Điểm tựa cho sinh viên nghèo

Đầu năm học mới, nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội đã kịp thời tiếp sức cho hàng nghìn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đồng Nai. Nhờ sự hỗ trợ thiết thực này, gánh nặng chi phí học tập đã được giải tỏa, giúp gia đình và các em an tâm hơn tiếp tục bám trường bám lớp để thực hiện ước mơ con chữ vào giảng đường.

vay1-16925.jpg
Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Phú Riềng (tỉnh Đồng Nai) thực hiện giải ngân ngồn vốn chính sách cho sinh viên trên địa bàn xã Long Hà, Phú Riềng, Bình Tân và Phú Trung.

Ghi nhận tại xã vùng sâu Phú Trung, tỉnh Đồng Nai, dù đã có tâm trạng vui nhưng ánh mắt vẫn còn đó nỗi lo âu, ông Điểu Brăng (52 tuổi) ở thôn Bình Trung kể lại câu chuyện về hành trình đến trường của con trai mình. Gia đình ông Brăng thuộc diện hộ đồng bào dân tộc thiểu số S’tiêng còn nhiều khó khăn. Vợ chồng ông Brăng cùng ba người con, năm miệng ăn đều trông cậy vào sản xuất nông nghiệp, đi làm thuê. Cuộc sống vốn đã vất vả, nhưng rồi niềm vui lớn lao đã đến khi người con trai duy nhất đỗ vào Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Niềm vui vỡ òa, không chỉ gia đình ông Brăng mà cả dòng họ đều mừng cho con cháu. Thế nhưng, đằng sau niềm tự hào ấy là nỗi trăn trở về chi phí ăn học. Ông Điểu Brăng chia sẻ: "Khi con tôi đậu đại học, gia đình và dòng họ rất mừng. Nhưng khi nghĩ đến chi phí để đi học, gia đình lại lo lắng".

Tưởng chừng ước mơ của con sẽ phải tạm gác lại thì may mắn thay, gia đình ông Brăng đã được chính quyền địa phương giới thiệu về nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội. Với số tiền 60 triệu đồng từ gói vay sinh viên, gánh nặng tài chính như được cởi bỏ, giúp con ông Brăng có thể yên tâm nhập học đúng kỳ. “Có được nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách, gia đình tôi rất vui mừng và đỡ lo lắng trước mắt. Chúng tôi sẽ cố gắng làm ăn, dành dụm để phát triển kinh tế, trả lại tiền đã vay. Gia đình chúng tôi cảm ơn các cấp chính quyền và Ngân hàng đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho con được đến trường theo đúng ước mơ”, ông Brăng chia sẻ thêm.

Khoản tiền vay 60 triệu đồng không chỉ là một sự hỗ trợ tài chính, mà còn là một niềm tin, một động lực để gia đình ông Điểu Brăng tiếp tục nỗ lực. Niềm vui được nhân lên khi không chỉ gia đình ông Điểu Brăng mà nhiều hộ khác cũng được tiếp sức.

Cũng tại xã Phú Trung, gia đình ông Trần Ngọc Minh ở thôn Phú Tâm là một trong những hộ được hưởng lợi từ chính sách ý nghĩa này. Với hai người con đang là sinh viên tại Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Văn Hiến, nỗi lo về tài chính từng là gánh nặng lớn. Ông Minh xúc động chia sẻ, gia đình gặp nhiều khó khăn nên khi các con đi học, ông rất lo lắng không biết có thể lo đủ chi phí hay không. Nhờ có nguồn vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội Phú Riềng, gia đình ông đã có thể làm hồ sơ cho hai con vay mỗi suất 40 triệu đồng. Nhờ vậy, các con ông đã có thể tiếp tục học hành.

Người dân nhận tiền vay vốn sinh viên từ Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Phú Riềng, tỉnh Đồng Nai.

Người dân nhận tiền vay vốn sinh viên từ Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Phú Riềng, tỉnh Đồng Nai.

Cùng chung niềm vui, gia đình bà Lê Thị Hương, cũng thuộc diện hộ khó khăn ở thôn Phú Tâm, bày tỏ sự biết ơn khi được vay vốn để con theo học đại học. Theo bà Lê Thị Hương, tháng vừa rồi, gia đình bà mới làm hồ sơ cho con vay được 120 triệu đồng. Nhờ có nguồn vốn này, người con có thể yên tâm vào đại học mà không phải lo lắng về chi phí. Lãi suất thấp, thủ tục lại nhanh gọn, điều này thực sự giúp đỡ gia đình bà Hương rất nhiều. Con vào đại học là niềm tự hào lớn, giờ đây cả nhà đã an tâm hơn để cháu được chuyên tâm học hành, thực hiện ước mơ của mình.

Sự thành công của chương trình không thể thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng và chính quyền địa phương. Bà Phạm Thị Phông, Phó Chủ tịch UBND xã Phú Trung, cho biết, Chính quyền địa phương đã phối hợp chặt chẽ với Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội để rà soát, xác nhận đúng đối tượng, đảm bảo các hộ nghèo, cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số, hộ có hoàn cảnh khó khăn có con em học đại học, cao đẳng đều được tiếp cận nguồn vốn này một cách sớm và kịp thời.

Những hỗ trợ kịp thời từ chính quyền và ngân hàng đã mang lại niềm vui lớn cho các hộ gia đình ngay đầu năm học mới. Đây là nguồn vốn có ý nghĩa vô cùng to lớn, không chỉ giúp các em học sinh, sinh viên tiếp tục con đường học vấn để hướng tới tương lai mà còn góp phần phát triển kinh tế gia đình và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cho đất nước.

Ông Nguyễn Minh Tú, Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Phú Riềng, nhấn mạnh rằng hoạt động giải ngân cho vay học sinh - sinh viên đang được triển khai khẩn trương và hiệu quả tại địa bàn xã Bình Tân, Long Hà, Phú Riềng và Phú Trung. Chương trình đã được triển khai nhiều năm qua và đã giúp rất nhiều em sinh viên hiện thực hóa giấc mơ tri thức của mình. Thủ tục vay vốn đơn giản, giải ngân kịp thời đã giúp nhiều sinh viên an tâm bước vào giảng đường, không còn nỗi lo về tài chính.

Nguồn vốn vay ưu đãi không chỉ là giải pháp tài chính mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Đây là lời khẳng định rằng sẽ không có bất kỳ học sinh, sinh viên nào bị bỏ lại phía sau vì hoàn cảnh khó khăn. Hiện nay, Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội Phú Riềng đã hỗ trợ vay vốn cho 1.517 sinh viên với tổng số tiền giải ngân lên tới 78.344 triệu đồng; trong đó 109 hộ dân tộc thiểu số.

Nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội đã trở thành một điểm tựa vững chắc, chắp cánh ước mơ con chữ cho học sinh, sinh viên nghèo ở tỉnh Đồng Nai. Đây không chỉ là sự hỗ trợ tài chính kịp thời mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ rằng giáo dục là quyền của mọi người, không ai bị bỏ lại phía sau vì khó khăn kinh tế. Nhờ có nguồn vốn này, các em đã có thể an tâm học tập, chắp cánh ước mơ con chữ và vun đắp tương lai tươi sáng, góp phần xây dựng nguồn nhân lực phát triển quê hương, đất nước./.

Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

Dự án xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp hối hả về đích

Dự án xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp hối hả về đích

Để bảo đảm hoàn thành xây dựng giai đoạn I và kịp thời tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2026-2027 đồng loạt vào ngày 5/9 tới, tỉnh Tuyên Quang đang huy động tối đa nguồn lực, quyết tâm tăng tốc đưa các dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở đi vào hoạt động đúng kế hoạch.

Đắk Lắk ra mắt Bản đồ số nông sản và phát động chiến dịch '30 ngày đêm' chuẩn hóa dữ liệu sầu riêng

Đắk Lắk ra mắt Bản đồ số nông sản và phát động chiến dịch '30 ngày đêm' chuẩn hóa dữ liệu sầu riêng

Ngày 7/8, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị công bố ra mắt “Bản đồ số nông sản, sản phẩm OCOP, du lịch thôn buôn trên nền tảng số” và phát động chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sầu riêng trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm tích hợp đồng bộ công nghệ số vào chuỗi giá trị nông nghiệp và phát triển nông thôn địa phương.

Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững

Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia đang phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo đảm an sinh xã hội, trở thành đòn bẩy thiết thực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên. Tại Cần Thơ, thông qua việc triển khai đồng bộ các nguồn lực, mô hình hỗ trợ chăn nuôi bò sinh sản đang mang lại hiệu quả rõ nét, giúp nhiều hộ đồng bào Khmer ổn định sinh kế, thoát nghèo bền vững và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ học sinh vùng xa, vùng biên giới

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ học sinh vùng xa, vùng biên giới

Đối với nhiều học sinh vùng xa, vùng biên giới Tây Ninh, những bữa cơm bán trú không chỉ giúp các em có thêm dinh dưỡng mà còn tiếp thêm động lực để duy trì việc đến trường mỗi ngày. Chính sách hỗ trợ gạo của Nhà nước đang được địa phương triển khai hiệu quả, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng tổ chức bán trú tại các cơ sở giáo dục.

Bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh vùng biên

Bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh vùng biên

Đắk Lắk đang khẩn trương hoàn thiện điều kiện để đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027, góp phần bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bất cập việc ngừng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Nam Cát Tiên

Bất cập việc ngừng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Nam Cát Tiên

Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đang ngừng hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng với gần 200 hộ dân là hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ người Kinh thuộc diện nghèo. Việc làm này khiến hầu hết các hộ dân không đồng tình, trong khi chính quyền địa phương đánh giá việc giao khoán là một mô hình hiệu quả, hài hòa giữa giữ rừng và an sinh xã hội cho người dân.

Khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Thành phố Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng và phát triển ngành y tế đến năm 2030 đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của người dân để trở thành hạt nhân của trung tâm y tế chuyên sâu, khám chữa bệnh chất lượng cao của khu vực và hội nhập quốc tế. Với sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng công nghệ hiện đại, Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Quản lý và cấp mã số vùng trồng tạo 'luồng xanh' cho xuất khẩu

Quản lý và cấp mã số vùng trồng tạo 'luồng xanh' cho xuất khẩu

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng để nông sản Lâm Đồng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ mở rộng diện tích được cấp mã số, tỉnh đang tăng cường hậu kiểm, quản lý dữ liệu và kiểm soát chặt nguồn gốc nông sản để tạo “luồng xanh” cho xuất khẩu chính ngạch.

Gia cố thế trận chống buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Ninh

Gia cố thế trận chống buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Ninh

Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển trái phép hàng hóa luôn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác quản lý, kiểm soát biên giới. Trước phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, Tây Ninh đang tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, chủ động nhận diện nguy cơ, triển khai đồng bộ các giải pháp, từng bước gia cố thế trận chống buôn lậu từ tuyến biên giới đến nội địa.

Quảng Trị phân bổ hơn 2.134 tỷ đồng cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia

Quảng Trị phân bổ hơn 2.134 tỷ đồng cho ba Chương trình mục tiêu quốc gia

Tỉnh Quảng Trị vừa ban hành Quyết định phân bổ kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch năm 2026 từ nguồn vốn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đưa Nghị quyết 57 vào từng công việc ở cơ sở

Đưa Nghị quyết 57 vào từng công việc ở cơ sở

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển.

Xác minh vụ cưa hạ nhiều cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã ở Gia Lai

Xác minh vụ cưa hạ nhiều cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã ở Gia Lai

Hàng chục cây xanh trong khuôn viên trụ sở xã H'Bông cũ, nay là xã Ia Hrú đã bị cưa hạ tận gốc, điều này đặt ra “dấu hỏi’’ về công tác quản lý tài sản công sau sáp nhập tại một số địa phương ở Gia Lai. Đáng chú ý, đây là địa phương thứ ba tại Gia Lai xuất hiện phản ánh liên quan đến trách nhiệm quản lý tài sản công sau sáp nhập.

Quảng Ngãi: Sáp nhập thôn - Hòa nhập cùng phát triển

Quảng Ngãi: Sáp nhập thôn - Hòa nhập cùng phát triển

Sau sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố, tỉnh Quảng Ngãi hiện còn 1.098 thôn, tổ dân phố, giảm 612 đơn vị so với trước sắp xếp. Đáng chú ý, nhiều thôn ở phía Tây tỉnh Quảng Ngãi được sáp nhập từ các thôn cũ có nhiều dân tộc khác nhau, tạo nên thôn mới đa dạng hơn về thành phần dân tộc; đồng thời bà con hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.

Xây dựng ‘cột mốc lòng dân’ vững chãi nơi biên cương

Xây dựng ‘cột mốc lòng dân’ vững chãi nơi biên cương

Tây Ninh đang bước vào một cuộc chuyển mình lịch sử với lộ trình bứt phá toàn diện giai đoạn 2026-2030, trọng tâm là xây dựng nông thôn mới hiện đại và giảm nghèo đa chiều. Địa phương không chỉ đặt mục tiêu đưa 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới mà còn hướng tới một cột mốc mang tính nhân văn sâu sắc: Phấn đấu không còn hộ nghèo theo chuẩn Trung ương vào năm 2030. Tổng nguồn lực huy động dự kiến hơn 17.411 tỷ đồng được xem là "đòn bẩy" chiến lược để vùng đất biên cương nâng tầm vị thế, đảm bảo sự phát triển hài hòa và không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình đô thị hóa.

Tháo gỡ rào cản công nghệ, đưa chuyển đổi số ở vùng biên đi vào thực chất ​

Tháo gỡ rào cản công nghệ, đưa chuyển đổi số ở vùng biên đi vào thực chất ​

Ở xã biên giới Đăk Ơ (thành phố Đồng Nai), đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 40%, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã đang từng bước đổi mới để phục vụ người dân tốt hơn. Từ việc thành lập các tổ hỗ trợ tận thôn đến áp dụng nguyên tắc “6 rõ”, chính quyền địa phương nỗ lực công khai, minh bạch quy trình thủ tục hành chính.

