Trăn trở với nghề dệt truyền thống của người Giẻ - Triêng

Từ bao đời nay, những tấm thổ cẩm truyền thống do chính tay những người phụ nữ Giẻ - Triêng làm nên đã gắn liền với mọi hoạt động hàng ngày của người dân tại chỗ, từ lao động sản xuất, đến lễ hội, đình đám.

det3-27426.jpg
Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi se sợi để dệt vải.

Dù đầu năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Nghề dệt của người Giẻ - Triêng vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, song việc bảo tồn nghề vẫn là nỗi trăn trở với các nghệ nhân, bởi thu nhập không cao, cộng với việc thế hệ trẻ không còn mặn mà với nghề dệt thủ công truyền thống.

Nhiều trăn trở…

Trong trí nhớ của những người phụ nữ lớn tuổi thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi, thổ cẩm đã gắn bó với đời sống của người Giẻ - Triêng từ xa xưa. Thổ cẩm truyền thống được tạo ra từ sợi của quả Kpảy (theo cách gọi của người Giẻ - Triêng), qua nhiều quá trình phơi, ngâm, se sợi, nhuộm màu vải, cuối cùng đưa ra thành phẩm là những tấm thổ cẩm qua đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân. Thổ cẩm của người Giẻ - Triêng ở vùng Đăk Môn chủ yếu có màu đen, với một số họa tiết nhỏ màu vàng, trắng, hoặc xanh, tạo hình hạt thóc để dành cho nữ, hạt ngô để dành cho nam.

Qua nhiều thăng trầm của thời gian, cây Kpảy dần biến mất, khiến việc dệt thổ cẩm truyền thống buộc phải chuyển sang sử dụng sợi công nghiệp. Dù không phải tốn nhiều công sức để tạo ra sợi như trước, song thổ cẩm làm ra không tạo được độ mềm và mát như sợi từ quả Kpảy. Thế nhưng, đó không phải là nỗi lo duy nhất của thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng, trăn trở đến từ việc bảo tồn nghề dệt vốn đã gắn bó với người dân nơi đây từ bao đời.

Ngồi bên khung dệt, bà Y Thương (sinh năm 1972, trú thôn Ri Mẹt) cho biết, theo các thế hệ đi trước, bà bắt đầu học dệt thổ cẩm từ năm 14 tuổi. Việc khó khăn nhất khi theo nghề dệt chính là quá trình làm sợi, rồi học cách tạo nên các hoa văn, họa tiết trên thổ cẩm. Không có một công thức nào để tạo ra các hoa văn, chỉ có trí nhớ và đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân mới có thể làm nên những tấm thổ cẩm với những họa tiết mang đậm bản sắc của người Giẻ - Triêng vùng Đăk Môn.

Thông thường, bà Thương dệt xong sẽ để lại trong nhà, phục vụ cho việc may trang phục, làm tấm đắp cho con cháu, hoặc khi nhà có đám cưới sẽ dùng để làm quà. Nếu có người mua, bà sẽ bán, nhưng giá trị không cao. Trước đây, cứ khoảng 10 tấm thổ cẩm có diện tích 1m x 2,5m sẽ đổi được một con bò, nhưng hiện nay chỉ bán được khoảng 600.000 đồng. Nếu những tấm lớn hơn, hoặc có nhiều hoa văn phức tạp hơn sẽ bán được với giá 1 triệu đồng. Trong khi đó, nếu ngồi chăm chỉ làm, phải mất 3 - 4 ngày mới dệt xong một tấm thổ cẩm, còn đi làm nương rẫy ban ngày, tranh thủ dệt ban đêm thì có thể 2 tuần mới xong.

“Tôi có mở lớp dạy trong làng, ban đầu cũng có hơn gần 20 người theo học, nhưng dần dần chỉ còn lại vài người, vì họ không mặn mà với nghề dệt thổ cẩm, phần vì không đủ kiên nhẫn, tỉ mỉ để ngồi lâu dệt vải, phần vì thu nhập từ nghề dệt khá thấp so với đi làm nông nghiệp. Tôi rất mừng khi nghề dệt của người Giẻ - Triêng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, nhưng cũng rất lo lắng nghề dệt sẽ bị mai một dần”, bà Y Thương tâm sự.

Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi bên khung dệt thổ cẩm truyền thống.

Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi bên khung dệt thổ cẩm truyền thống.

Trong khi đó, làng Đăk Răng, xã Dục Nông đã được công nhận là làng du lịch cộng đồng vào cuối năm 2023. Nơi đây vẫn còn lưu giữ nhiều lễ hội cũng như nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Giẻ - Triêng; trong đó có nghề dệt thổ cẩm. Du khách đến với làng, không chỉ được tham gia trải nghiệm các lễ hội truyền thống, còn có thể mua các sản phẩm thủ công do chính tay bà con trong làng tạo nên, như thổ cẩm, nhạc cụ hay rượu cần…

Chị Y Loan, trú làng Đăk Răng cho biết, từ khi 13 tuổi, chị đã theo các nghệ nhân trong làng học dệt thổ cẩm. Đến năm hơn 20 tuổi, chị đã có thể dệt nên những tấm thổ cẩm có hoa văn, họa tiết để bán cho du khách, người dân trong làng. Trước đây, chị thường xuyên dệt thổ cẩm, nhưng vì giá cả thấp, cộng với tốn nhiều công sức, chị Loan đã không còn dệt nhiều như trước. Bây giờ, chị chỉ dệt khi có khách đặt hàng, hoặc gia đình có việc cần dùng đến trang phục truyền thống.

“Thổ cẩm vẫn rất cần thiết trong hoạt động hàng ngày của người Giẻ - Triêng như trong các dịp lễ lớn của làng, hay cưới, hỏi, chứ không chỉ đơn thuần là làm du lịch. Ngày nay, thế hệ trẻ không nhiều người mặn mà với nghề dệt, nên chúng tôi cũng rất lo lắng. Mong muốn rằng chính quyền địa phương có giải pháp nào để tăng thu nhập cho nghề dệt, giúp nghề không bị mai một dần theo thời gian”, chị Y Loan bày tỏ.

Định hướng bảo tồn

Ông Huỳnh Ngọc Ly, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi cho biết, xã có 18 thôn, thì 16 thôn là đồng bào dân tộc thiểu số Giẻ - Triêng, với nghề dệt thổ cẩm là nghề truyền thống. Hiện, có 3 mô hình đang phát triển tốt trên địa bàn các thôn Ri Mẹt, Prong Mẹt và Đăk Po, với khoảng 50 người tham gia. Các hộ tham gia trên tinh thần tự nguyện thành lập nhóm, tuy chưa hình thành được mô hình sản xuất lớn, nhưng được định hướng dần hình thành các tổ liên kết để sản xuất mặt hàng thổ cẩm.

Thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng ở làng Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi.

Thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng ở làng Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi.

Nghề dệt thổ cẩm không phải là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình, do sản phẩm chưa được quảng bá rộng rãi. Ủy ban nhân dân xã Đăk Môn đã có định hướng giao trang thông tin điện tử, Trung tâm cung ứng dịch vụ công tổ chức quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội; đồng thời, đưa sản phẩm thổ cẩm đi trưng bày tại các hội thi triển lãm, hội chợ. Qua đó, giúp sản phẩm được nhiều người biết đến hơn, mang lại nguồn thu nhập cho bà con trong mùa nông nhàn.

“Thời gian tới, cấp ủy, chính quyền địa phương sẽ có những kế hoạch để bảo tồn, nhân rộng nghề ra các cộng đồng dân cư Giẻ - Triêng trên địa bàn. Cùng với đó, tận dụng các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn vốn được phân bổ để đầu tư cho nghề dệt truyền thống, định hướng tìm đầu ra cho bà con. Đặc biệt, xã sẽ thành lập các mô hình để truyền dạy cho các thế hệ trẻ, để nghề dệt truyền thống của người Giẻ - Triêng không bị mai một theo thời gian”, ông Huỳnh Ngọc Ly nói.

Theo ông U Chí Nam, Trưởng phòng Văn hóa – Xã hội xã Dục Nông, thực hiện chủ trương gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo và xác định cần từng bước khôi phục nghề dệt thổ cẩm; trong đó, tập trung vào việc truyền dạy và quảng bá sản phẩm.

Tối chủ nhật hàng tuần, xã tổ chức các lớp dạy dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ, học sinh, do chính các nghệ nhân dệt trên địa bàn xã truyền dạy. Đảng ủy xã cũng đã chỉ đạo cho các cơ quan, ban, ngành liên quan tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tiếp tục tổ chức thực hiện nghề dệt; đồng thời, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu sản phẩm dệt của địa phương thông qua các lễ hội, sự kiện văn hóa của tỉnh, của xã cũng như các buổi trưng bày sản phẩm.

“Để phát huy giá trị của thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng, thời gian tới, xã cũng mong muốn tỉnh có chủ trương và định hướng đối với các hợp tác xã, các tổ chức, doanh nghiệp phối hợp với các tổ sản xuất, dệt thổ cẩm để tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm đầu ra, tạo thu nhập cho các nghệ nhân dệt thổ cẩm”, ông U Chí Nam cho biết thêm./.

Dân tộc Gié-Triêng

Tên tự gọi: Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như Gié, Triêng, Ve, Bnoong.

Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy.

Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả.

Dân số: 50.962 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.

Hoạt động sản xuất: Họ làm rẫy là chính. Xưa trồng nhiều lúa nếp, nay lúa tẻ giữ vị trí chủ đạo, gồm nhiều giống khác nhau. Cách thức canh tác như ở các dân tộc miền núi khác trong vùng. Công cụ chủ yếu gồm rìu và dao quắm để phát, gậy đẽo nhọn đầu hoặc có mũi sắt để chọc lỗ khi gieo trỉa, cái cuốc con có cán là đoạn chạc cây để làm cỏ. Tất cả cây trồng đều ở rẫy, ngoài lúa còn có ngô, sắn, bo bo, kê, khoai lang, khoai môn, bầu bí, dưa, thuốc lá, bông, mía, chuối... Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, trâu, chỉ khi dùng vào việc cúng tế mới mổ thịt. Nguồn thức ăn kiếm được nhờ hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đóng vai trò quan trọng. Người Gié-Triêng có sở trường về đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi, vùng Ðắc Pét có truyền thống đãi vàng sa khoáng và làm đồ gốm ở trình độ chưa biết dùng bàn xoay và chưa biết xây lò nung. Quan hệ hàng hoá trước kia dùng vật đổi vật, nay đã dùng tiền.

Ăn: Mỗi ngày người Gié-Triêng ăn 3 bữa (sáng, trưa, tối). Họ ưa thích các món nướng đối với cá, thịt. Canh cũng là món thường có trong các bữa cơm. Tập quán ăn bốc tồn tại lâu đời (nay việc dùng đũa, bát khá rộng rãi). Ðồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần chế từ gạo, ngô, sắn, kê và rượu chế từ nước một loại cây họ dừa mọc hoang trên rừng. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.

: Tại huyện Ðắc Glây tỉnh Kon Tum có nhóm Gié và Triêng, tỉnh Quảng Nam có nhóm Bnoong ở huyện Phước Sơn và Trà My, nhóm T’riêng và Ve ở huyện Giằng. Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống phổ biến, đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà. Về sau, nhà trệt đã xuất hiện. ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà tạo thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hoá lâu đời của họ ở Giằng và một số nơi ở Ðắc Glây.

Mặc: Theo nếp cổ truyền, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức: các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo cổ, tay, chân, tai, phụ nữ các gia đình khá giả có cả hoa tai bằng nhà voi. Y phục theo kiểu người Việt hiện tại đã thâm nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh.

Phương tiện vận chuyển: Người Gié-Triêng dùng gùi. Có những loại và cỡ gùi khác nhau: gùi đan thưa, đan dày, gùi đeo theo người hàng ngày, gùi để đồ tại nhà, gùi có hoa văn nan nhuộm đen, gùi không dùng nan nhuộm, gùi cho riêng nam giới...

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồn của mình, có tên gọi và có kiêng cữ riêng. Xưa kia, có những họ của nữ, có những họ của nam. Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặt chẽ. "Già làng" có uy tín cao nhờ hiểu biết, nhiều kinh nghiệm, cũng thường là người có cộng lập làng. Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện về tàn dư thời mẫu hệ và bước chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ.

Cưới xin: Trai gái tự tìm bạn đời, cha mẹ thường chấp thuận nếu không vi phạm tập tục. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn), và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.

Sinh đẻ: Chồng phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau 10 ngày mới được mang con về nhà. Ðứa bé được coi là thành viên của gia đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho nó gia nhập vào cộng đồng những người thân thuộc trong nhà.

Ma chay: Phong tục ở các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Song nét chung là quan tài đẽo độc mộc, có nơi tạc hình đầu trâu trên đầu. Người chết được mai táng (có tài liệu viết xưa kia hoả táng); nhà mồ dựng không cầu kỳ, có rào xung quanh. Những đồ vật đem ra mộ cho người chết nếu là chiêng, ché thì đều đập thủng hoặc vỡ. Trong quá khứ, người ta từng biết đến tục chôn chung những người chết cách nhau không lâu trong gia đình vào một quan tài. Suốt 10 ngày khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng "nhắc nhở" cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp đầu năm tại cạnh ngôi mộ.

Thờ cúng: Người ta quan niệm có nhiều "thần linh" và mọi vật, cũng như con vật, con người đều có siêu linh ẩn trú. Các vị thần nước, thần trời (đồng nhất với sấm sét), thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây đa... được người Gié-Triêng cầu cúng. Mỗi làng thường có vật "thiêng" như thứ bùa hộ mệnh, được cất dấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài. Dòng họ, gia đình cũng có vật "thiêng" để cầu mùa gắn với canh tác lúa. Ma người chết cũng được coi là một thế lực chi phối đối với cuộc sống. Liên quan đến thế giới siêu nhiên đó, có rất nhiều lễ thức tín ngưỡng theo tập tục.

Lễ tết: Mỗi khi cúng bái đều có hiến tế, mà máu con vật hiến tế là quan trọng nhất. Lễ trọng phải đâm trâu, và xa xưa có nơi phải cúng bằng máu người trong lễ thức đặc biệt liên quan đến thần lúa. Trong chu kỳ sản xuất hàng năm thường có lễ thức khi chọn đất rẫy, phát rẫy, gieo trỉa, khi hạn hay úng, khi mở đầu tuốt lúa, khi đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên và khi lấy thóc lần đầu về ăn. Gắn với chu kỳ đời người, có các lễ thức trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi đẻ, khi đặt tên, khi bị đau ốm, khi cưa răng, trong việc cưới xin, khi chết đi. Tết dân tộc thường sớm hơn tết Nguyên đán, tổ chức theo làng.

Lịch: Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Theo đó, tên gọi mỗi ngày cụ thể trong tháng phần lớn đều được lặp lại, tuy một ngày ở nửa đầu và một ngày ở nửa cuối tháng. Mỗi năm 12 tháng. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định.

Văn nghệ: Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Tuỳ nơi, người ta dùng 3 cồng với 7 hay 9 chiêng, hoặc 6 chiêng, hoặc 4 chiêng... Có khi cồng chiêng tấu cùng với trống, với ống nứa. Nguyên ống nứa cũng là loại nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc. Người Gié-Triêng, cũng như các tộc khác, có những làn điệu dân ca cổ truyền và nhiều truyện cổ.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Gié-Triêng

Có thể bạn quan tâm

Văn hóa Chăm: 'Mỏ vàng' còn nhiều dư địa khai mở

Văn hóa Chăm: 'Mỏ vàng' còn nhiều dư địa khai mở

Là những địa phương sở hữu kho tàng văn hóa Chăm độc đáo và phong phú, những năm qua Khánh Hòa và Lâm Đồng đã có nhiều giải pháp để thu hút các nguồn lực đầu tư, tạo giá trị gia tăng từ kho tàng văn hóa.

Xây dựng văn hóa, con người trở thành sức mạnh nội sinh

Xây dựng văn hóa, con người trở thành sức mạnh nội sinh

Sau hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ hiện trở thành địa phương có không gian văn hóa rộng lớn, hội tụ nhiều giá trị đặc sắc của vùng đất cội nguồn dân tộc, văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa miền núi Tây Bắc. 

Giữ hồn văn hóa Chăm từ những 'di sản sống'

Giữ hồn văn hóa Chăm từ những 'di sản sống'

Văn hóa Chăm là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa đa dạng của Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, hệ thống di sản văn hóa Chăm vẫn lưu giữ những giá trị độc đáo về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.

Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Hàng trăm năm qua, những mái chùa Phật giáo Nam tông vừa là điểm tựa tín ngưỡng, vừa là nơi lưu giữ di sản của đồng bào Khmer. Giờ đây, khi “guồng quay” du lịch chạm đến từng phum sóc, những không gian thiêng liêng ấy nhanh chóng trở thành điểm đến đầy sức hút.

Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Đồng bào dân tộc Dao ở xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh) sở hữu nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Dao, nhất là việc gìn giữ tiếng nói, trang phục, nghề thêu, dân ca và các nghi lễ truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng... Đây cũng là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Không để mai một di sản văn hóa quý báu của cha ông

Không để mai một di sản văn hóa quý báu của cha ông

Câu lạc bộ múa dân tộc xã Nha Bích (thành phố Đồng Nai) ra đời năm 2021, đến nay đã thu hút 35 thành viên, chia thành nhóm múa đương đại và nhóm múa dân tộc. Đây là lực lượng nòng cốt đoàn kết, tập hợp thanh niên là người đồng bào dân tộc thiểu số xã Nha Bích.

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Cao Bằng được biết đến là quê hương của hát then, đàn tính. Để lời then tiếng tính không chỉ vang lên ở mỗi nếp nhà, mà còn lan tỏa sâu rộng, những nghệ nhân, người truyền lửa cùng sự định hướng của ngành du lịch và chính quyền các cấp đã góp phần gìn giữ giá trị bền vững của quê hương giữa dòng chảy hiện đại.

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với các chuyên gia Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông. Đây là hoạt động quan trọng nhằm rà soát việc thực hiện các khuyến nghị của UNESCO, chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định danh hiệu dự kiến diễn ra vào năm 2027.

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Sáng 2/6, Ban tổ chức Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Lai Châu tổ chức lễ phát động cuộc thi với chủ đề “Lai Châu - Mạch nguồn văn hóa, tiềm năng, động lực phát triển”. Lễ phát động được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến từ điểm cầu tỉnh đến điểm cầu 36 xã, phường trong tỉnh.

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Tại thành phố Cần Thơ, Phật giáo Nam tông tiếp tục thể hiện rõ vai trò trụ cột trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Không chỉ là điểm tựa tâm linh thiêng liêng, thiết chế này còn là không gian giáo dục, bảo vệ di sản và thắt chặt đại đoàn kết dân tộc.

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ngày 30/5, thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ ngày 1 - 30/6, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 6 với chủ đề “Ngày hội gia đình”, hướng tới chào mừng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, xã Tân Hưng (thành phố Đồng Nai) vừa tổ chức công bố và trao Quyết định công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Câu lạc bộ được thành lập với 35 thành viên, trong đó Ban Chủ nhiệm gồm 7 thành viên do chị Điểu Thị Hồng giữ vai trò Chủ nhiệm.

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Tận dụng nguồn nguyên liệu cỏ bàng sẵn có ở các vùng biên giới (giáp ranh Campuchia) thuộc tỉnh An Giang, người dân địa phương đã tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ như, túi xách thời trang, giỏ, ví và nhiều loại vật dụng gia đình, đồ trang trí nội thất… tạo nguồn thu nhập, ổn định cuộc sống.

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Là điểm sáng trong phong trào “Hát Xoan học đường” của tỉnh Phú Thọ, Trường Tiểu học Gia Cẩm, phường Việt Trì đã đưa những làn điệu Xoan cổ hòa vào nhịp sống học đường, để tiếng trống phách và câu hát giao duyên mỗi ngày ngân vang dưới mái trường gần 2.000 học sinh.

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Ngày 28/5, Bảo tàng Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh tổ chức khai mạc Triển lãm “Cồng chiêng Tây Nguyên - Thanh âm từ đại ngàn”. Sự kiện diễn ra tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh đến hết ngày 28/6.

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Cuối tháng 5, những cánh đồng lúa ở Sơn La mang đến vẻ đẹp say đắm lòng người, với sắc vàng của mùa lúa chuẩn bị chín cùng sắc xanh mướt trải dài khắp các bản làng của núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, tạo nên bức tranh thiên nhiên yên bình, thơ mộng và đẹp đến nao lòng.

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Giữa núi rừng biên giới Pà Vầy Sủ (Tuyên Quang), những điệu múa truyền thống, tiếng khèn, câu hát dân gian vẫn được các em học sinh nâng niu gìn giữ mỗi ngày. Từ mái trường vùng cao, tình yêu văn hóa dân tộc đang được thầy cô và cộng đồng bền bỉ trao truyền, góp phần gìn giữ mạch nguồn bản sắc nơi biên cương Tổ quốc.

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Trong dòng chảy hiện đại, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số luôn là một hành trình nhiều tâm huyết. Với cộng đồng người S’tiêng tại Đồng Nai, những điệu múa, lời ca không chỉ là nét đẹp truyền thống mà còn là sợi dây kết nối các thế hệ. Suốt hơn ba năm qua, Câu lạc bộ văn hóa người S’tiêng BP đã trở thành nơi “giữ lửa” văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của dân tộc mình.

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Sáng 24/5/2026, vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19 diễn ra sôi động tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến theo dõi, cổ vũ. Đây là điểm nhấn đặc biệt trong chuỗi hoạt động Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026. 

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Giữa vùng đất đầy nắng gió, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh nổi bật với kiến trúc độc đáo, không gian thanh tịnh và những giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ là trung tâm của đạo Cao Đài, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn để du khách tìm hiểu tín ngưỡng, khám phá nét đẹp kiến trúc, văn hóa cũng như đời sống tinh thần đặc trưng của vùng Nam Bộ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước mỗi năm.

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Sáng 23/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026 chính thức khai mạc, thu hút đông đảo người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham dự. Đây là hoạt động mở đầu cho chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch diễn ra đến hết ngày 31/5 với chủ đề “Vang xa vó ngựa cao nguyên”.