Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.
Người kết nối cộng đồng
Chị Cầm Cẩm Thơ - người con dân tộc Thái có họ hàng xa với nghệ nhân Hoàng Thị Thoát ở Sơn La, không chọn cách giữ văn hóa bằng những khuôn mẫu khô cứng, mà từ con người, từ cộng đồng, từ những mối liên kết tưởng chừng rời rạc, nhưng lại chứa đựng sức mạnh bền bỉ nhất.
Là người yêu văn hóa Thái từ sâu trong căn cốt, chị không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, hay thực hành các giá trị truyền thống, mà còn chủ động kiến tạo không gian để văn hóa được “sống”. Từ những buổi giao lưu nhỏ của cộng đồng người Thái tại Hà Nội, chị nhận ra một thực tế: Các câu lạc bộ, các nhóm yêu văn hóa Thái ở nhiều địa phương trong cả nước vẫn tồn tại riêng lẻ, thiếu sự kết nối.
Chính từ trăn trở ấy, năm 2016, chị thành lập Nhóm giao lưu văn hóa Thái Việt Nam, nhằm kết nối cộng đồng, bảo tồn và lan tỏa bản sắc; đồng thời hỗ trợ sinh viên khó khăn, dạy chữ Thái miễn phí cho thế hệ trẻ…
Song song với đó, nhiều chương trình văn hóa, thiện nguyện được triển khai, thu hút sự tham gia của các câu lạc bộ, nghệ nhân từ nhiều địa phương, thậm chí cả cộng đồng người Thái ở nước ngoài. Qua đó, hình thành một mạng lưới gắn kết bền chặt, nơi những người con dân tộc Thái, dù ở miền núi hay đô thị, vẫn có thể tìm thấy nhau và cùng chung tay gìn giữ tiếng nói, điệu múa, trang phục và phong tục truyền thống.
Dù nhận được sự ủng hộ từ đông đảo cộng đồng, vẫn có lúc chị đối diện với những khó khăn, từ việc bất đồng quan điểm, thậm chí là cản trở từ một số cá nhân thiếu hiểu biết về văn hóa. Nhưng với chị, đó chỉ là “những hạt sạn nhỏ”, không đủ để làm chùn bước được những người yêu văn hóa.
Không dừng lại ở vai trò kết nối, chị còn trở thành chỗ dựa tinh thần cho một thế hệ đặc biệt, đó là những sinh viên dân tộc Thái đang học tập tại Hà Nội. Chị gọi họ bằng một cái tên đầy yêu thương: “Đàn con thơ”.
Trong cách gọi ấy không chỉ có sự trìu mến, mà còn hàm chứa trách nhiệm. Bởi theo chị, những người trẻ rời bản làng lên thành phố không chỉ mang theo ước mơ học tập, mà còn mang theo cả bản sắc, thứ rất dễ bị phai nhạt giữa nhịp sống đô thị.
“Các bạn có nhiều nỗi lo: Học tập, chi phí sinh hoạt, xa nhà, sự hòa nhập… Nhiều bạn còn tự ti, mặc cảm. Nhưng điều khiến tôi trăn trở hơn là sự thiếu hụt về không gian văn hóa - nơi các bạn được sống đúng với bản sắc của mình”, chị Thơ tâm sự.
Để bù đắp khoảng trống ấy, chị không chỉ tổ chức các hoạt động giao lưu, biểu diễn, mà còn trực tiếp đưa sinh viên về bản, gặp gỡ nghệ nhân, trải nghiệm đời sống văn hóa. Những chuyến đi ấy theo chị không chỉ là hành trình về địa lý, mà là hành trình trở về cội nguồn.
Từ bị động đến chủ động “lan tỏa” bản sắc dân tộc
Sinh ra và lớn lên ở vùng núi miền Tây Nghệ An, Kha Văn Thương ra Hà Nội học tập với nhiều bỡ ngỡ. Giữa môi trường hoàn toàn khác biệt với quê hương, Thương từng trải qua cảm giác “lệch nhịp” so với bạn bè.
Khi Thương tham gia nhóm sinh viên dân tộc Thái tại Hà Nội vào năm 2022, đặc biệt qua những chuyến đi thực tế cùng chị Thơ, Thương dần nhận ra: Mỗi con người đều có một gốc rễ, và đánh mất gốc rễ ấy cũng là đánh mất chính mình.
Một trong những trải nghiệm khiến Thương “thức tỉnh” là chuyến đi về xã Nghĩa Lộ (Yên Bái cũ), đúng dịp Tết Xíp Xí - tết cổ truyền của đồng bào Thái Mường Lò, diễn ra vào ngày 14/7 Âm lịch hằng năm. Tại đây, Thương được hòa mình vào không gian văn hóa đặc trưng với những nghi lễ, phong tục riêng biệt. Đặc biệt, Thương được gặp nghệ nhân Lò Văn Biến - người được ví như một cây đại thụ về văn hóa dân tộc Thái, được nghe ông kể về những cuộc thiên di của người Thái, giải thích về ý nghĩa của vòng Xòe, những họa tiết trong hoa văn thổ cẩm, từ hình quả trám, cây cối, con rồng, mặt trời đều thể hiện sự hòa hợp giữa người Thái với thiên nhiên… Từ đó, Thương hiểu ra rằng, văn hóa không phải là thứ để mình tham gia cho vui, hay để thể hiện ra bên ngoài, mà là điều mình phải giữ từ bên trong. Không còn là chuyện của riêng ai nữa, mà là phần trách nhiệm của chính những người con của dân tộc Thái.
“Trước đây, tôi múa xòe vì thấy vui. Nhưng khi hiểu đó là biểu tượng của sự đoàn kết, là linh hồn của cộng đồng, tôi mới thực sự trân trọng”, Thương nói.
Từ những trải nghiệm ban đầu, Thương chuyển từ tham gia theo phong trào sang chủ động tìm hiểu, gìn giữ và lan tỏa văn hóa dân tộc. Cùng nhóm sinh viên người Thái tại Hà Nội dưới sự kết nối của chị Cầm Cẩm Thơ, Thương đã tham gia tổ chức nhiều hoạt động gắn kết cộng đồng.
Hằng năm, khoảng tháng 10, nhóm tổ chức chương trình chào tân sinh viên với các hoạt động như trình diễn trang phục truyền thống, múa xòe, trao học bổng cho sinh viên khó khăn, thu hút sự tham gia của nhiều nhóm dân tộc như Mông, Dao, Sán Dìu và cả sinh viên Lào, tạo nên không gian giao thoa văn hóa ngay giữa Thủ đô. Không chỉ lan tỏa giá trị truyền thống, chương trình còn tiếp thêm động lực cho tân sinh viên xa quê.
“Những điều ấy với tôi không phải là cố gắng giữ, mà đã ăn sâu vào nếp sống, vào con người mình. Dù đi đâu, làm gì, tôi cũng tin rằng chúng sẽ không bao giờ mất đi, bởi đó chính là mạch nguồn nuôi dưỡng văn hóa của người Thái chúng tôi”, Thương chia sẻ./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn