Ngày 9/5, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nga My (Nghệ An) tổ chức Lễ đón nhận Chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Lễ đón tiếng sấm của người Ơ Đu” và kỷ niệm 20 năm thành lập bản tái định cư Văng Môn - nơi sinh sống tập trung đông dân cư nhất của đồng bào Ơ Đu trên địa bàn tỉnh.
“Lễ đón tiếng sấm đầu năm” - hồn cốt của người Ơ Đu
Ơ Đu là một trong 5 dân tộc ít người nhất trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam - chỉ hiện diện duy nhất tại tỉnh Nghệ An - vẫn gìn giữ một nghi lễ truyền thống đặc sắc mang tên Lễ đón tiếng sấm đầu năm (Lễ Chăm Phtrong) gắn với tục thờ thần sấm. Với đồng bào Ơ Đu, khi tiếng sấm đầu tiên vang lên không chỉ là tín hiệu của đất trời chuyển mùa mà còn đánh dấu thời khắc bắt đầu năm mới.
Thầy mo và các già làng, trưởng bản, người có uy tín cùng đông đảo người dân thực hiện nghi thức khấn nguyện trong Lễ đón tiếng sấm đầu năm.
Ngay sau đêm xuất hiện tiếng sấm đầu tiên, sáng hôm sau, khi sương sớm còn bao phủ núi rừng, người dân trong bản cùng nhau mang các vật dụng sinh hoạt như, nồi niêu, mâm bát, dao, gùi… ra suối Nậm Ngân thực hiện nghi thức “rửa xui”. Họ tin rằng, dòng nước “suối thiêng’ sẽ giúp cuốn trôi những điều phiền muộn của năm cũ, mang lại sự may mắn và bình an cho năm mới.
Ngay sau đêm xuất hiện tiếng sấm đầu tiên, sáng hôm sau người dân trong bản cùng nhau mang các vật dụng sinh hoạt hằng ngày ra suối Nậm Ngân để thực hiện nghi thức “rửa xui”.
Không chỉ đồ dùng, người dân còn rửa mặt, chân tay, vuốt nước lên tóc với mong muốn sức khỏe dồi dào, tinh thần tươi mới.
Không chỉ đồ dùng, người dân còn rửa mặt, chân tay, vuốt nước lên tóc với mong muốn sức khỏe dồi dào, tinh thần tươi mới. Phụ nữ rửa những quả trứng gà bằng nước suối để cầu mong sự sinh sôi, phát triển; đàn ông lội ngược dòng nước với ước vọng có sức khỏe bền bỉ để lao động, lên nương, đi rừng.
Trong Lễ đón tiếng sấm đầu năm, thầy mo là người khấn nguyện, đóng vai trò cầu nối giữa các thần linh và người dân trong bản.
Theo già làng Lo Văn Cường, bản Văng Môn, từ xa xưa, khi chưa có lịch tính thời gian, tổ tiên người Ơ Đu sinh sống ở hai bên sông Nậm Nơn - thượng nguồn sông Lam đã lấy tiếng sấm làm dấu hiệu mở đầu năm mới. Vì vậy, lễ đón tiếng sấm đã tồn tại hàng trăm năm qua, được lưu truyền qua nhiều thế hệ và trở thành nét văn hóa tâm linh quan trọng của cộng đồng.
Sau nghi thức ở suối thiêng, dân bản tập trung tại nơi tổ chức các lễ cúng đầu năm. Trước tiên là lễ cúng bản nhằm báo với thần linh, thổ địa, thổ công về việc dân bản bước sang năm mới. Lễ vật gồm gà luộc, xôi nếp, cơm lam, rượu trắng... Thầy mo thay mặt dân bản đọc lời khấn cầu mong cuộc sống bình yên, thuận lợi.
Mâm cúng thần Sấm được chuẩn bị công phu với các món ăn truyền thống mang đậm hương vị núi rừng. Tất cả đều là lễ vật do người dân cùng đóng góp để bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản làng no ấm.
Tiếp đó là lễ cúng thần sấm, cúng tổ tiên và cúng vía cho dân bản. Những mâm lễ được chuẩn bị công phu với các món ăn truyền thống mang đậm hương vị núi rừng như, cá suối nướng, thịt luộc, cơm lam, rượu ống nứa, rêu đá, lạp cá, lá môn… Tất cả đều là lễ vật do người dân cùng đóng góp để bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên và cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, bản làng no ấm.
Sau nghi lễ cúng thần Sấm, thần linh, tổ tiên, cũng bản, người dân Ơ Đu bản Văng Môn (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) bước vào nghi thức buộc cột chỉ cổ tay để chúc phúc, mong cầu sức khỏe, may mắn.
Kết thúc phần nghi lễ, thầy mo và các già làng nâng chén rượu chúc phúc cho dân bản. Mọi người thực hiện nghi thức buộc chỉ đen vào cổ tay cho nhau với ý nghĩa cầu sức khỏe và bình an. Sợi chỉ này sẽ được giữ nguyên cho đến mùa lễ hội năm sau. Dịp này, lễ đặt tên, lễ nhập họ cho trẻ nhỏ trong bản cũng được tổ chức bên mâm cúng vía - một minh chứng sống động cho sự tiếp nối dòng tộc và sự trường tồn của người Ơ Đu.
Phụ nữ trong trang phục truyền thống của người Ơ Đu đang cột chỉ cổ tay cho nhau trong ngày đầu tiên tổ chức lễ đón tiếng sấm đầu năm.
Trong những ngày lễ hội, tiếng nhạc cụ làm từ tre nứa vang lên rộn ràng khắp bản làng. Người dân cùng nhau múa xòe, ca hát và vui chơi trong không khí đoàn kết, đầm ấm.
Ngày 27/6/2025, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Tập quán xã hội và tín ngưỡng “Lễ đón tiếng sấm của người Ơ Đu” tại xã Nga My vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2192/QĐ-BVHTTDL. Đây không chỉ là sự ghi nhận của Nhà nước đối với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học vô giá của nghi lễ này mà còn là niềm tự hào to lớn của Đảng bộ, chính quyền địa phương và cộng đồng dân tộc Ơ Đu.
Trong lễ đón tiếng sấm đầu năm cũng diễn ra lễ đặt tên, lễ nhập họ cho trẻ nhỏ trong bản cũng được tổ chức bên mâm cúng vía - một minh chứng sống động cho sự tiếp nối dòng tộc và sự trường tồn của người Ơ Đu.
Những sợi chỉ được cột lên cổ tay của các em nhỏ trong bản để cầu mong sức khỏe, học hành chăm ngoan, tiến bộ sẽ đến với các cháu nhỏ.
Ông Lô Khăm Kha, Chủ tịch UBND xã Nga My cho biết, lễ đón tiếng sấm đầu năm không chỉ phản ánh đời sống tâm linh độc đáo của dân tộc Ơ Đu mà còn thể hiện khát vọng về cuộc sống bình yên, no đủ và sự gắn kết cộng đồng. Đây là di sản văn hóa truyền thống được người Ơ Đu gìn giữ, trao truyền và phát huy vẹn nguyên giữa dòng chảy hiện đại.
Văng Môn - quê hương mới của đồng bào Ơ Đu
Ông Lô Khăm Kha, Chủ tịch UBND xã Nga My, tỉnh Nghệ An trao giấy khen cho 2 tập thể trong bản Văng Môn đã có thành tích xuất sắc trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc Ơ Đu trong 20 năm qua.
Hai mươi năm trước, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về việc nhường đất cho công trình Thủy điện Bản Vẽ - công trình thủy điện lớn nhất khu vực Bắc miền Trung, hơn 3.000 hộ dân với trên 14.000 nhân khẩu của 34 bản ở 2 huyện Tương Dương và Kỳ Sơn (cũ) phải di dời. Tại huyện Tương Dương (cũ) người dân Ơ Đu ở các xã Hữu Dương, Kim Tiến, Kim Đa, Yên Na... đã rời quê hương, mang theo bao ký ức để về kiến thiết cuộc sống mới tại bản tái định cư Văng Môn (xã Nga My).
Từ những ngày đầu trên vùng đất mới với nhiều gian khó, bà con Ơ Đu đã phát huy truyền thống đoàn kết, một lòng tin theo Đảng. Bằng mồ hôi, công sức và ý chí kiên cường, 117 hộ dân (trong đó có 105 hộ đồng bào Ơ Đu với 347 nhân khẩu) đã biến một vùng đất hoang sơ nằm bên hạ nguồn suối Nậm Ngân, bao bọc bởi đại ngàn Pu Pá thành một bản làng trù phú, bình yên.
Ông Lô Khăm Kha, Chủ tịch UBND xã Nga My, tỉnh Nghệ An trao giấy khen cho 4 cá nhân trong bản Văng Môn đã có thành tích xuất sắc trong việc bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc Ơ Đu trong 20 năm qua.
Theo già làng Lo Văn Cường, người Ơ Đu bản Văng Môn, những ngày đầu mới thành lập, bản Văng Môn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhờ thụ hưởng những chính sách khuyến khích, chương trình đầu tư mà Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương quan tâm triển khai, người Ơ Đu ở bản Văng Môn đã có những tiền đề, động lực vững chắc để phát triển, từng bước biến mảnh đất hoang sơ thành một bản ấm no và mang đậm bản sắc.
Ông Lương Văn Thái, Trưởng bản Văng Môn cho biết, đến nay, kinh tế của bản đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Bản đang quản lý và bảo vệ gần 180ha rừng tự nhiên, gần 100 ha đất sản xuất. Cơ cấu kinh tế và đời sống dân cư có chuyển biến rõ nét. Từ chỗ đa số là hộ nghèo, đến nay, bản có 29 hộ khá, giàu, 30 hộ trung bình. Bà con biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phá thế độc canh cây lúa, cây ngô trên nương. Trong bản xuất hiện những điển hình kinh tế với những mô hình nuôi lợn thịt, lợn sinh sản, trồng cây lâu năm, rau màu, kinh doanh dịch vụ tạp hóa... cho lợi nhuận từ 40 - 70 triệu đồng/năm.
Trong những ngày diễn ra lễ đón tiếng sấm đầu năm, tiếng nhạc cụ làm từ tre nứa vang lên rộn ràng khắp bản làng. Người dân cùng nhau múa, ca hát và vui chơi trong không khí đoàn kết, đầm ấm.
Toàn bản hiện có 43 học sinh các cấp, với tỷ lệ hoàn thành chương trình học đạt 98%. Những năm qua, nhiều thế hệ con em người Ơ Đu đã trưởng thành, trong đó, có 11 người tốt nghiệp Đại học, Cao đẳng có việc làm ổn định. Đặc biệt, dân bản tự hào có chị Lo Thị Bảo Vy là đại biểu Quốc hội khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031 - đại biểu trẻ tuổi nhất Việt Nam ở tuổi 24.
Phụ nữ dân tộc Ơ Đu uống rượu cần trong ngày tổ chức Lễ đón tiếng sấm đầu năm.
Đến nay, toàn bản đã có 99 hộ được công nhận gia đình văn hóa, trong đó, có 2 hộ văn hóa tiêu biểu được biểu dương.
Bên cạnh những thành tựu về vật chất, người Ơ Đu bản Văng Môn đã bảo tồn, gìn giữ và trao truyền vẹn nguyên các thiết chế văn hóa độc đáo, giàu bản sắc, thành lập một số câu lạc bộ, điển hình như, Câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, hướng đến triển khai những hoạt động gìn giữ một số phong tục tập quán, nghề dệt thổ cẩm, hoạt động văn hóa (khắc luống, nhảy sạp, thổi sáo), Câu lạc bộ dân ca, dân vũ Ơ Đu… Điển hình nhất là “Lễ đón tiếng sấm đầu năm” - sợi dây tâm linh gắn kết chặt chẽ mọi thành viên trong cộng đồng và bao hàm trong đó những nghi lễ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của người Ơ Đu.
Phụ nữ Ơ Đu chơi “khắc luống” - nhạc cụ truyền thống của đồng bào Ơ Đu trong ngày diễn ra Lễ đón tiếng sấm đầu năm.
Ông Lương Văn Thái, Trưởng bản Văng Môn cho biết, thời gian tới, Ban Quản lý bản và bà con bản Văng Môn quyết tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; chú trọng giáo dục thế hệ trẻ và chung tay bảo vệ, phát huy giá trị của di sản văn hóa “Lễ đón tiếng sấm đầu năm” gắn liền với việc xây dựng đời sống văn hóa mới để Văng Môn không chỉ là điểm sáng về tái định cư mà còn trở thành điểm đến du lịch văn hóa - di sản độc đáo của tỉnh Nghệ An./.
Tên tự gọi: Ơ Ðu hoặc I Ðu.
Tên gọi khác: Tày Hạt (người đói rách).
Dân số: 376 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Nay chỉ còn tiếng mẹ đẻ. Hầu hết người Ơ Ðu dùng các tiếng Khơ Mú, Thái làm công cụ giao tiếp hàng ngày.
Lịch sử: Xưa kia người Ơ Ðu cư trú suốt một vùng dọc theo hai con sông Nặm Mộ và Nặm Nơn. Nhưng tập trung nhất vẫn là dọc sông Nặm Nơn. Do nhiều biến cố trong lịch sử liên tiếp xảy ra ở vùng này buộc họ phải rời đi nơi khác hay sống hoà lẫn với các cư dân mới đến. Hiện người Ơ Ðu ở hai bản đông nhất là Xốp Pột và Kim Hoà, xã Kim Ða huyện Tương Dương, Nghệ An. Ở Lào họ hợp với nhóm Tày Phoọng cư trú ở tỉnh Sầm Nưa.
Hoạt động sản xuất: Người Ơ Ðu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Mỗi năm họ chỉ làm một vụ: phát, đốt, gieo hạt từ các tháng 4-5 âm lịch, thu hoạch vào các tháng 9-10. Công cụ làm rẫy gồm rìu, dao, gậy chọc lỗ. Ngoài lúa là giống cây trồng chính, còn trồng sắn, bầu, bí, ngô, ý dĩ, đỗ, hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống. Chăn nuôi trâu bò, lợn gà, dê khá phát triển. Trâu, bò dùng làm sức kéo, kéo cày, lợn gà sử dụng trong các dịp cưới, nghi lễ tín ngưỡng, cúng ma... Ðan lát đồ gia dụng bằng giang, mây, một phần tiêu dùng, phần để trao đổi. Xưa họ còn biết dệt vải.
Ăn: Người Ơ Ðu thường ăn 1 bữa phụ (sáng), 2 bữa chính (trưa và tối). Trước đây họ ăn xôi đồ, nay có cả cơm gạo tẻ, khi mất mùa ăn củ nâu, củ mài, hoặc sắn, ngô thay cơm. Họ thích uống rượu, hút thuốc lào.
Mặc: Hiện nay, nam và nữ đều ăn mặc theo kiểu người Thái, Việt trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít.
Ở: Trước đây, ngôi nhà truyền thống, nhà sàn, phải dựng quay đầu vào núi (dựng chiều dọc). Khi dựng cột phải tuân theo một thứ tự nhất định. Nay kiểu nhà này không còn nữa. Họ ở sàn nhà giống như nhà sàn người Thái.
Phương tiện vận chuyển: Phổ biến hơn cả là gùi dây đeo bên trán. Gùi rất đẹp, bền chắc.
Quan hệ xã hội: Do số lượng dân số ít, sống xen kẽ với người Khơ Mú và Thái cho nên các mặt quan hệ xã hội văn hóa của họ chịu nhiều ảnh hưởng hai dân tộc này. Người Ơ Ðu lấy họ theo họ Thái, Lào. Tổ chức dòng họ rất mờ nhạt. Trưởng họ là người có uy tín, được kính trọng và có vai trò lớn trong dòng họ.
Gia đình người Ơ Ðu là gia đình nhỏ phụ quyền. Ðàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Phụ nữ không được hưởng thừa tự. Họ phổ biến tục ở rể. Lễ vật trong dịp cưới không thể thiếu là thịt sóc, thịt chuột sấy khô và cá ướp muối.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi tại góc nhà phía gian dành cho phụ nữ. Nhau trẻ bỏ vào ống tre đem chôn ngay dưới gầm sàn. Tuổi đứa con được tính từ ngày có tiếng sấm trong năm. Khi đó đứa bé được coi là đầy năm và được bố mẹ làm lễ đặt tên.
Thờ cúng: Người Ơ Ðu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà.
Lễ tết: Người Ơ Ðu ăn tết Nguyên đán, tết cơm mới. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó, cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột, xã Kim Ða, Tương Dương, Nghệ An.
Văn nghệ: Người Ơ Ðu sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ của người Khơ Mú, Thái như: sáo, khèn, chiêng, trống; thuộc các làn điệu dân ca Khơ Mú, Thái, kể chuyện dã sử.
Chơi: Người Ơ Ðu có vai trò chơi đánh khăng, chơi quay, ném còn, ô ăn quan.
Theo cema.gov.vn