Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.
Sau khi nghỉ hưu, bà Hoàng Thị Thoát (dân tộc Thái, sinh năm 1962) vẫn miệt mài đi khắp các bản làng xã Chiềng Sàng cũ (nay thuộc xã Yên Châu, Sơn La), để truyền cho con cháu niềm tự hào và ý thức gìn giữ văn hóa dân tộc Thái.
Hành trình dựng lại không gian văn hóa
Cơ duyên đưa bà Thoát đến với việc tham gia bảo tồn văn hóa dân tộc Thái xuất phát từ những trăn trở rất đời thường. Dù đã biết chữ Thái từ khi còn nhỏ, nhưng theo thời gian, do sử dụng không thường xuyên, nên ngôn ngữ của bà bị mai một đi nhiều. Đến năm 2014, khi có cơ hội học lại chữ Thái, bà như được “đánh thức” một phần ký ức văn hóa đã ngủ quên.
Cũng nhờ đó, bà nhận ra thực tế đáng lo ngại: Nhiều giá trị văn hóa của dân tộc Thái, từ tiếng nói, chữ viết, đến trang phục và phong tục tập quán, đang dần biến mất trong đời sống hàng ngày. Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội, cùng với xu hướng hội nhập, khiến lớp trẻ ít quan tâm hơn đến văn hóa truyền thống. Những hình ảnh quen thuộc như áo cóm, khăn piêu, những câu hát dân ca, hay tiếng Thái trong sinh hoạt gia đình, ngày càng thưa vắng.
Bà Thoát tâm sự: “Lớp thanh niên trẻ mải làm quen với văn hoá hiện đại, nên dần xa rời dân ca, chữ viết và phong tục dân tộc; nếu không có người gìn giữ, thế hệ sau dễ mất gốc, là người Thái nhưng không biết nói, hiểu hay thực hành văn hóa của dân tộc mình”.
Năm 2021, bà Thoát thành lập Câu lạc bộ bảo tồn văn hóa Thái tại địa phương. Những ngày đầu, câu lạc bộ chỉ có hơn 20 hội viên, chủ yếu là những người có chung niềm yêu thích văn hóa dân tộc. Hoạt động lúc đó cũng khá đơn giản, chỉ là các cuộc giao lưu, học hỏi giữa các bản với nhau.
“Không có ai đứng ra bảo vệ và giữ gìn bản sắc thì sẽ mất hết. Và dù có đứng ra, thì cũng không phải vì có lợi ích gì cho bản thân mình, mà là “lợi ích” những đứa bé còn trong bụng mẹ, những đứa trẻ mới lớp 1, lớp 2; vì khi lớn lên, chúng sẽ biết người Thái có bản sắc riêng, biết cách quấn khăn Piêu, biết dệt thổ cẩm”, bà Thoắt chia sẻ.
Theo thời gian, với sự kiên trì và tâm huyết, câu lạc bộ dần phát triển. Đến nay, số lượng hội viên đã tăng lên gần 60 người. Không dừng lại ở giao lưu văn nghệ, câu lạc bộ đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằm phục dựng và lan tỏa văn hóa Thái.
Gìn giữ bằng những hành động thiết thực
Năm 2023, bà Thoát kêu gọi thành lập Nhà bảo tồn văn hóa Thái. Suốt hai tháng, bà lặn lội đến các sở, ban, ngành của tỉnh Sơn La để trình bày, xin ý kiến, mong muốn có một ngôi nhà sàn để lưu giữ hiện vật, tái hiện đời sống và trở thành không gian sinh hoạt, giao lưu văn hóa của cộng đồng người Thái.
Dù nhận được sự đồng thuận của chính quyền, nhưng quá trình triển khai gặp không ít khó khăn: Thiếu quỹ đất, thiếu nhân lực, mọi việc gần như bắt đầu từ con số không… Sau nhiều lần làm việc với chính quyền địa phương, phương án xây dựng bằng nguồn xã hội hóa được lựa chọn.
Không chùn bước, bà tiếp tục rong ruổi khắp các bản làng, trực tiếp vận động từng hộ dân ủng hộ, mỗi nhà 50.000 đồng, ai khá giả hơn thì góp thêm. Sự kiên trì ấy dần lan tỏa, thu hút sự chung tay của chính quyền, đoàn thể và các nhà hảo tâm, đặc biệt là nhóm Giao lưu văn hóa Thái Việt Nam. Từ sự đồng lòng đó, nhà bảo tồn văn hóa từng bước được dựng lên.
Có nhà rồi, bà Thoát lại tiếp tục đi xin hiện vật: Từ khung cửi, chiếc “ếp” đựng cơm, cái nơm, cái đó đến từng tấm khăn vải… Không phải ai cũng sẵn lòng cho. “Không gian bảo tồn này không tự nhiên mà có. Tôi phải đi khắp nơi xin ý kiến để có đất dựng nhà sàn, vừa làm nơi sinh hoạt cộng đồng, vừa đón khách tìm hiểu văn hóa Thái. Việc vận động người dân hiến tặng hiện vật trưng bày cũng không đơn giản, nhiều người thà bỏ đi chứ không cho, thậm chí hỏi mua cũng không bán”.
Từ khi đi vào hoạt động, Nhà bảo tồn văn hóa Chiềng Sàng trở thành điểm hẹn văn hóa của địa phương, nơi nhiều lễ hội truyền thống như mừng cơm mới, cầu mưa, buộc chỉ cổ tay được phục dựng; các hoạt động giao lưu văn nghệ diễn ra thường niên, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, từ tháng 7/2025, sau khi xã Chiềng Sàng sáp nhập vào xã Yên Châu theo mô hình chính quyền hai cấp, công tác bảo tồn bắt đầu gặp khó. Không còn lực lượng trông coi thường xuyên, ngôi nhà được giao cho bà Thoát tự quản lý.
Mỗi ngày, bà phải đi lại nhiều lần để quét dọn, trông nom; đồng thời phải đối mặt với tình trạng mất cắp, phá hoại xảy ra do thiếu nhân lực trông coi. Nhiều hiện vật giá trị bị lấy đi, từ vải thổ cẩm đến đồ dùng kim loại; nhà sàn xuống cấp với gương vỡ, chốt hỏng, bản lề gãy, đồ đạc bị xáo trộn.
“Tôi cũng báo công an nhiều lần rồi, nhưng không thể lúc nào cũng có người canh giữ. Ai cũng còn phải lo mưu sinh. Chúng nó tinh vi lắm, lấy cả những tấm vải trị giá hàng triệu đem bán…”, bà Thoát nghẹn ngào chia sẻ.
Dù đối mặt nhiều khó khăn, bà Thoát vẫn kiên định quan điểm: Bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ những điều gần gũi nhất như nói tiếng mẹ đẻ trong gia đình, mặc trang phục truyền thống dịp lễ, dạy con cháu hiểu phong tục.
Theo bà, gia đình là “mắt xích” then chốt trong truyền giữ văn hóa; nếu cha mẹ không sử dụng tiếng Thái trong sinh hoạt hằng ngày, con cái sẽ dần xa rời, còn trang phục truyền thống vắng bóng sẽ trở thành ký ức xa lạ.
Nhận thức rõ bảo tồn không thể tách rời đời sống kinh tế, bà cùng câu lạc bộ đang hướng tới mô hình kết hợp giữa gìn giữ văn hóa và phát triển sinh kế.
“Phải có sản phẩm, có đầu ra thì chị em mới yên tâm làm, vừa giữ nghề, vừa phát triển kinh tế. Câu lạc bộ mong được các cấp, ngành hỗ trợ thúc đẩy du lịch tại nhà bảo tồn văn hóa Thái, tạo nguồn khách và đầu ra ổn định cho sản phẩm thủ công. Hiện nay, các thành viên vẫn duy trì sản xuất tập trung, tranh thủ thời gian nông nhàn để dệt thổ cẩm, làm khăn piêu”, bà Thoát chia sẻ.
Theo ông Lò Đức Việt - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Châu, bà Hoàng Thị Thoát là người có nhiều đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ và truyền dạy văn hóa Thái, từ tiếng nói, chữ viết đến các điệu xòe, nghề dệt và ẩm thực truyền thống, qua đó góp phần lan tỏa giá trị văn hóa và khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong cộng đồng.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn