Bình Định vài nét tổng quan

Bình Định vài nét tổng quan
1. Vị trí địa lý

Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km². Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông. Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108°54'00 Đông. Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông. Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Qui Nhơn, có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông.

Bình Định được đánh giá là có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào, đông bắc Campuchia.

 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định. Nguồn: binhdinh.gov.vn
Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định. Nguồn: binhdinh.gov.vn

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình

Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, với độ chênh lệch khá lớn (khoảng 1.000m). Các dạng địa hình phổ biến là: Vùng núi, đồi và cao nguyên: chiếm 70% diện tích toàn tỉnh với độ cao trung bình 500 - 1.000m, đỉnh cao nhất là 1.202m ở xã An Toàn (huyện An Lão). Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng. Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp. Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá.

Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha, có độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn từ 10° – 15°.

Vùng đồng bằng: Diện tích khoảng 1.000 km², được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi.

Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian. Bình Định còn có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ, trong đó đảo Nhơn Châu là đảo lớn nhất (364 ha) cách TP. Quy Nhơn 24 km, có trên 2.000 dân.

Ngoài các vùng địa hình đặc trưng nói trên, Bình Định có khá nhiều sông. Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw. Có 4 sông lớn là: Lại Giang, Kôn, La Tinh và Hà Thanh. Nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy hải sản. Đặc biệt, đầm Thị Nại là đầm lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội. Đầm còn được biết đến là một di tích lịch sử - văn hóa và với cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay.

Khí hậu:

Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C; tại vùng duyên hải là 27°C. Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79 – 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối 79%. Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.751mm, cực đại là 2.658mm, cực tiểu là 1.131mm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 – 12; mùa khô kéo dài từ tháng 01 – 8. Cấu tạo địa chất, địa hình, khí hậu làm cho Bình Định tuy không có đồng bằng rộng lớn nhưng có đồng ruộng phì nhiêu, đa dạng về sản phẩm nông, lâm, ngư…, nhiều tài nguyên khoáng sản và tiềm năng thuỷ điện.

3. Dân cư
Năm 2015, dân số tỉnh Bình Định khoảng 1,5 triệu người (chiếm 1,7% dân số cả nước – 90,73 triệu người). Mật độ dân số trung bình 251,1 người/km2, bằng 93% mật độ trung bình của cả nước (274 người/km²); tỷ lệ dân số thành thị chiếm 30,8% (thấp hơn so với trung bình cả nước – 33,1%), nông thôn chiếm 69,2% (cao hơn so với trung bình cả nước – 66,9%).

Bình Định có yếu tố đặc trưng về dân tộc, ngoài dân tộc Kinh (Việt) chiếm 98%, tỉnh còn có các dân tộc khác cùng sinh sống trên địa bàn, trong đó chủ yếu là 3 dân tộc Chăm, Ba NaHrê sinh sống ở các huyện miền núi và trung du.

Dân cư trên địa bàn tỉnh phân bố không đều, dân cư tập trung đông nhất tại khu vực thành phố Quy Nhơn (mật độ dân số trung bình 987người/km2), tiếp đến là tại thị xã An Nhơn (mật độ trung bình 800 người/km2), huyện Hoài Nhơn (mật độ trung bình 750 người/km2); thấp nhất là huyện Vân Canh với 30,9 người/km2.

4. Lịch sử hình thành và phát triển

Cho đến nay, thông qua các đợt khai quật khảo cổ học người ta đã xác định được cách đây trên 2000 năm trên vùng đất Bình Định ngày nay đã có cư dân văn hóa Sa Huỳnh sinh sống. Từ đầu Công nguyên (năm 192) trên dải đất miền Trung Việt Nam đã hình thành một nhà nước cổ đại, đó là Nhà nước Chăm-pa. Nhà nước Chăm-pa được xây dựng trên một nền tảng văn hóa hết sức rực rỡ, nó kế thừa những thành tựu của nền văn hóa Sa Huỳnh trước đó, đồng thời tiếp thu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa cùng nhiều yếu tố của các nền văn hóa khác trong khu vực. Nhà nước Chăm-pa với sự khởi nguồn từ năm 192 đã kết thúc vai trò lịch sử riêng của mình vào nửa cuối thế kỷ XVII, chấm dứt sự tồn tại đầy oanh liệt của mình trong suốt 16 thế kỷ.