Tăng tốc để những ngôi trường vùng biên kịp sáng đèn đón năm học mới

Tăng tốc để những ngôi trường vùng biên kịp sáng đèn đón năm học mới

Năm 2025, tỉnh Thanh Hóa đồng loạt khởi công 6 trường nội trú liên cấp với tổng mức đầu tư khoảng 739 tỷ đồng. Những công trình mang theo kỳ vọng mở rộng cơ hội học tập cho học sinh vùng biên, thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa miền núi và đồng bằng, đồng thời tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nơi phên giậu của Tổ quốc. Theo kế hoạch, 6 trường sẽ hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng trước năm học 2026-2027.

Bước chuyển mình từ chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố

Bước chuyển mình từ chủ trương sáp nhập thôn, tổ dân phố

Thực hiện chủ trương sắp xếp, tổ chức lại thôn, bản theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhiều địa phương của tỉnh Sơn La gặp không ít khó khăn do địa bàn rộng, dân cư phân tán, giao thông đi lại khó khăn và sự khác biệt về phong tục, tập quán, văn hóa giữa các dân tộc. Song, với sự đồng thuận của người dân, chủ trương này đang được triển khai thuận lợi, mở ra không gian phát triển mới, kỳ vọng xây dựng cộng đồng dân cư đoàn kết, phát triển bền vững.

Tăng tốc xây trường liên cấp vùng biên

Tăng tốc xây trường liên cấp vùng biên

Điện Biên đang khẩn trương triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm hoàn thành 9 trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại các xã biên giới trước năm học 2026-2027. Trước áp lực tiến độ tại một số công trình do thiếu nhân lực, ảnh hưởng của thời tiết và biến động giá vật liệu, tỉnh đã huy động cộng đồng doanh nghiệp chung tay hỗ trợ thi công.

Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa

Ưu tiên nguồn lực đầu tư cho y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa

Trước yêu cầu nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Gia Lai xác định ưu tiên nguồn lực đầu tư cho hệ thống y tế cơ sở tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn đặc biệt khó khăn, từng bước thu hẹp khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế giữa các vùng.

Mua bán người - Hành trình trở về từ bóng tối

Mua bán người - Hành trình trở về từ bóng tối

Tội phạm mua bán người thời công nghệ số ẩn mình sau những tài khoản ảo trên mạng xã hội để dẫn dụ nạn nhân rơi vào bẫy hấp dẫn giăng sẵn. Và phía sau mỗi đường dây bị triệt phá là những nạn nhân từng chìm trong bóng tối và hành trình trở về quê hương luôn đầy gian nan.

Gia Lai: Nỗ lực sớm di dời người dân khỏi vùng thiên tai

Gia Lai: Nỗ lực sớm di dời người dân khỏi vùng thiên tai

Sau nhiều năm sống trong vùng thường xuyên ngập lụt, hơn 200 hộ dân thôn Bôn Jứ, xã Ia Tul, tỉnh Gia Lai vui mừng chuẩn bị chuyển đến khu tái định cư mới. Cùng với sự tham gia tích cực của lực lượng quân đội, doanh nghiệp và cộng đồng đang giúp xã Ia Tul tiến gần mục tiêu hoàn thành việc di dời người dân trước mùa mưa bão năm 2026.

Lâm Đồng: Lấy hạ tầng giao thông làm nền tảng phát triển

Lâm Đồng: Lấy hạ tầng giao thông làm nền tảng phát triển

Sau hợp nhất, tỉnh Lâm Đồng trở thành địa phương có diện tích lớn nhất cả nước, sở hữu không gian phát triển rộng lớn với nhiều tiềm năng về công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ và kinh tế biển. Trong bối cảnh đó, phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm tăng cường liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế - xã hội bền vững.

Đưa dịch vụ công số đến gần người dân

Đưa dịch vụ công số đến gần người dân

Ngày 27/7, tại phường Đông Kinh, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn phối hợp cùng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tổ chức triển khai Mô hình Trạm dịch vụ công số.

Ưu tiên ban hành nhiều chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Ưu tiên ban hành nhiều chính sách phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Lâm Đồng đã xem xét, thông qua nhiều nghị quyết quan trọng nhằm tạo thêm nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại Kỳ họp thứ 5 (kỳ họp chuyên đề) Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031, diễn ra sáng 27/7. Đây được xem là bước cụ thể hóa các chương trình mục tiêu quốc gia, đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân vùng dân tộc thiểu số, khó khăn trên địa bàn tỉnh.