Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người kết nối cộng đồng

Chị Cầm Cẩm Thơ - người con dân tộc Thái có họ hàng xa với nghệ nhân Hoàng Thị Thoát ở Sơn La, không chọn cách giữ văn hóa bằng những khuôn mẫu khô cứng, mà từ con người, từ cộng đồng, từ những mối liên kết tưởng chừng rời rạc, nhưng lại chứa đựng sức mạnh bền bỉ nhất.

bai2-anh1.jpg
Một buổi giao lưu văn hóa được tổ chức quy mô, gắn kết văn hóa cộng đồng Thái tại Hà Nội.

Là người yêu văn hóa Thái từ sâu trong căn cốt, chị không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, hay thực hành các giá trị truyền thống, mà còn chủ động kiến tạo không gian để văn hóa được “sống”. Từ những buổi giao lưu nhỏ của cộng đồng người Thái tại Hà Nội, chị nhận ra một thực tế: Các câu lạc bộ, các nhóm yêu văn hóa Thái ở nhiều địa phương trong cả nước vẫn tồn tại riêng lẻ, thiếu sự kết nối.

Chính từ trăn trở ấy, năm 2016, chị thành lập Nhóm giao lưu văn hóa Thái Việt Nam, nhằm kết nối cộng đồng, bảo tồn và lan tỏa bản sắc; đồng thời hỗ trợ sinh viên khó khăn, dạy chữ Thái miễn phí cho thế hệ trẻ…

Song song với đó, nhiều chương trình văn hóa, thiện nguyện được triển khai, thu hút sự tham gia của các câu lạc bộ, nghệ nhân từ nhiều địa phương, thậm chí cả cộng đồng người Thái ở nước ngoài. Qua đó, hình thành một mạng lưới gắn kết bền chặt, nơi những người con dân tộc Thái, dù ở miền núi hay đô thị, vẫn có thể tìm thấy nhau và cùng chung tay gìn giữ tiếng nói, điệu múa, trang phục và phong tục truyền thống.

bai2-anh2.jpg
“Chúng tôi không chỉ giao lưu văn hóa, mà còn cùng nhau làm thiện nguyện, hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ sinh viên, đồng bào vùng thiên tai. Văn hóa, khi được đặt trong đời sống cộng đồng, sẽ trở thành sức mạnh gắn kết tự nhiên nhất”, chị Thơ chia sẻ.

Dù nhận được sự ủng hộ từ đông đảo cộng đồng, vẫn có lúc chị đối diện với những khó khăn, từ việc bất đồng quan điểm, thậm chí là cản trở từ một số cá nhân thiếu hiểu biết về văn hóa. Nhưng với chị, đó chỉ là “những hạt sạn nhỏ”, không đủ để làm chùn bước được những người yêu văn hóa.

Không dừng lại ở vai trò kết nối, chị còn trở thành chỗ dựa tinh thần cho một thế hệ đặc biệt, đó là những sinh viên dân tộc Thái đang học tập tại Hà Nội. Chị gọi họ bằng một cái tên đầy yêu thương: “Đàn con thơ”.

Trong cách gọi ấy không chỉ có sự trìu mến, mà còn hàm chứa trách nhiệm. Bởi theo chị, những người trẻ rời bản làng lên thành phố không chỉ mang theo ước mơ học tập, mà còn mang theo cả bản sắc, thứ rất dễ bị phai nhạt giữa nhịp sống đô thị.

“Các bạn có nhiều nỗi lo: Học tập, chi phí sinh hoạt, xa nhà, sự hòa nhập… Nhiều bạn còn tự ti, mặc cảm. Nhưng điều khiến tôi trăn trở hơn là sự thiếu hụt về không gian văn hóa - nơi các bạn được sống đúng với bản sắc của mình”, chị Thơ tâm sự.

bai2-anh3.jpg
Chị Thơ và nhóm sinh viên dân tộc Thái tại Hà Nội tham gia giao lưu tại Ngày hội văn hoá Thái Lan tại Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội) năm 2025, do Đại sứ quán Thái Lan tổ chức.