Bình Định là vùng đất trung tâm của miền Trung Việt Nam với gần 5 thế kỷ giữ vai trò trung tâm của nhà nước Chăm-pa, mặc dù có nhiều bước thăng trầm, chiến tranh xảy ra liên miên, nhưng văn hóa Chăm-pa ở đây vẫn phát triển cho đến khi nhà nước Chăm-pa mất vai trò lịch sử. Dấu tích văn hóa của thời kỳ nhà nước Chăm-pa tồn tại trên đất Bình Định còn để lại vô cùng phong phú, đa dạng về loại hình, nhiều về số lượng và trở thành đối tượng quan trọng trong việc tiếp tục nghiên cứu khảo cổ về Bình Định.

Tháng 7 năm 1471, vua Lê cho lập phủ Hoài Nhơn gồm 3 huyện là: Bồng Sơn, Phù Ly và Tuy Viễn. Từ đó người Việt bắt đầu tiến vào sinh sống trên vùng đất Bình Định ngày nay. Năm 1490 (chưa đầy 20 năm sau), theo Thiên nam dư hạ tập cho biết: dưới thời Hồng Đức, Phủ Hoài Nhơn có 19 tổng và 100 xã.

Năm 1570, Nguyễn Hoàng, người được vua Lê cử trấn nhậm hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam lúc bấy giờ có cả phủ Hoài Nhơn.

Năm 1602, chúa Nguyễn Hoàng cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Nhơn.

Năm 1651, dưới thời Nguyễn Phúc Tần, chúa cho đổi phủ Hoài Nhơn thành phủ Quy Ninh. Năm 1702, chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lấy lại tên cũ là Quy Nhơn và vẫn được gọi suốt thời kỳ Tây Sơn. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt các đạo làm dinh, nhưng cấp phủ vẫn giữ nguyên. Phủ Quy Nhơn vẫn thuộc về dinh Quảng Nam, đặt các chức tuần phủ và khám lý để cai trị. Phủ lỵ được dời ra phía Bắc thành Đồ Bàn, đóng tại thôn Châu Thành (nay thuộc xã Nhơn Thành, An Nhơn).

Từ thời các chúa Nguyễn, ở đàng Trong nói chung, Bình Định nói riêng đã có sự phân hóa giàu nghèo, địa vị khác nhau và các tầng lớp trong xã hội. Đặc biệt vào đầu thế kỷ XVII, vấn đề trên càng trở nên mâu thuẫn sâu sắc. Cho đến trước cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn 1771, ở Bình Định đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Chàng Lía: cướp của nhà giàu, chia cho dân nghèo, trừng phạt quan lại hống hách bức hiếp dân. Nhưng tồn tại chẳng được bao lâu, cuộc khởi nghĩa của Lía bị thất bại.

Năm 1773, cuộc khởi nghĩa nông dân của ba anh em nhà Tây Sơn do Nguyễn Nhạc đứng đầu đã phát triển xuống Tây Sơn hạ đạo, chiếm lĩnh đất Kiên Thành (nay là Kiên Mỹ) nơi đã từng sinh ra các thủ lĩnh Tây Sơn. Nguyễn Nhạc tự xưng là đệ nhất trại chủ cai quản hai huyện là Phù Ly và Bồng Sơn. Cùng trong năm đó (1773), nghĩa quân Tây Sơn tiếp tục đánh chiếm phủ thành Quy Nhơn.

Tháng 3 năm 1776, Nguyễn Nhạc cho sửa chữa và xây thêm thành Đồ Bàn, rồi đổi tên là thành Hoàng Đế, tự xưng Tây Sơn vương, cho đúc ấn vàng, phong cho Nguyễn Lữ làm Thiếu phó, Nguyễn Huệ làm Phụ chính, các tướng lĩnh khác đều được phong chức cho tương xứng với một chính quyền Trung ương mới được thành lập. Năm 1793, sau khi vua Quang Trung chết, Nguyễn Ánh đem quân đánh thành Hoàng Đế. Nguyễn Nhạc bị bệnh sai con là Nguyễn Bảo chỉ huy kháng cự. Quân của Nguyễn Bảo bị thua, bỏ chạy. Vua Quang Toản sai thái úy Phạm Công Hưng, hộ giá Nguyễn Văn Huấn, Đại tư lệ Lê Trung, Đại tư mã Ngô Văn Sở cùng tướng thủy quân là Đặng Văn Chân từ Phú Xuân vào cứu viện, đánh quân Nguyễn Ánh. Quân Nguyễn Ánh thua chạy. Quân Quang Toản vào thành, Nguyễn Nhạc mang vàng bạc ra khao quân. Phạm Công Hưng và các tướng lĩnh ra lệnh tịch thu châu báu và binh giáp các kho rồi chiếm thành. Nguyễn Nhạc phẫn uất hộc máu chết.

Từ năm 1793 – 1799, thành Hoàng Đế đổi thành phủ Quy Nhơn dưới vương triều Cảnh Thịnh, cũng là bước đường suy yếu của Tây Sơn.

Từ năm 1799 – 1802, thành Quy Nhơn bị quân Nguyễn Ánh chiếm đóng và đổi làm thành Bình Định và suốt chiều dài lịch sử, đây là trung tâm cai trị của triều Nguyễn tại Bình Định trong những năm đầu thế kỷ XIX.

Đến năm 1885, Bình Định là một tỉnh lớn ở Trung Kỳ, nhiều vùng đất của Gia Lai, Kon Tum còn thuộc về Bình Định.

Năm 1890, thực dân Pháp sát nhập thêm Phú Yên vào Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ là Quy Nhơn. Nhưng đến năm 1899, Phú Yên tách khỏi Bình Phú, Bình Định lại trở thành tỉnh độc lập.

Năm 1907, toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định bãi bỏ tỉnh Plâycu Đe. Một nửa đất đai của tỉnh này cho sát nhập trở lại vào tỉnh Bình Định.

Năm 1913, thực dân Pháp lại sát nhập Phú Yên vào tỉnh Bình Định thành tỉnh Bình Phú.

Năm 1921, thực dân Pháp tách tỉnh Phú Yên ra, lập lại tỉnh Bình Định và kéo dài cho đến năm 1945.

Cùng với cuộc cách mạng tháng Tám long trời, lở đất, ngày 3/9/1945, sau khi khởi nghĩa dành chính quyền thắng lợi UBND cách mạng lâm thời mới của tỉnh lấy tên tỉnh Bình Định là tỉnh Tăng Bạt Hổ. Tuy nhiên tỉnh Tăng Bạt Hổ thay cho tỉnh Bình Định chưa được Trung ương công nhận, trên các văn bản chính thống của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn không thay đổi tỉnh Bình Định, do đó tỉnh Tăng Bạt Hổ tồn tại không được bao lâu.

Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954) Bình Định là tỉnh tự do hoàn toàn, là hậu phương chiến lược trực tiếp của chiến trường khu V, Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Cam-pu-chia. Chín năm kháng chiến gian khổ và anh dũng đó, nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp công, góp sức cùng cả nước đánh thắng thực dân Pháp xâm lược, buộc chúng phải ký Hiệp Định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam.

Tuy nhiên theo tinh thần Hiệp định này, đất nước ta còn tạm thời chia cắt làm 2 miềm: miền Bắc được giải phóng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, trong đó có tỉnh Bình Định còn phải chịu dưới ách thống trị của bọn tay sai đế quốc, chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

Trong khi Hiệp Định Giơnevơ (1954) về Đông Dương ký chưa ráo mực, Đế Quốc Mỹ hất cẳng Pháp nhảy vào miền Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm hòng biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Chính quyền Ngô Đình Diệm chia miền Nam Việt Nam thành hai miền: từ Bình Thuận trở vào gọi là Nam phần; từ Bình Thuận trở ra vĩ tuyến 17 gọi là Trung phần. Trung phần lại chia thành hai khu vực, gọi là Trung nguyên Trung phần và Cao nguyên Trung phần. Tỉnh Bình Định thuộc Trung nguyên Trung phần và vẫn giữ là một đơn vị hành chính cấp tỉnh như trước đây cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30-4-1975).

Trong suốt 20 năm (1954 – 1975), thực hiện lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng về đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ Quốc, quân và dân tỉnh Bình Định đã vượt qua vô vàn hi sinh, gian khổ, chiến đấu anh dũng, kiên cường, bám đất, bám dân góp phần cùng cả nước đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng quê hương yêu dấu của mình vào ngày 31/3/1975.

Từ cuối năm 1975 đến năm 1989, tỉnh Bình Định hợp nhất với tỉnh Quảng Ngãi lấy tên là tỉnh Nghĩa Bình. Trong 15 năm hợp nhất nhân dân Bình Định cùng với nhân dân Quảng Ngãi ra sức khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành cải tạo và phát triển kinh tế-xã hội; giữ vững an ninh quốc phòng, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Từ năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập trở lại từ tỉnh Nghĩa Bình. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, nhân dân Bình Định đã ra sức xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, có nhiều đổi mới về nếp nghĩ trong phát triển kinh tế, tạo nên sự biến đổi sâu sắc trong đời sống của mỗi người dân. Một cuộc sống mới tốt đẹp ở tương lai: ấm no, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh đã và đang được nhân dân Bình Định cùng với cả nước phấn đấu xây dựng.

Theo binhdinh.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Những người không ngủ nơi phên dậu Tổ quốc

Những người không ngủ nơi phên dậu Tổ quốc

Trong những ngày nghỉ lễ dịp 30/4-1/5, trên tuyến biên giới miền Tây Nghệ An, cán bộ, chiến sĩ các đồn biên phòng bước vào cao điểm trực sẵn sàng chiến đấu. Quân số được duy trì nghiêm túc 24/24 giờ, các tổ, chốt được tăng cường, sẵn sàng xử lý mọi tình huống phát sinh, không để bị động, bất ngờ.

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Giữa núi non trùng điệp của Tuyên Quang, những phiên chợ vùng cao hiện lên như bức tranh sống động, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.

Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, chợ còn là không gian gặp gỡ, giao lưu, nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và nét sinh hoạt mộc mạc, chân tình của đồng bào, tạo nên sức hút riêng cho du lịch vùng cao.

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Nằm ở cửa ngõ Tây Nam đất nước, An Giang không chỉ gánh vác sứ mệnh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng mà còn là “cầu nối” chiến lược trong dòng chảy hội nhập quốc tế. Với đường biên giới dài gần 150km, tỉnh vừa giữ vững từng tấc đất biên cương, vừa phát triển kinh tế biên mậu, nâng cao đời sống người dân vùng biên, xây dựng vùng biên giới thành “phên giậu” vững chắc của Tổ quốc.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Nằm giữa lòng vùng Bảy Núi huyền thoại, xã Ô Lâm (tỉnh An Giang) hôm nay không chỉ là bản hùng ca bất tử về tinh thần “kiên cường bám trụ, giữ vững núi Tô”, mà còn là minh chứng sống động cho sự hồi sinh kỳ diệu từ tro tàn chiến tranh. Tựa lưng vào những địa danh lịch sử lừng lẫy, vùng đất căn cứ cách mạng năm xưa đang chuyển mình mạnh mẽ trong vận hội mới, viết tiếp chương sử ấm no trên hành trình xây dựng nông thôn mới trù phú, an lành.

