70 năm Chiến thắng Tây Bắc (1952-2022): Bước phát triển mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng

70 năm Chiến thắng Tây Bắc (1952-2022): Bước phát triển mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng

Cách đây 70 năm, từ ngày 14/10 đến 10/12/1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tổ chức thành công Chiến dịch Tây Bắc. Chiến thắng này là sự kiện lịch sử quan trọng, có ý nghĩa lịch sử mang tầm chiến lược, khẳng định bước phát triển mới trong tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Đó là kết quả của việc nắm vững quy luật vận động cách mạng và chiến tranh giải phóng ở nước ta; khẳng định bước phát triển của nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

70 năm Chiến thắng Tây Bắc (1952-2022): Bước phát triển mới trong chỉ đạo chiến lược của Đảng ảnh 1

Tây Bắc - địa bàn chiến lược quan trọng

Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng. Từ đây, địch có thể uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho Thượng Lào. Lực lượng địch chiếm đóng ở Tây Bắc có 8 tiểu đoàn và 43 đại đội, 11 khẩu pháo bố trí phân tán trên 144 cứ điểm, gồm phần lớn là quân ngụy. Lực lượng Âu-Phi có 3 tiểu đoàn chốt ở Sơn La, Lai Châu làm nhiệm vụ cơ động; ngoài ra có tiểu đoàn dù ở Hà Nội khi cần, dùng đường không cơ động đến tăng viện.

Vùng Tây Bắc thời kỳ này gồm 5 tỉnh là Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Nghĩa Lộ là vùng rừng núi rộng lớn, hiểm trở, đất rộng, người thưa. Phía Tây giáp với 2 tỉnh của Lào (Phong Xa Lỳ, Sầm Nưa), phía Đông giáp với căn cứ địa Việt Bắc, phía Bắc là biên giới Việt Nam-Trung Quốc (đối diện tỉnh Lào Cai là tỉnh Vân Nam), phía Nam giáp với tỉnh Hòa Bình, thông với Liên khu 3 và Liên khu 4. Sông Thao, sông Mã, sông Đà là ba con sông lớn, quanh năm nước chảy xiết và chia cắt Tây Bắc thành các khu vực.
Đường vào Tây Bắc chỉ có hai trục lớn là đường số 41 từ Hòa Bình đi Mộc Châu (Sơn La) và đường số 13 từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ. Đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc chủ yếu là Mông, Dao, Thái, Mường và Kinh có lịch sử phát triển lâu đời, có truyền thống yêu nước, cách mạng.

Tầm nhìn và chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Chiến thắng Tây Bắc 1952 bắt nguồn từ tầm nhìn chiến lược, đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng, trong đó nội dung cốt lõi là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, vừa kháng chiến, vừa kiến quốc.

Rút kinh nghiệm từ các chiến dịch trước, bước sang năm 1952, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chuyển hướng, chọn địa bàn Tây Bắc để mở chiến dịch trong Thu Đông 1952.

Nhận định, Tây Bắc là địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, nhưng do địch khủng bố, ra sức tuyên truyền xuyên tạc, nên hiểu biết của nhân dân về cách mạng, về đường lối kháng chiến của Đảng chưa đầy đủ, cơ sở quần chúng của cách mạng yếu, phong trào du kích chiến tranh phát triển không đều. Kinh tế nghèo, lạc hậu, đời sống nhân dân rất khó khăn, Bộ Chính trị đề ra ba nhiệm vụ cho Chiến dịch Tây Bắc, đó là: tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch; tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc. Ba nhiệm vụ có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính. Như vậy, nhiệm vụ Chiến dịch Tây Bắc đã phản ánh sự kết hợp chặt chẽ, rõ nét hơn giữa nhiệm vụ quân sự với nhiệm vụ chính trị, đây cũng là nét mới về tư duy nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật chiến dịch nói riêng của Đảng ta.

Về tổ chức lực lượng, Bộ Chính trị nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy, điều động các đại đoàn chủ lực (308, 312, 316) và một số đơn vị binh chủng cùng lực lượng vũ trang địa phương tham gia chiến dịch, do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy. Tổng quân số trực tiếp chiến đấu trong phạm vi chiến dịch khoảng 35.000 quân (không kể quân số các hướng nghi binh phối hợp). Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được cử làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.

Về công tác hậu cần, Trung ương Đảng đặc biệt coi trọng, vì Tây Bắc là chiến trường xa căn cứ hậu phương của ta, địa hình rừng núi hiểm trở, nguồn nhân lực, vật chất tại chỗ hạn chế. Nhưng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, ta đã huy động được gần 20 vạn dân công từ khắp các Liên khu Việt Bắc, Khu Tây Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4 với tổng số gần 7 triệu ngày công tham gia phục vụ chiến dịch. Các địa phương đã cung cấp cho chiến dịch hơn 11.000 tấn gạo, cùng hàng trăm tấn thực phẩm, vật chất. Có thể nói, trong bối cảnh chiến tranh và khó khăn ngày ấy, đây là cố gắng phi thường, biểu hiện ý chí cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi cuối cùng của kháng chiến.

Đặc biệt trong chiến dịch này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự Hội nghị cán bộ bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Tây Bắc (diễn ra từ ngày 6 đến 9/9/1952) động viên cán bộ, chiến sĩ, dân công toàn mặt trận.

Về tổ chức, sử dụng lực lượng: nét nổi bật về tổ chức, sử dụng lực lượng trong Chiến dịch Tây Bắc là ta đã tập trung lực lượng tiến công, đột phá liên tục, tiêu diệt từng khu vực phòng ngự gồm nhiều cứ điểm, cụm cứ điểm của địch; kết hợp chặt chẽ giữa sử dụng lực lượng tiến công địch trong công sự với lực lượng ngăn chặn, đón lõng địch phản kích hoặc rút lui. Trong thực hành chiến dịch, ta linh hoạt tổ chức hướng vu hồi nhằm nghi binh hướng tiến công chủ yếu, góp phần giải phóng một vùng đất rộng lớn, phá vỡ phòng tuyến phía nam Lai Châu của địch; kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng tiến công chính diện với lực lượng bao vây, vu hồi, chia cắt. Để bảo đảm chắc thắng, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức lực lượng bao vây, kiềm chế, đánh chiếm các cứ điểm lân cận vòng ngoài; tập trung lực lượng ưu thế vào mục tiêu chủ yếu, tổ chức đội hình tiến công thành các bộ phận: Bộ phận tiến công trên hướng chủ yếu, thứ yếu; bộ phận tạo thế chặn viện, dương công; bộ phận hỏa lực chi viện chung; bộ phận hỏa lực chi viện trực tiếp.

Để giữ bí mật hướng chiến dịch, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo làm tốt công tác phòng gian, bảo mật; đồng thời tổ chức kế hoạch nghi binh rất chu đáo, chặt chẽ. Ta đưa một bộ phận quân chủ lực (Đại đoàn 320, Đại đoàn 304) cùng một số đại đội trinh sát của Bộ về tăng cường hoạt động ở Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình (thuộc đồng bằng Liên khu 3). Các đại đoàn trực tiếp tham gia chiến dịch Tây Bắc (308, 312, 316) đang đứng chân ở trung du Bắc Bộ được lệnh cơ động về Tây Bắc, để lại hệ thống điện đài thường dùng nguyên vị trí cũ và phát sóng theo phiên thường lệ... Hoạt động nghi binh đó của ta đã “đánh lừa” được Bộ chỉ huy quân Pháp. Chúng nhận định các đại đoàn 308, 312, 316 của ta “án binh bất động” ở trung du Bắc Bộ và phán đoán hướng tiến công chủ yếu của ta trong Thu Đông 1952 là đồng bằng Bắc Bộ và tìm cách chuẩn bị đối phó. Khi ta nổ súng chiến dịch Tây Bắc, quân Pháp rất bất ngờ, nhanh chóng rơi vào tình thế bị động, lúng túng và chịu thất bại. Đây cũng là nét đặc sắc về nghệ thuật nghi binh tài tình của ta.

Với cách đánh và tổ chức lực lượng phù hợp, Chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt và bắt hơn 6.000 tên địch; nhiều tiểu đoàn, đại đội thuộc các binh đoàn cơ động địch bị xóa sổ; giải phóng một vùng địa bàn chiến lược quan trọng (khoảng 30.000 km2 với 250.000 dân), nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với Căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch, đảo lộn thế bố trí chiến lược của quân Pháp trên toàn chiến trường Đông Dương, như tướng Pháp Nava (P. Henri Navarre) trong cuốn “Đông Dương hấp hối” sau này đã thừa nhận: thất bại tại Tây Bắc đã làm tăng khó khăn từ phạm vi Việt Nam ra đến toàn Đông Dương và hoàn toàn bất ngờ đối với phía Pháp.

Ý nghĩa lịch sử

Chiến thắng Tây Bắc 1952 đã đi vào lịch sử kháng chiến giành độc lập dân tộc, là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự, chính trị, kinh tế, tạo ra thế và lực mới để tiến hành cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Về quân sự, Chiến thắng Tây Bắc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch (diệt, bắt sống và làm bị thương trên 6.000 tên địch), thu nhiều vũ khí trang bị. Đập tan thế bố trí lực lượng của địch tại vùng Tây Bắc và các cuộc hành quân, chi viện của địch, đẩy địch vào thế co cụm, phòng ngự bị động trên một số khu vực (Nà Sản).

Về chính trị, kinh tế, Chiến thắng Tây Bắc đã giải phóng được một vùng rộng lớn đất đai ở địa bàn chiến lược. Những cánh đồng rộng lớn như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Than Uyên, Quang Huy, Phù Yên lắm thóc, nhiều lâm thổ sản đã thuộc về ta, góp phần tạo thuận lợi cho việc xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân, cơ sở Đảng, cơ sở chính trị và tiềm lực cho kháng chiến; mở rộng hậu phương kháng chiến, tạo điều kiện thuận lợi cuộc tiến công chiến lược Đông xuân 1953-1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam đó là giành và giữ vững được quyền chủ động trên chiến trường. Ta hoàn toàn chủ động lựa chọn chiến trường, mục tiêu và cách đánh với những lực lượng, quy mô khác nhau. Việc mở rộng được các vùng giải phóng, đặc biệt là kết nối thủ đô kháng chiến Việt Bắc với Tây Bắc, với Thượng Lào, Trung Quốc và kết nối với chiến trường vùng đồng bằng ở Liên khu 3, Liên khu 4 đã góp phần tăng thêm tiềm lực và tương quan sức mạnh giữa ta và địch, từng bước làm suy yếu và đẩy Pháp vào thế ngày càng bất lợi.

Chiến thắng Tây Bắc đã làm phá sản các chính sách quân sự, chính trị của thực dân Pháp tại Việt Nam, đẩy Pháp vào thế bị động về chiến lược, đồng thời giáng một đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp: Đập tan âm mưu củng cố “Xứ Thái”, “Xứ Nùng tự trị” và từng bước làm thất bại chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”; đẩy thực dân Pháp vào thế bị động, lúng túng về chiến lược (phân tán, mắc kẹt trong mẫu thuẫn giữa tập trung và phân tán; giữa tiến công ra vùng tự do và phòng ngự ở vùng đã kiểm soát; giữa bảo vệ đồng bằng Bắc Bộ và bảo vệ Thượng Lào…).

Chiến thắng Tây Bắc đã khẳng định sự phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam, khả năng tác chiến, hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn ở địa hình rừng núi, xa hậu phương, làm kinh nghiệm quý để ta tổ chức các chiến dịch với quy mô lớn hơn.

Chiến thắng Tây Bắc 1952 là nguồn động viên to lớn đối với quân và dân ta, qua đó góp phần củng cố niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, đường lối kháng chiến của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc thắng lợi.

Chiến thắng Tây Bắc một mặt góp phần giải phóng phần lớn đất đai, dân số trên địa bàn chiến lược, mặt khác tạo điều kiện cho cách mạng Lào, đặc biệt là vùng Thượng Lào phát triển, góp phần thúc đẩy cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương Việt Nam-Lào-Campuchia từng bước phát triển tiến tới thắng lợi hoàn toàn.

Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Tây Bắc là dịp để ôn lại lịch sử cách mạng, tôn vinh và tri ân những cống hiến, hy sinh của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược; tuyên truyền giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chăm lo xây dựng nền quốc phòng toàn dân ngày càng vững mạnh; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Phương Anh (tổng hợp)

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Bàn giao 30 nhà Đại đoàn kết cho người nghèo khu vực biên giới biển

Bàn giao 30 nhà Đại đoàn kết cho người nghèo khu vực biên giới biển

Chiều 9/7, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ phối hợp cùng Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố và chính quyền địa phương các xã Lai Hòa, Vĩnh Hải tổ chức lễ bàn giao 30 căn nhà "Đại đoàn kết" cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn khu vực biên giới biển.

Phú Thọ siết quản lý khai thác khoáng sản trái phép

Phú Thọ siết quản lý khai thác khoáng sản trái phép

Trước thực trạng khai thác khoáng sản trái phép ngày càng tăng, diễn biến phức tạp, tỉnh Phú Thọ đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm siết chặt quản lý tài nguyên khoáng sản, ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép, nhất là đối với đất san lấp tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Khắc phục hậu quả ngập lụt, sạt lở do mưa lớn tại Mường Khương (Lào Cai)

Khắc phục hậu quả ngập lụt, sạt lở do mưa lớn tại Mường Khương (Lào Cai)

Theo UBND xã Mường Khương, tỉnh Lào Cai, mưa lớn kéo dài từ ngày 8 đến 9/7 đã gây nhiều thiệt hại về nhà ở, tài sản và hoa màu, công trình hạ tầng trên địa bàn. Chính quyền địa phương và lực lượng chức năng đã khẩn trương phối hợp, hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả, nhanh chóng ổn định đời sống.

Các phường Móng Cái tập trung khắc phục hậu quả bão số 1

Các phường Móng Cái tập trung khắc phục hậu quả bão số 1

Sau khi bão số 1 quét qua, các địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đang tập trung cao độ lực lượng để khắc phục hậu quả. Tính đến ngày 8/7, các nhu cầu thiết yếu như điện, nước sinh hoạt và hạ tầng viễn thông đã cơ bản được khôi phục, tạo cơ sở để nhân dân sớm ổn định đời sống, khôi phục sản xuất kinh doanh.

Thành lập Tổ thường trực tại công trường xây dựng trường nội trú biên giới

Thành lập Tổ thường trực tại công trường xây dựng trường nội trú biên giới

Theo kế hoạch, tỉnh Quảng Trị triển khai 11 dự án xây dựng trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại khu vực biên giới. Theo thống kê sơ bộ, đến nay các công trình trường học vùng biên trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã hoàn thành khoảng 60-65% khối lượng công việc. Nhiều hạng mục đã hoàn thành phần thô và đang triển khai thi công phần mái, hoàn thiện các hạng mục kỹ thuật.

Tăng tốc xây dựng Trường nội trú liên cấp Sơn Vĩ

Tăng tốc xây dựng Trường nội trú liên cấp Sơn Vĩ

Những ngày đầu tháng 7, trên công trường xây dựng Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Vĩ, xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Từng dãy nhà lớp học, hiệu bộ, ký túc xá, nhà ăn, nhà đa năng đang dần thành hình giữa vùng biên, mở ra kỳ vọng về một môi trường học tập, sinh hoạt tốt hơn cho học sinh nơi đây.

Lai Châu khẩn trương khắc phục thiệt hại do mưa lũ

Lai Châu khẩn trương khắc phục thiệt hại do mưa lũ

Mưa lớn từ tối 7/7 đến sáng nay tiếp tục gây thiệt hại về nhà ở, hoa màu và hạ tầng giao thông tại nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu. Hiện cấp ủy, chính quyền và lực lượng chức năng đang khẩn trương triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả, đảm bảo giao thông thông suốt và hỗ trợ người dân sớm ổn định cuộc sống.

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực biên giới tỉnh Đồng Tháp

Tỉnh Đồng Tháp có đường biên giới đất liền dài hơn 50 km, tiếp giáp tỉnh Prey Veng (Vương quốc Campuchia) với 6 xã, phường biên giới. Được sự quan tâm hỗ trợ của các cấp và các ngành, tình hình kinh tế - xã hội khu vực biên giới ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,42%; thu nhập bình quân đầu người các xã, phường biên giới đạt từ 64 - 84 triệu đồng/năm; an ninh trật tự, an ninh biên giới ổn định.

Mưa lũ gây sạt lở nhiều nơi tại Lai Châu

Mưa lũ gây sạt lở nhiều nơi tại Lai Châu

Sau những ngày mưa lớn, nhiều xã ở Lai Châu như: Nậm Mạ, Nậm Cuổi, Pu Sam Cáp, Than Uyên, Sìn Hồ… bị sạt lở nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến hạ tầng giao thông, ruộng vườn, hoa màu, nhà cửa của người dân.

Tổng lực hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao

Tổng lực hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng cao

Nhờ nỗ lực thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hàng ngàn hộ dân đã được hỗ trợ đất, giải quyết sinh kế, chuyển đổi nghề ổn định cuộc sống. Chính sách đã góp phần giảm nghèo bền vững và tạo động lực phát triển cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Các xã miền núi phía Tây Quảng Ngãi chủ động ứng phó nguy cơ sạt lở

Các xã miền núi phía Tây Quảng Ngãi chủ động ứng phó nguy cơ sạt lở

Hiện nay, phía Tây Quảng Ngãi đang bắt đầu bước vào mùa mưa. Tại một số địa phương thường xuyên xảy ra sạt lở đất như Đăk Plô, Măng Ri, Tu Mơ Rông,… nhiều điểm sạt lở đã được chính quyền địa phương chủ động xử lý, nhằm phòng, chống sạt lở cũng như giảm nguy cơ thiệt hại về người và tài sản do sạt lở gây ra. Bên cạnh đó, nhiều điểm có nguy cơ sạt lở cao cũng được chính quyền địa phương thực hiện cảnh báo để người dân nắm bắt, đề phòng.

Thanh Hóa: Chuyển đổi số trong Đảng - nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở

Thanh Hóa: Chuyển đổi số trong Đảng - nâng cao hiệu quả hoạt động ở cơ sở

Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các đảng bộ xã trên địa bàn Thanh Hóa từng bước đưa chuyển đổi số vào sinh hoạt chi bộ ở các thôn. Từ những buổi sinh hoạt vốn gắn với sổ sách, giấy tờ, nhiều chi bộ đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ số trong điều hành, quản lý và triển khai nghị quyết.

Hoàn thiện khu tái định cư cho đồng bào dân tộc

Hoàn thiện khu tái định cư cho đồng bào dân tộc

Ngày 7/7, Đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội do bà Cao Thị Xuân, Phó Chủ tịch Hội đồng làm Trưởng đoàn đã khảo sát thực tế việc thực hiện các kiến nghị của Hội đồng Dân tộc liên quan đến kết quả giải quyết đơn thư của đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ.

Xây dựng mô hình nhân đạo thống nhất, nâng cao hiệu quả trợ giúp người yếu thế miền núi

Xây dựng mô hình nhân đạo thống nhất, nâng cao hiệu quả trợ giúp người yếu thế miền núi

“Đối với Lạng Sơn, một tỉnh miền núi, biên giới có nhiều xã vùng cao và đồng bào dân tộc thiểu số, hoạt động nhân đạo cần chuyển mạnh từ hỗ trợ trước mắt sang hỗ trợ phát triển; từ "trao quà" sang "trao cơ hội"; từ giúp một hoàn cảnh sang tạo sinh kế cho cả cộng đồng”. Đây là chỉ đạo của Chủ tịch Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Đỗ Thị Thu Thảo tại Đại hội đại biểu Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tỉnh Lạng Sơn lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026 - 2031, diễn ra sáng 7/7.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bảo vệ chất lượng, giữ giá trị thương hiệu cho na Chi Lăng

Bảo vệ chất lượng, giữ giá trị thương hiệu cho na Chi Lăng

Những vườn na trên địa bàn xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đang bước vào giai đoạn nuôi quả. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng xen kẽ mưa rào, độ ẩm cao đã tạo điều kiện để nhiều đối tượng gây hại cho cây na như nhện đỏ, rệp sáp, bọ trĩ và đặc biệt là ruồi vàng phát triển. Ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đã khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo vệ sản lượng, chất lượng na, giữ gìn thương hiệu đặc sản địa phương.

Cây mắc ca tạo sinh kế bền vững cho vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Cây mắc ca tạo sinh kế bền vững cho vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Từ một xã biên giới đặc biệt khó khăn ở phía Tây tỉnh Lâm Đồng, Quảng Trực đang từng bước chuyển mình nhờ phát huy lợi thế đất đỏ bazan để phát triển cây mắc ca, cà phê gắn với liên kết sản xuất, đầu tư hạ tầng và xây dựng các điểm dân cư biên giới. Những đổi thay này không chỉ tạo sinh kế bền vững cho người dân mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên tuyến biên giới Tây Nam.