từ những con trâu, con bò, đàn gia cầm được hỗ trợ, nguồn vốn ưu đãi được vay để đầu tư sản xuất, nhiều hộ nghèo, cận nghèo ở Thanh Hóa đang từng bước tạo dựng sinh kế, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống. Không chỉ giúp người dân có thêm tư liệu sản xuất, các chính sách hỗ trợ còn tạo điều kiện để mỗi gia đình chủ động phát triển kinh tế, từng bước thoát nghèo.

45 năm người mẹ vùng biên ngóng tin con

45 năm người mẹ vùng biên ngóng tin con

Dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh, nơi những dãy núi trùng điệp ôm lấy vùng biên giới Thanh Thủy (Tuyên Quang), có một người mẹ đã dành gần trọn cuộc đời để nhớ về người con trai cả hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. 

Quảng Trị: Mưa lũ chia cắt nhiều bản làng vùng biên giới

Quảng Trị: Mưa lũ chia cắt nhiều bản làng vùng biên giới

Sáng 11/8, UBND xã A Dơi, tỉnh Quảng Trị thông tin, mưa lớn kéo dài trong những ngày qua khiến nhiều cầu, ngầm, tràn trên tuyến Tỉnh lộ 586 và các tuyến đường dân sinh qua địa bàn xã bị ngập, nước chảy xiết, gây chia cắt giao thông nhiều bản làng, ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân.

Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang

Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang

Những con đường bê tông nối dài, những ngôi nhà kiên cố, cùng các mô hình sản xuất, làng nghề truyền thống ngày một khởi sắc đang cho thấy diện mạo mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh An Giang đang đổi thay từng ngày.

Phát huy sức dân ngăn chặn buôn lậu trên tuyến biên giới

Phát huy sức dân ngăn chặn buôn lậu trên tuyến biên giới

Tỉnh An Giang có đường biên giới đất liền dài gần 150 km, bờ biển dài khoảng 200km, vùng biển rộng 63.000 km², có nhiều cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia và nhiều sông, rạch, đường mòn lối mở nên tình hình buôn lậu thuốc lá diễn biến khá phức tạp.

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành 4 trường nội trú vùng biên trước 25/8

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành 4 trường nội trú vùng biên trước 25/8

Ngày 10/8, ông Hồ Văn Niên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy cùng đoàn công tác tỉnh Quảng Ngãi đã đi kiểm tra, nắm tình hình, tiến độ xây dựng 4 Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền Rờ Kơi, Mô Rai, Sa Loong và Dục Nông.