Để bù đắp khoảng trống ấy, chị không chỉ tổ chức các hoạt động giao lưu, biểu diễn, mà còn trực tiếp đưa sinh viên về bản, gặp gỡ nghệ nhân, trải nghiệm đời sống văn hóa. Những chuyến đi ấy theo chị không chỉ là hành trình về địa lý, mà là hành trình trở về cội nguồn.

bai2-anh4.jpg
“Văn hóa không thể chỉ học qua sách vở hay màn hình. Phải được chạm, được nghe, được sống cùng nó thì mới hiểu và yêu”, chị Thơ khẳng định.

Từ bị động đến chủ động “lan tỏa” bản sắc dân tộc

Sinh ra và lớn lên ở vùng núi miền Tây Nghệ An, Kha Văn Thương ra Hà Nội học tập với nhiều bỡ ngỡ. Giữa môi trường hoàn toàn khác biệt với quê hương, Thương từng trải qua cảm giác “lệch nhịp” so với bạn bè.

bai2-anh5.jpg
“Có lúc tôi ngại nói tiếng Thái, ngại mặc trang phục truyền thống vì sợ mình khác biệt”, Thương cho biết.

Khi Thương tham gia nhóm sinh viên dân tộc Thái tại Hà Nội vào năm 2022, đặc biệt qua những chuyến đi thực tế cùng chị Thơ, Thương dần nhận ra: Mỗi con người đều có một gốc rễ, và đánh mất gốc rễ ấy cũng là đánh mất chính mình.

Một trong những trải nghiệm khiến Thương “thức tỉnh” là chuyến đi về xã Nghĩa Lộ (Yên Bái cũ), đúng dịp Tết Xíp Xí - tết cổ truyền của đồng bào Thái Mường Lò, diễn ra vào ngày 14/7 Âm lịch hằng năm. Tại đây, Thương được hòa mình vào không gian văn hóa đặc trưng với những nghi lễ, phong tục riêng biệt. Đặc biệt, Thương được gặp nghệ nhân Lò Văn Biến - người được ví như một cây đại thụ về văn hóa dân tộc Thái, được nghe ông kể về những cuộc thiên di của người Thái, giải thích về ý nghĩa của vòng Xòe, những họa tiết trong hoa văn thổ cẩm, từ hình quả trám, cây cối, con rồng, mặt trời đều thể hiện sự hòa hợp giữa người Thái với thiên nhiên… Từ đó, Thương hiểu ra rằng, văn hóa không phải là thứ để mình tham gia cho vui, hay để thể hiện ra bên ngoài, mà là điều mình phải giữ từ bên trong. Không còn là chuyện của riêng ai nữa, mà là phần trách nhiệm của chính những người con của dân tộc Thái.

“Trước đây, tôi múa xòe vì thấy vui. Nhưng khi hiểu đó là biểu tượng của sự đoàn kết, là linh hồn của cộng đồng, tôi mới thực sự trân trọng”, Thương nói.

bai2-anh6.jpg
Tái hiện Lễ buộc chỉ cổ tay của người Thái.

Từ những trải nghiệm ban đầu, Thương chuyển từ tham gia theo phong trào sang chủ động tìm hiểu, gìn giữ và lan tỏa văn hóa dân tộc. Cùng nhóm sinh viên người Thái tại Hà Nội dưới sự kết nối của chị Cầm Cẩm Thơ, Thương đã tham gia tổ chức nhiều hoạt động gắn kết cộng đồng.

bai2-anh7.jpg
Học bổng được trao cho nhiều sinh viên khó khăn.

Hằng năm, khoảng tháng 10, nhóm tổ chức chương trình chào tân sinh viên với các hoạt động như trình diễn trang phục truyền thống, múa xòe, trao học bổng cho sinh viên khó khăn, thu hút sự tham gia của nhiều nhóm dân tộc như Mông, Dao, Sán Dìu và cả sinh viên Lào, tạo nên không gian giao thoa văn hóa ngay giữa Thủ đô. Không chỉ lan tỏa giá trị truyền thống, chương trình còn tiếp thêm động lực cho tân sinh viên xa quê.

bai2-anh8.jpg
Với Thương, gìn giữ văn hóa là hiện diện trong đời sống thường ngày: duy trì tiếng Thái trong giao tiếp, nấu những món ăn quê hương, điệu khắp (hát) Thái…

“Những điều ấy với tôi không phải là cố gắng giữ, mà đã ăn sâu vào nếp sống, vào con người mình. Dù đi đâu, làm gì, tôi cũng tin rằng chúng sẽ không bao giờ mất đi, bởi đó chính là mạch nguồn nuôi dưỡng văn hóa của người Thái chúng tôi”, Thương chia sẻ./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân: Người giữ hồn văn hóa Si La

Giữa núi rừng biên viễn Tây Bắc, có một người phụ nữ lặng lẽ dành gần cả cuộc đời để giữ lại tiếng nói, câu hát và ký ức của dân tộc mình. Đó là Nghệ nhân ưu tú Hù Thị Xuân (sinh năm 1951, người dân tộc Si La, xã Bum Tở, tỉnh Lai Châu).

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, có một người già làng đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con suốt nhiều năm qua. Ở tuổi gần 80, già làng Y Hơ Êban vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn bình yên, vun đắp cuộc sống no ấm cho buôn làng.

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

'Bóng cây kơ-nia' của dân bản

Ở buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, già làng Y Hơ Êban (sinh năm 1947) từ lâu đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con nơi đây. Với uy tín và trách nhiệm, già làng Y Hơ Êban lặng lẽ góp phần giữ gìn bình yên, mang lại cuộc sống ổn định, no ấm cho buôn làng.

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người Bí thư chi bộ, những năm qua, chị Đặng Thị Thu, Bí thư chi bộ thôn Chanh Yên, xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai luôn gương mẫu đi đầu, trách nhiệm, tận tụy trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Cô giáo khiếm thính và hành trình 'thắp lửa' hy vọng

Cô giáo khiếm thính và hành trình 'thắp lửa' hy vọng

Tại Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật Võ Hồng Sơn (xã Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi), có một lớp học rất đặc biệt, nơi những thanh âm của cuộc sống được thay thế bằng những cử chỉ yêu thương và sự tập trung cao độ. Ở đó, cô giáo trợ giảng Nguyễn Thị Kim Ngân đang miệt mài "gieo" những hạt giống hy vọng cho những số phận kém may mắn, giúp các em tin rằng khiếm khuyết không phải là dấu chấm hết, mà là điểm bắt đầu của một hành trình nỗ lực khác biệt.

Thứ trưởng Thuỷ kỳ vọng hội nghị sẽ nhận được nhiều ý kiến tâm huyết.

Tuyên dương 66 già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu

Ngày 17/4, tại Hội nghị toàn quốc triển khai công tác văn hóa dân tộc năm 2026 và định hướng giai đoạn 2026 - 2030, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định tuyên dương 66 già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số...

"Vườn lan Thạch Hoa" của nữ nông dân sản xuất giỏi người Khmer

"Vườn lan Thạch Hoa" của nữ nông dân sản xuất giỏi người Khmer

Không chỉ dừng lại ở việc tận dụng hiệu quả quỹ đất nông nghiệp, nhiều mô hình trồng lan tại xã Minh Hòa, TP. Hồ Chí Minh đang đẩy mạnh chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất giá trị cao, kết hợp giữa nông nghiệp, nghệ thuật và thương mại điện tử. Điển hình là mô hình trồng hoa lan của chị Thạch Thị Kim Hoa với quy mô 2 ha, tạo công ăn việc làm cho hàng chục lao động.

Tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng cống hiến của nữ đại biểu trẻ nhất Quốc hội khóa XVI

Tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng cống hiến của nữ đại biểu trẻ nhất Quốc hội khóa XVI

Ở tuổi 24, cô giáo Lo Thị Bảo Vy, giáo viên Trường Tiểu học Quỳnh Lập A, phường Tân Mai, Nghệ An không chỉ là đại biểu Quốc hội đầu tiên của dân tộc Ơ Đu - một trong những dân tộc thiểu số đặc biệt ít người tại Việt Nam, mà còn là đại biểu trẻ nhất trúng cử Quốc hội khóa XVI.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

​Lớp học đêm trên đỉnh Piêng Vai

​Lớp học đêm trên đỉnh Piêng Vai

Khi màn đêm buông xuống trên đỉnh Piêng Vai, xã Mỹ Lý, Nghệ An, giữa núi rừng tĩnh lặng, vẫn có một lớp học sáng đèn. Nơi ấy, con chữ được thắp lên từ sự tận tụy của thầy giáo Lương Thanh Hưng, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Mỹ Lý 1, người đã gắn bó cả đời với vùng biên giới xa xôi.

Người lính trẻ nơi địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc

Người lính trẻ nơi địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc

Tại các khu vực cửa khẩu, những người lính mang quân hàm xanh không chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát, quản lý xuất nhập cảnh, mà còn trực tiếp đấu tranh với các loại tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự khu vực cửa khẩu.

Ngày Thể thao Việt Nam 27/3: Niềm tự hào của làng võ Điện Biên

Ngày Thể thao Việt Nam 27/3: Niềm tự hào của làng võ Điện Biên

Bước vào nghiệp võ khi 14 tuổi và sau gần 12 năm học tập, rèn luyện, thi đấu, vận động viên người dân tộc Thái Lò Văn Biển (quê xã Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên) đã giành được hơn 30 huy chương các loại trên mọi đấu trường trong nước và khu vực. Không chỉ là niềm tự hào của làng võ thuật địa phương, Biển còn là tuyển thủ quốc gia đầu tiên của tỉnh Điện Biên giành Huy chương Vàng tại đấu trường SEA Games và được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen do có thành tích thi đấu xuất sắc tại giải đấu này.

Người cán bộ trẻ 'thắp lửa ước mơ' nơi miền biên viễn

Người cán bộ trẻ 'thắp lửa ước mơ' nơi miền biên viễn

Ở miền biên viễn của tỉnh Cao Bằng, những người lính mang quân hàm xanh vẫn ngày đêm bám bản, bám dân, lặng thầm góp sức giữ bình yên nơi tuyến đầu. Tại Đồn Biên phòng Đàm Thủy (Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng), Trung úy Hoàng Trung Kiên (sinh năm 2002), Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, là một trong những cán bộ trẻ tiêu biểu, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân tin yêu bởi sự tận tụy, trách nhiệm trong công việc, cũng như những việc làm cụ thể vì nhân dân khu vực biên giới.

Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Từ những ngày đầu triển khai công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đội ngũ già làng, người có uy tín ở tỉnh Đồng Nai đã phát huy vai trò là "cầu nối" quan trọng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình thông qua lá phiếu cử tri. Không chỉ dừng lại ở việc vận động, già làng, người có uy tín tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào phẩm chất và năng lực của các ứng cử viên trong nhiệm kỳ bầu cử này.

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vượt qua những hủ tục lạc hậu và sự khắc nghiệt của thiên nhiên vùng biên viễn, vợ chồng bác sĩ người Mông Lầu Bá Hùa (cán bộ y tế Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh) và Hờ Y Chùa (Trung tâm Y tế Kỳ Sơn) đã viết nên một câu chuyện đầy cảm hứng về nghị lực và y đức. Không chọn phồn hoa đô hội, họ tình nguyện ở lại nơi gian khó nhất, coi sự sống của đồng bào là lẽ sống của chính mình, trở thành những "lá chắn" vững chãi bảo vệ sức khỏe nhân dân nơi cửa ngõ biên cương.

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Xuân mới về trên khắp buôn làng Tây Nguyên. Trong sắc mai vàng và âm vang cồng chiêng rộn rã, niềm vui của đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk Lắk càng thêm trọn vẹn khi nhiều quần chúng ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Những đảng viên trẻ là người dân tộc thiểu số đang từng ngày khẳng định vai trò tiên phong, góp sức xây dựng buôn làng ngày càng phát triển.

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, không khí Xuân dường như ấm áp hơn tại buôn Tul B, xã Ea Wer, tỉnh Đắk Lắk. Với các em nhỏ là “con nuôi Công an xã”, Tết năm nay không chỉ có bánh kẹo, quần áo mới mà còn trọn vẹn yêu thương từ những “người bố đặc biệt” cán bộ, chiến sĩ Công an xã Ea Wer.

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Xác định tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên là hạt nhân chính trị ở cơ sở, Đảng bộ tỉnh Lào Cai chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong đó phát triển đảng viên trẻ năng động, tiêu biểu người dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng bổ sung nguồn lực mới cho Đảng.

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Trong phong trào thi đua yêu nước của công nhân, lao động tỉnh Thái Nguyên, nhiều tấm gương điển hình đã và đang lan tỏa mạnh mẽ tinh thần lao động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, bền bỉ theo đuổi hành trình cải tiến kỹ thuật, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và địa phương.

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”, anh Bùi Văn Miệt (49 tuổi, dân tộc Mường) tại xã Tân Lợi (Đồng Nai) là tấm gương sáng trong việc giữ gìn và truyền lửa các môn thể thao dân tộc.

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Tại vùng biên giới tỉnh Đồng Nai, bác sĩ Bùi Thị Thu Liễu (51 tuổi, Trưởng Trạm Y tế xã Hưng Phước) thầm lặng cống hiến, dốc hết nhiệt huyết, tình yêu nghề để chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là tấm gương điển hình tiên tiến giai đoạn 2020-2025 được ngành Y tế tỉnh Đồng Nai vinh danh.

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Công tác chuẩn bị cho đợt tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2026 tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai đang được triển khai nghiêm túc, trách nhiệm. Nhiều thanh niên đã chủ động viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ, thể hiện tinh thần xung kích, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

A Thái (sinh năm 1992, dân tộc Rơ Măm) là Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn của làng Le ở xã biên giới Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi. Anh là tấm gương sáng về tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, đưa “ý Đảng” vào “lòng dân” một cách tự nhiên và hiệu quả, thắp lên ngọn lửa niềm tin và khát vọng vươn lên cho cả cộng đồng.

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Piêng Luống và Phia Òi là 2 trong tổng số 21 bản của xã biên giới Nhôn Mai (tỉnh Nghệ An), nằm biệt lập như những “ốc đảo” bên kia sông Nậm Nơn, thuộc lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Những năm qua, trong điều kiện khó khăn về kinh tế, giao thông, cơ sở hạ tầng của bản làng, các giáo viên “cắm bản” ở các điểm trường Mầm non bản Piêng Luống, Phia Òi (Trường Mầm non Nhôn Mai) vẫn bám trụ địa bàn, gần gũi với nhân dân, đem tình yêu thương con trẻ, tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề để miệt mài “gieo chữ” cho các thế hệ con em đồng bào các dân tộc nơi đây.

Thanh niên nông thôn bền bỉ làm giàu từ quê hương

Thanh niên nông thôn bền bỉ làm giàu từ quê hương

Từ những mô hình sản xuất hiệu quả tại cơ sở, nhiều thanh niên nông thôn đã khẳng định bản lĩnh, tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng làm giàu chính đáng. Với họ, Giải thưởng Lương Định Của không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực cá nhân, mà còn là động lực để tiếp tục gắn bó với nông nghiệp, đổi mới tư duy, lan tỏa những cách làm hay, góp phần phát triển kinh tế và xây dựng quê hương.