Trăn trở với nghề dệt truyền thống của người Giẻ - Triêng

Từ bao đời nay, những tấm thổ cẩm truyền thống do chính tay những người phụ nữ Giẻ - Triêng làm nên đã gắn liền với mọi hoạt động hàng ngày của người dân tại chỗ, từ lao động sản xuất, đến lễ hội, đình đám.

det3-27426.jpg
Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi se sợi để dệt vải.

Dù đầu năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Nghề dệt của người Giẻ - Triêng vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, song việc bảo tồn nghề vẫn là nỗi trăn trở với các nghệ nhân, bởi thu nhập không cao, cộng với việc thế hệ trẻ không còn mặn mà với nghề dệt thủ công truyền thống.

Nhiều trăn trở…

Trong trí nhớ của những người phụ nữ lớn tuổi thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi, thổ cẩm đã gắn bó với đời sống của người Giẻ - Triêng từ xa xưa. Thổ cẩm truyền thống được tạo ra từ sợi của quả Kpảy (theo cách gọi của người Giẻ - Triêng), qua nhiều quá trình phơi, ngâm, se sợi, nhuộm màu vải, cuối cùng đưa ra thành phẩm là những tấm thổ cẩm qua đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân. Thổ cẩm của người Giẻ - Triêng ở vùng Đăk Môn chủ yếu có màu đen, với một số họa tiết nhỏ màu vàng, trắng, hoặc xanh, tạo hình hạt thóc để dành cho nữ, hạt ngô để dành cho nam.

Qua nhiều thăng trầm của thời gian, cây Kpảy dần biến mất, khiến việc dệt thổ cẩm truyền thống buộc phải chuyển sang sử dụng sợi công nghiệp. Dù không phải tốn nhiều công sức để tạo ra sợi như trước, song thổ cẩm làm ra không tạo được độ mềm và mát như sợi từ quả Kpảy. Thế nhưng, đó không phải là nỗi lo duy nhất của thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng, trăn trở đến từ việc bảo tồn nghề dệt vốn đã gắn bó với người dân nơi đây từ bao đời.

Ngồi bên khung dệt, bà Y Thương (sinh năm 1972, trú thôn Ri Mẹt) cho biết, theo các thế hệ đi trước, bà bắt đầu học dệt thổ cẩm từ năm 14 tuổi. Việc khó khăn nhất khi theo nghề dệt chính là quá trình làm sợi, rồi học cách tạo nên các hoa văn, họa tiết trên thổ cẩm. Không có một công thức nào để tạo ra các hoa văn, chỉ có trí nhớ và đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân mới có thể làm nên những tấm thổ cẩm với những họa tiết mang đậm bản sắc của người Giẻ - Triêng vùng Đăk Môn.

Thông thường, bà Thương dệt xong sẽ để lại trong nhà, phục vụ cho việc may trang phục, làm tấm đắp cho con cháu, hoặc khi nhà có đám cưới sẽ dùng để làm quà. Nếu có người mua, bà sẽ bán, nhưng giá trị không cao. Trước đây, cứ khoảng 10 tấm thổ cẩm có diện tích 1m x 2,5m sẽ đổi được một con bò, nhưng hiện nay chỉ bán được khoảng 600.000 đồng. Nếu những tấm lớn hơn, hoặc có nhiều hoa văn phức tạp hơn sẽ bán được với giá 1 triệu đồng. Trong khi đó, nếu ngồi chăm chỉ làm, phải mất 3 - 4 ngày mới dệt xong một tấm thổ cẩm, còn đi làm nương rẫy ban ngày, tranh thủ dệt ban đêm thì có thể 2 tuần mới xong.

“Tôi có mở lớp dạy trong làng, ban đầu cũng có hơn gần 20 người theo học, nhưng dần dần chỉ còn lại vài người, vì họ không mặn mà với nghề dệt thổ cẩm, phần vì không đủ kiên nhẫn, tỉ mỉ để ngồi lâu dệt vải, phần vì thu nhập từ nghề dệt khá thấp so với đi làm nông nghiệp. Tôi rất mừng khi nghề dệt của người Giẻ - Triêng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, nhưng cũng rất lo lắng nghề dệt sẽ bị mai một dần”, bà Y Thương tâm sự.

Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi bên khung dệt thổ cẩm truyền thống.

Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi bên khung dệt thổ cẩm truyền thống.

Trong khi đó, làng Đăk Răng, xã Dục Nông đã được công nhận là làng du lịch cộng đồng vào cuối năm 2023. Nơi đây vẫn còn lưu giữ nhiều lễ hội cũng như nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Giẻ - Triêng; trong đó có nghề dệt thổ cẩm. Du khách đến với làng, không chỉ được tham gia trải nghiệm các lễ hội truyền thống, còn có thể mua các sản phẩm thủ công do chính tay bà con trong làng tạo nên, như thổ cẩm, nhạc cụ hay rượu cần…

Chị Y Loan, trú làng Đăk Răng cho biết, từ khi 13 tuổi, chị đã theo các nghệ nhân trong làng học dệt thổ cẩm. Đến năm hơn 20 tuổi, chị đã có thể dệt nên những tấm thổ cẩm có hoa văn, họa tiết để bán cho du khách, người dân trong làng. Trước đây, chị thường xuyên dệt thổ cẩm, nhưng vì giá cả thấp, cộng với tốn nhiều công sức, chị Loan đã không còn dệt nhiều như trước. Bây giờ, chị chỉ dệt khi có khách đặt hàng, hoặc gia đình có việc cần dùng đến trang phục truyền thống.

“Thổ cẩm vẫn rất cần thiết trong hoạt động hàng ngày của người Giẻ - Triêng như trong các dịp lễ lớn của làng, hay cưới, hỏi, chứ không chỉ đơn thuần là làm du lịch. Ngày nay, thế hệ trẻ không nhiều người mặn mà với nghề dệt, nên chúng tôi cũng rất lo lắng. Mong muốn rằng chính quyền địa phương có giải pháp nào để tăng thu nhập cho nghề dệt, giúp nghề không bị mai một dần theo thời gian”, chị Y Loan bày tỏ.

Định hướng bảo tồn

Ông Huỳnh Ngọc Ly, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi cho biết, xã có 18 thôn, thì 16 thôn là đồng bào dân tộc thiểu số Giẻ - Triêng, với nghề dệt thổ cẩm là nghề truyền thống. Hiện, có 3 mô hình đang phát triển tốt trên địa bàn các thôn Ri Mẹt, Prong Mẹt và Đăk Po, với khoảng 50 người tham gia. Các hộ tham gia trên tinh thần tự nguyện thành lập nhóm, tuy chưa hình thành được mô hình sản xuất lớn, nhưng được định hướng dần hình thành các tổ liên kết để sản xuất mặt hàng thổ cẩm.

Thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng ở làng Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi.

Thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng ở làng Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi.

Nghề dệt thổ cẩm không phải là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình, do sản phẩm chưa được quảng bá rộng rãi. Ủy ban nhân dân xã Đăk Môn đã có định hướng giao trang thông tin điện tử, Trung tâm cung ứng dịch vụ công tổ chức quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội; đồng thời, đưa sản phẩm thổ cẩm đi trưng bày tại các hội thi triển lãm, hội chợ. Qua đó, giúp sản phẩm được nhiều người biết đến hơn, mang lại nguồn thu nhập cho bà con trong mùa nông nhàn.

“Thời gian tới, cấp ủy, chính quyền địa phương sẽ có những kế hoạch để bảo tồn, nhân rộng nghề ra các cộng đồng dân cư Giẻ - Triêng trên địa bàn. Cùng với đó, tận dụng các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn vốn được phân bổ để đầu tư cho nghề dệt truyền thống, định hướng tìm đầu ra cho bà con. Đặc biệt, xã sẽ thành lập các mô hình để truyền dạy cho các thế hệ trẻ, để nghề dệt truyền thống của người Giẻ - Triêng không bị mai một theo thời gian”, ông Huỳnh Ngọc Ly nói.

Theo ông U Chí Nam, Trưởng phòng Văn hóa – Xã hội xã Dục Nông, thực hiện chủ trương gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo và xác định cần từng bước khôi phục nghề dệt thổ cẩm; trong đó, tập trung vào việc truyền dạy và quảng bá sản phẩm.

Tối chủ nhật hàng tuần, xã tổ chức các lớp dạy dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ, học sinh, do chính các nghệ nhân dệt trên địa bàn xã truyền dạy. Đảng ủy xã cũng đã chỉ đạo cho các cơ quan, ban, ngành liên quan tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tiếp tục tổ chức thực hiện nghề dệt; đồng thời, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu sản phẩm dệt của địa phương thông qua các lễ hội, sự kiện văn hóa của tỉnh, của xã cũng như các buổi trưng bày sản phẩm.

“Để phát huy giá trị của thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng, thời gian tới, xã cũng mong muốn tỉnh có chủ trương và định hướng đối với các hợp tác xã, các tổ chức, doanh nghiệp phối hợp với các tổ sản xuất, dệt thổ cẩm để tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm đầu ra, tạo thu nhập cho các nghệ nhân dệt thổ cẩm”, ông U Chí Nam cho biết thêm./.

Dân tộc Gié-Triêng

Tên tự gọi: Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như Gié, Triêng, Ve, Bnoong.

Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy.

Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả.

Dân số: 50.962 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.

Hoạt động sản xuất: Họ làm rẫy là chính. Xưa trồng nhiều lúa nếp, nay lúa tẻ giữ vị trí chủ đạo, gồm nhiều giống khác nhau. Cách thức canh tác như ở các dân tộc miền núi khác trong vùng. Công cụ chủ yếu gồm rìu và dao quắm để phát, gậy đẽo nhọn đầu hoặc có mũi sắt để chọc lỗ khi gieo trỉa, cái cuốc con có cán là đoạn chạc cây để làm cỏ. Tất cả cây trồng đều ở rẫy, ngoài lúa còn có ngô, sắn, bo bo, kê, khoai lang, khoai môn, bầu bí, dưa, thuốc lá, bông, mía, chuối... Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, trâu, chỉ khi dùng vào việc cúng tế mới mổ thịt. Nguồn thức ăn kiếm được nhờ hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đóng vai trò quan trọng. Người Gié-Triêng có sở trường về đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi, vùng Ðắc Pét có truyền thống đãi vàng sa khoáng và làm đồ gốm ở trình độ chưa biết dùng bàn xoay và chưa biết xây lò nung. Quan hệ hàng hoá trước kia dùng vật đổi vật, nay đã dùng tiền.

Ăn: Mỗi ngày người Gié-Triêng ăn 3 bữa (sáng, trưa, tối). Họ ưa thích các món nướng đối với cá, thịt. Canh cũng là món thường có trong các bữa cơm. Tập quán ăn bốc tồn tại lâu đời (nay việc dùng đũa, bát khá rộng rãi). Ðồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần chế từ gạo, ngô, sắn, kê và rượu chế từ nước một loại cây họ dừa mọc hoang trên rừng. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.

: Tại huyện Ðắc Glây tỉnh Kon Tum có nhóm Gié và Triêng, tỉnh Quảng Nam có nhóm Bnoong ở huyện Phước Sơn và Trà My, nhóm T’riêng và Ve ở huyện Giằng. Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống phổ biến, đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà. Về sau, nhà trệt đã xuất hiện. ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà tạo thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hoá lâu đời của họ ở Giằng và một số nơi ở Ðắc Glây.

Mặc: Theo nếp cổ truyền, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức: các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo cổ, tay, chân, tai, phụ nữ các gia đình khá giả có cả hoa tai bằng nhà voi. Y phục theo kiểu người Việt hiện tại đã thâm nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh.

Phương tiện vận chuyển: Người Gié-Triêng dùng gùi. Có những loại và cỡ gùi khác nhau: gùi đan thưa, đan dày, gùi đeo theo người hàng ngày, gùi để đồ tại nhà, gùi có hoa văn nan nhuộm đen, gùi không dùng nan nhuộm, gùi cho riêng nam giới...

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồn của mình, có tên gọi và có kiêng cữ riêng. Xưa kia, có những họ của nữ, có những họ của nam. Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặt chẽ. "Già làng" có uy tín cao nhờ hiểu biết, nhiều kinh nghiệm, cũng thường là người có cộng lập làng. Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện về tàn dư thời mẫu hệ và bước chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ.

Cưới xin: Trai gái tự tìm bạn đời, cha mẹ thường chấp thuận nếu không vi phạm tập tục. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn), và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.

Sinh đẻ: Chồng phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau 10 ngày mới được mang con về nhà. Ðứa bé được coi là thành viên của gia đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho nó gia nhập vào cộng đồng những người thân thuộc trong nhà.

Ma chay: Phong tục ở các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Song nét chung là quan tài đẽo độc mộc, có nơi tạc hình đầu trâu trên đầu. Người chết được mai táng (có tài liệu viết xưa kia hoả táng); nhà mồ dựng không cầu kỳ, có rào xung quanh. Những đồ vật đem ra mộ cho người chết nếu là chiêng, ché thì đều đập thủng hoặc vỡ. Trong quá khứ, người ta từng biết đến tục chôn chung những người chết cách nhau không lâu trong gia đình vào một quan tài. Suốt 10 ngày khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng "nhắc nhở" cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp đầu năm tại cạnh ngôi mộ.

Thờ cúng: Người ta quan niệm có nhiều "thần linh" và mọi vật, cũng như con vật, con người đều có siêu linh ẩn trú. Các vị thần nước, thần trời (đồng nhất với sấm sét), thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây đa... được người Gié-Triêng cầu cúng. Mỗi làng thường có vật "thiêng" như thứ bùa hộ mệnh, được cất dấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài. Dòng họ, gia đình cũng có vật "thiêng" để cầu mùa gắn với canh tác lúa. Ma người chết cũng được coi là một thế lực chi phối đối với cuộc sống. Liên quan đến thế giới siêu nhiên đó, có rất nhiều lễ thức tín ngưỡng theo tập tục.

Lễ tết: Mỗi khi cúng bái đều có hiến tế, mà máu con vật hiến tế là quan trọng nhất. Lễ trọng phải đâm trâu, và xa xưa có nơi phải cúng bằng máu người trong lễ thức đặc biệt liên quan đến thần lúa. Trong chu kỳ sản xuất hàng năm thường có lễ thức khi chọn đất rẫy, phát rẫy, gieo trỉa, khi hạn hay úng, khi mở đầu tuốt lúa, khi đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên và khi lấy thóc lần đầu về ăn. Gắn với chu kỳ đời người, có các lễ thức trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi đẻ, khi đặt tên, khi bị đau ốm, khi cưa răng, trong việc cưới xin, khi chết đi. Tết dân tộc thường sớm hơn tết Nguyên đán, tổ chức theo làng.

Lịch: Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Theo đó, tên gọi mỗi ngày cụ thể trong tháng phần lớn đều được lặp lại, tuy một ngày ở nửa đầu và một ngày ở nửa cuối tháng. Mỗi năm 12 tháng. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định.

Văn nghệ: Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Tuỳ nơi, người ta dùng 3 cồng với 7 hay 9 chiêng, hoặc 6 chiêng, hoặc 4 chiêng... Có khi cồng chiêng tấu cùng với trống, với ống nứa. Nguyên ống nứa cũng là loại nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc. Người Gié-Triêng, cũng như các tộc khác, có những làn điệu dân ca cổ truyền và nhiều truyện cổ.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Gié-Triêng

Có thể bạn quan tâm

Lễ hội Khèn Mông - nơi hội tụ của sắc màu văn hóa

Lễ hội Khèn Mông - nơi hội tụ của sắc màu văn hóa

Giữa không gian cổ kính của phố cổ Đồng Văn (khu vực thị trấn Đồng Văn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang cũ, nay là xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang), khi những dãy nhà trình tường nhuốm màu thời gian còn vương hơi sương sớm, tiếng khèn Mông lại cất lên, khi trầm lắng, khi rộn ràng, như một mạch chảy âm thầm nối quá khứ với hiện tại.

Măng Đen – Bản giao hưởng đại ngàn

Măng Đen – Bản giao hưởng đại ngàn

Nhân dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Giải phóng miền Nam, Thống nhất Đất nước, tại Khu du lịch sinh thái Măng Đen, tỉnh Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân xã Măng Đen tổ chức các hoạt động văn hóa, du lịch; trong đó, điểm nhấn là Lễ hội đường phố với chủ đề “Măng Đen – Bản giao hưởng đại ngàn”. Lễ hội có sự tham gia của 300 nghệ nhân tại các thôn, các em học sinh và các ca sĩ, nghệ sĩ.

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao' sẽ diễn ra tại Sơn La từ ngày 8 - 10/5

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao' sẽ diễn ra tại Sơn La từ ngày 8 - 10/5

Thông tin từ Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Triển lãm “Hương sắc vùng cao” sẽ diễn ra từ ngày 8 - 10/5/2026, tại Trung tâm Dịch vụ tổng hợp, tổ dân phố 7, phường Mộc Sơn, tỉnh Sơn La. Sự kiện do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La chỉ đạo Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức.

Âm vang đại ngàn trong đêm hội 'Đại ngàn Reo'

Âm vang đại ngàn trong đêm hội 'Đại ngàn Reo'

Tối 25/4, chương trình nghệ thuật “Đại ngàn Reo”– điểm nhấn của Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I năm 2026 diễn ra trong không khí sôi động, đậm sắc màu đại ngàn.

Giữ hồn chữ Thái cổ nơi miền Tây Nghệ An

Giữ hồn chữ Thái cổ nơi miền Tây Nghệ An

Từng đứng trước nguy cơ mai một, song tiếng Thái Lai Tay ở Nghệ An đã phục hồi và được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đồng thời được mã hóa trong hệ thống ký tự toàn cầu. Thành quả ấy không chỉ là dấu mốc quan trọng trong công tác bảo tồn văn hóa, mà còn là kết tinh của những nỗ lực âm thầm, bền bỉ của nhiều cá nhân, cộng đồng tâm huyết với di sản dân tộc.

Sôi động lễ hội đường phố 'Măng Đen - Bản giao hưởng đại ngàn'

Sôi động lễ hội đường phố 'Măng Đen - Bản giao hưởng đại ngàn'

Ngày 25/4, tại Khu du lịch sinh thái Măng Đen (tỉnh Quảng Ngãi), UBND xã Măng Đen tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, du lịch dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Điểm nhấn của chương trình là Lễ hội đường phố với chủ đề “Măng Đen - Bản giao hưởng đại ngàn”, mang đến cho du khách không gian văn hóa đậm đà bản sắc của đồng bào nơi núi rừng.

Độc đáo lễ cầu mưa Yang Pơtao Apui tại Di tích Plei Ơi

Độc đáo lễ cầu mưa Yang Pơtao Apui tại Di tích Plei Ơi

Ngày 25/4, tại Khu Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Plei Ơi, UBND xã Chư A Thai (Gia Lai) tổ chức Lễ cầu mưa Yang Pơtao Apui năm 2026 với nhiều hoạt động phong phú, đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia.

Khai mạc Tuần lễ Văn hóa - Ẩm thực 'Lan tỏa hương vị Xứ Dừa'

Khai mạc Tuần lễ Văn hóa - Ẩm thực 'Lan tỏa hương vị Xứ Dừa'

Tối 24/4, tại Công viên Mỹ Hóa, phường Bến Tre, tỉnh Vĩnh Long, Lễ khai mạc Tuần lễ Văn hóa - Ẩm thực năm 2026 với chủ đề “Lan tỏa hương vị Xứ Dừa” đã diễn ra. Đây là hoạt động kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và 140 năm Ngày Quốc tế lao động (1/5/1886 - 1/5/2026).

Bắc Hoa - vẻ đẹp nguyên sơ từ nếp nhà đất đến nhịp sống bản địa

Bắc Hoa - vẻ đẹp nguyên sơ từ nếp nhà đất đến nhịp sống bản địa

Nép mình giữa những triền núi xanh ngát và những thửa ruộng uốn lượn, thôn Bắc Hoa thuộc xã Tân Sơn, tỉnh Bắc Ninh vẫn còn lưu giữ trọn vẹn nhịp sống mộc mạc của người dân miền sơn cước. Từ nếp nhà đất, mái ngói phủ rêu đến tiếng cười trẻ nhỏ, tất cả tạo nên một không gian văn hóa chân thực, giàu cảm xúc. Trong định hướng phát triển du lịch nông thôn gắn với bảo tồn bản sắc, Bắc Hoa có tiềm năng trở thành điểm đến trải nghiệm - nơi du khách không chỉ “đi để ngắm” mà còn “ở để cảm”, “sống để hiểu” về đời sống bản địa.

Hát Xoan phục vụ du khách dịp Lễ hội Đền Hùng 2026

Hát Xoan phục vụ du khách dịp Lễ hội Đền Hùng 2026

Trong không khí linh thiêng của Giỗ Tổ Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ tổ chức chuỗi hoạt động trình diễn hát Xoan làng cổ, tạo điểm nhấn văn hóa đặc sắc phục vụ nhân dân và du khách thập phương; đồng thời tiếp tục khẳng định những nỗ lực bền bỉ trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa thế giới.Tái hiện đầy đủ các chặng Xoan truyền thống

Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ diễn ra tại Khánh Hòa

Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ diễn ra tại Khánh Hòa

Thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI sẽ diễn ra từ ngày 26 - 28/6 tại Khánh Hòa, với sự tham gia của 7 tỉnh, thành phố có đông đồng bào Chăm sinh sống gồm: Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng, Tây Ninh, An Giang, Đắk Lắk và Thành phố Hồ Chí Minh.

Giữ lửa Shan tuyết, mở đường du lịch Cao Bồ

Giữ lửa Shan tuyết, mở đường du lịch Cao Bồ

Trong tiết trời se lạnh của vùng cao Tây Côn Lĩnh, khi sương sớm còn lững lờ trên những triền núi, ngày 20/4, người dân xã Cao Bồ (Tuyên Quang) rộn ràng bước vào Lễ hội “Miền chè di sản” lần thứ III năm 2026. Không gian đậm bản sắc văn hóa cùng những bếp lửa sao chè đỏ hồng đã trở thành điểm nhấn cuốn hút, níu chân đông đảo người dân và du khách.

Quảng bá nét độc đáo văn hóa Vĩnh Long tại Hà Nội

Quảng bá nét độc đáo văn hóa Vĩnh Long tại Hà Nội

Giữa không gian Làng Văn hóa - Du lịch các Dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, TP. Hà Nội), chương trình giao lưu với chủ đề “Cùng chung niềm vui” đã giới thiệu, quảng bá nét đặc sắc văn hóa đồng bào các dân tộc tỉnh Vĩnh Long đến đông đảo người dân Thủ đô.

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4: Nghi thức buộc chỉ cổ tay của người Ơ Đu

Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4: Nghi thức buộc chỉ cổ tay của người Ơ Đu

Trong đời sống văn hóa của cộng đồng dân tộc Ơ Đu – một trong những dân tộc có dân số ít nhất Việt Nam, cư trú chủ yếu tại bản Văng Môn (xã Nga My, tỉnh Nghệ An) - nghi thức buộc chỉ cổ tay không chỉ là phong tục mà còn là biểu tượng sâu sắc của niềm tin tâm linh, sự gắn kết cộng đồng và quan niệm về con người trong vũ trụ.

‘Tiếng vọng buôn làng’ ngân vang trong không gian văn hoá dân tộc

‘Tiếng vọng buôn làng’ ngân vang trong không gian văn hoá dân tộc

Trong chuỗi hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam (19/4/2026), người dân và du khách đã có dịp thưởng thức nhiều chương trình giao lưu nghệ thuật đặc sắc, nổi bật là chương trình giao lưu “Tiếng vọng buôn làng” của đồng bào Chu Ru (tỉnh Lâm Đồng) cùng các dân tộc Tây Nguyên.

Tái hiện Lễ hội ok-om-bok của dân tộc Khmer tỉnh Vĩnh Long

Tái hiện Lễ hội ok-om-bok của dân tộc Khmer tỉnh Vĩnh Long

Ngày 18/4/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội), nằm trong chuỗi các hoạt động chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, diễn ra hoạt động tái hiện Lễ hội ok-om-bok (cúng trăng) của dân tộc Khmer tỉnh Vĩnh Long. Lễ Ok Om Bok không chỉ là nghi lễ tâm linh thể hiện lòng biết ơn vị thần mặt trăng trong tín ngưỡng của đồng bào Khmer mà là dịp để gắn kết tình làng nghĩa xóm, bảo tồn giá trị văn hóa của đồng bào Khmer.

Tái hiện tục nhận đệ tử của người Tày, tỉnh Quảng Ninh

Tái hiện tục nhận đệ tử của người Tày, tỉnh Quảng Ninh

Ngày 18/4/2026, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (xã Đoài Phương, Hà Nội), nằm trong chuỗi các hoạt động chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4, diễn ra hoạt động tái hiện nghi lễ “Nhận và dạy con tràng nhập môn” của đồng bào dân tộc Tày, tỉnh Quảng Ninh. Nghi lễ là một trong những nghi thức quan trọng, đánh dấu sự khởi đầu của quá trình truyền dạy và kế tục nghề Then - một di sản văn hóa được lưu truyên qua nhiều thế hệ.

‘Sắc màu vùng cao’ lan tỏa tinh thần gắn kết cộng đồng

‘Sắc màu vùng cao’ lan tỏa tinh thần gắn kết cộng đồng

Ngày 18/4, trong khuôn khổ các hoạt động hưởng ứng Ngày Văn hoá các dân tộc Việt Nam (19/4/2026), đã diễn ra chương trình giao lưu “Sắc màu vùng cao” của đồng bào dân tộc Thái xứ Thanh, cùng cộng đồng các dân tộc Mường, Thái, Khơ Mú, Lào, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia trải nghiệm.

Đưa văn hóa đọc lan tỏa sâu rộng tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Đưa văn hóa đọc lan tỏa sâu rộng tới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Ngày 17/4, tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học phổ thông Hà Giang, UBND tỉnh Tuyên Quang tổ chức phát động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ V với chủ đề "Cùng sách bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc". Chương trình tiếp tục khẳng định quyết tâm đưa văn hóa đọc lan tỏa sâu rộng, nhất là tại vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Rực rỡ sắc màu Tết Chôl Chnăm Thmây trên đất Tây Ninh

Rực rỡ sắc màu Tết Chôl Chnăm Thmây trên đất Tây Ninh

Trong không khí rộn ràng của Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2026, tại các địa bàn có chùa Nam tông Khmer, tiếng trống, điệu múa và các nghi lễ truyền thống hòa quyện, lan tỏa niềm vui năm mới, góp phần thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng, làm bừng sáng nét đẹp văn hóa nơi vùng biên.

Nâng tầm du lịch tâm linh thành sản phẩm OCOP 4 sao

Nâng tầm du lịch tâm linh thành sản phẩm OCOP 4 sao

Phát triển du lịch tâm linh tại Lạng Sơn bước sang trang mới khi Đền Công đồng Bắc Lệ, xã Tân Thành, là sản phẩm du lịch đầu tiên của tỉnh đạt chuẩn OCOP 4 sao, khẳng định giá trị di sản và thúc đẩy kinh tế địa phương.