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Mô hình liên kết sản xuất lúa gạo sạch tại xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã chứng minh một điều, khi nông dân, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia, hạt lúa có thêm cơ hội nâng cao giá trị. Quy trình canh tác an toàn, đầu ra ổn định, lợi nhuận tăng là những yếu tố triển vọng để nhân rộng trong thời gian tới.

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

Mùa khô ở Tây Nguyên, giữa nắng như thiêu như đốt trong rừng khộp Buôn Đôn, nài voi của của Trung tâm Bảo tồn voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng tỉnh Đắk Lắk vẫn rong ruổi cùng những chú voi đi tìm kiếm nguồn nước, thức ăn và chăm sóc sức khỏe cho voi.

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

Chăn nuôi ngựa, nhất là ngựa bạch những năm gần đây đang phát triển mạnh ở các địa phương tại tỉnh Lạng Sơn. Vật nuôi này mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng ổn định cuộc sống, nhiều hộ vươn lên làm giàu...

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Không còn bó hẹp trong những chiếc bảng đen, phấn trắng truyền thống, những tiết học tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trung Chải (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) giờ đây trở lên sinh động từ những màn hình tương tác thông minh.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, tiêu chí nước sạch luôn giữ vai trò then chốt trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa, tiêu chí này trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Tuy nhiên, tại khu vực các xã miền núi của tỉnh đang thiếu nhiều công trình cấp nước sạch, nhiều xã đang thiếu nguồn lực đầu tư, gặp khó khăn trong quản lý, vận hành, làm người dân nhiều xã miền núi luôn sống trong cảnh thiếu nước sạch.

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích lúa vụ Đông Xuân ở xã Tuyên Lâm nói riêng, nhiều địa phương miền núi tỉnh Quảng Trị nói chung đối mặt nguy cơ thiếu nước, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối vụ.

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Ngày 28/4, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) phối hợp với tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao công trình Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Bằng những cách làm sáng tạo như Chiến dịch “Ngày thứ 7 hành chính lưu động” hay tổ chức các tổ công tác về tận thôn, xóm, chính quyền các địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý, thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ, gần dân và sát dân.

 Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp, nơi gió hun hút thổi qua từng triền đá xám, Mèo Vạc hôm nay đang chuyển mình bằng một nhịp điệu mới - nhịp điệu của hành động, của đổi thay, bắt đầu từ những nghị quyết được cụ thể hóa ngay từ cơ sở. 

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đang triển khai nhiều giải pháp, từ xây dựng kế hoạch ôn tập thống nhất toàn tỉnh, tổ chức thi thử, hỗ trợ học sinh bán trú đến tăng cường phụ đạo miễn phí, tạo mọi điều kiện để các em tự tin bước vào kỳ thi lớp10 - kỳ thi quan trọng đầu tiên trên hành trình học tập.

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

Vụ chè xuân Shan tuyết đang vào chính vụ tại các xã vùng cao, vùng biên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh như: Thanh Thủy, Cao Bồ, Lao Chải (Tuyên Quang). Những năm gần đây, cây chè không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 28/4, tỉnh Lạng Sơn tổ chức phát động Tháng công nhân và Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động năm 2026 với chủ đề: “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, “Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả công tác an toàn, vệ sinh lao động trong kỷ nguyên số”.

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh Đồng Tháp đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đưa lao động đi làm việc hợp pháp ở nước ngoài hiệu quả hơn, qua đó góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Hoạt động thương mại biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đang có sự gia tăng đáng kể về lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Trước yêu cầu tạo thuận lợi thương mại và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, lực lượng hải quan đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng thu thuế xuất nhập khẩu bền vững và hiệu quả.

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026, thành phố Cần Thơ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận xã hội, sự năng động, sáng tạo, chủ động tham gia trực tiếp của người dân đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững.