Trăn trở với nghề dệt truyền thống của người Giẻ - Triêng

Từ bao đời nay, những tấm thổ cẩm truyền thống do chính tay những người phụ nữ Giẻ - Triêng làm nên đã gắn liền với mọi hoạt động hàng ngày của người dân tại chỗ, từ lao động sản xuất, đến lễ hội, đình đám.

det3-27426.jpg
Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi se sợi để dệt vải.

Dù đầu năm 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa Nghề dệt của người Giẻ - Triêng vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, song việc bảo tồn nghề vẫn là nỗi trăn trở với các nghệ nhân, bởi thu nhập không cao, cộng với việc thế hệ trẻ không còn mặn mà với nghề dệt thủ công truyền thống.

Nhiều trăn trở…

Trong trí nhớ của những người phụ nữ lớn tuổi thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi, thổ cẩm đã gắn bó với đời sống của người Giẻ - Triêng từ xa xưa. Thổ cẩm truyền thống được tạo ra từ sợi của quả Kpảy (theo cách gọi của người Giẻ - Triêng), qua nhiều quá trình phơi, ngâm, se sợi, nhuộm màu vải, cuối cùng đưa ra thành phẩm là những tấm thổ cẩm qua đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân. Thổ cẩm của người Giẻ - Triêng ở vùng Đăk Môn chủ yếu có màu đen, với một số họa tiết nhỏ màu vàng, trắng, hoặc xanh, tạo hình hạt thóc để dành cho nữ, hạt ngô để dành cho nam.

Qua nhiều thăng trầm của thời gian, cây Kpảy dần biến mất, khiến việc dệt thổ cẩm truyền thống buộc phải chuyển sang sử dụng sợi công nghiệp. Dù không phải tốn nhiều công sức để tạo ra sợi như trước, song thổ cẩm làm ra không tạo được độ mềm và mát như sợi từ quả Kpảy. Thế nhưng, đó không phải là nỗi lo duy nhất của thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng, trăn trở đến từ việc bảo tồn nghề dệt vốn đã gắn bó với người dân nơi đây từ bao đời.

Ngồi bên khung dệt, bà Y Thương (sinh năm 1972, trú thôn Ri Mẹt) cho biết, theo các thế hệ đi trước, bà bắt đầu học dệt thổ cẩm từ năm 14 tuổi. Việc khó khăn nhất khi theo nghề dệt chính là quá trình làm sợi, rồi học cách tạo nên các hoa văn, họa tiết trên thổ cẩm. Không có một công thức nào để tạo ra các hoa văn, chỉ có trí nhớ và đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân mới có thể làm nên những tấm thổ cẩm với những họa tiết mang đậm bản sắc của người Giẻ - Triêng vùng Đăk Môn.

Thông thường, bà Thương dệt xong sẽ để lại trong nhà, phục vụ cho việc may trang phục, làm tấm đắp cho con cháu, hoặc khi nhà có đám cưới sẽ dùng để làm quà. Nếu có người mua, bà sẽ bán, nhưng giá trị không cao. Trước đây, cứ khoảng 10 tấm thổ cẩm có diện tích 1m x 2,5m sẽ đổi được một con bò, nhưng hiện nay chỉ bán được khoảng 600.000 đồng. Nếu những tấm lớn hơn, hoặc có nhiều hoa văn phức tạp hơn sẽ bán được với giá 1 triệu đồng. Trong khi đó, nếu ngồi chăm chỉ làm, phải mất 3 - 4 ngày mới dệt xong một tấm thổ cẩm, còn đi làm nương rẫy ban ngày, tranh thủ dệt ban đêm thì có thể 2 tuần mới xong.

“Tôi có mở lớp dạy trong làng, ban đầu cũng có hơn gần 20 người theo học, nhưng dần dần chỉ còn lại vài người, vì họ không mặn mà với nghề dệt thổ cẩm, phần vì không đủ kiên nhẫn, tỉ mỉ để ngồi lâu dệt vải, phần vì thu nhập từ nghề dệt khá thấp so với đi làm nông nghiệp. Tôi rất mừng khi nghề dệt của người Giẻ - Triêng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia, nhưng cũng rất lo lắng nghề dệt sẽ bị mai một dần”, bà Y Thương tâm sự.

Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi bên khung dệt thổ cẩm truyền thống.

Phụ nữ Giẻ - Triêng ở thôn Ri Mẹt, xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi bên khung dệt thổ cẩm truyền thống.

Trong khi đó, làng Đăk Răng, xã Dục Nông đã được công nhận là làng du lịch cộng đồng vào cuối năm 2023. Nơi đây vẫn còn lưu giữ nhiều lễ hội cũng như nghề thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Giẻ - Triêng; trong đó có nghề dệt thổ cẩm. Du khách đến với làng, không chỉ được tham gia trải nghiệm các lễ hội truyền thống, còn có thể mua các sản phẩm thủ công do chính tay bà con trong làng tạo nên, như thổ cẩm, nhạc cụ hay rượu cần…

Chị Y Loan, trú làng Đăk Răng cho biết, từ khi 13 tuổi, chị đã theo các nghệ nhân trong làng học dệt thổ cẩm. Đến năm hơn 20 tuổi, chị đã có thể dệt nên những tấm thổ cẩm có hoa văn, họa tiết để bán cho du khách, người dân trong làng. Trước đây, chị thường xuyên dệt thổ cẩm, nhưng vì giá cả thấp, cộng với tốn nhiều công sức, chị Loan đã không còn dệt nhiều như trước. Bây giờ, chị chỉ dệt khi có khách đặt hàng, hoặc gia đình có việc cần dùng đến trang phục truyền thống.

“Thổ cẩm vẫn rất cần thiết trong hoạt động hàng ngày của người Giẻ - Triêng như trong các dịp lễ lớn của làng, hay cưới, hỏi, chứ không chỉ đơn thuần là làm du lịch. Ngày nay, thế hệ trẻ không nhiều người mặn mà với nghề dệt, nên chúng tôi cũng rất lo lắng. Mong muốn rằng chính quyền địa phương có giải pháp nào để tăng thu nhập cho nghề dệt, giúp nghề không bị mai một dần theo thời gian”, chị Y Loan bày tỏ.

Định hướng bảo tồn

Ông Huỳnh Ngọc Ly, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đăk Môn, tỉnh Quảng Ngãi cho biết, xã có 18 thôn, thì 16 thôn là đồng bào dân tộc thiểu số Giẻ - Triêng, với nghề dệt thổ cẩm là nghề truyền thống. Hiện, có 3 mô hình đang phát triển tốt trên địa bàn các thôn Ri Mẹt, Prong Mẹt và Đăk Po, với khoảng 50 người tham gia. Các hộ tham gia trên tinh thần tự nguyện thành lập nhóm, tuy chưa hình thành được mô hình sản xuất lớn, nhưng được định hướng dần hình thành các tổ liên kết để sản xuất mặt hàng thổ cẩm.

Thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng ở làng Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi.

Thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng ở làng Đăk Răng, xã Dục Nông, tỉnh Quảng Ngãi.

Nghề dệt thổ cẩm không phải là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình, do sản phẩm chưa được quảng bá rộng rãi. Ủy ban nhân dân xã Đăk Môn đã có định hướng giao trang thông tin điện tử, Trung tâm cung ứng dịch vụ công tổ chức quảng bá trên các nền tảng mạng xã hội; đồng thời, đưa sản phẩm thổ cẩm đi trưng bày tại các hội thi triển lãm, hội chợ. Qua đó, giúp sản phẩm được nhiều người biết đến hơn, mang lại nguồn thu nhập cho bà con trong mùa nông nhàn.

“Thời gian tới, cấp ủy, chính quyền địa phương sẽ có những kế hoạch để bảo tồn, nhân rộng nghề ra các cộng đồng dân cư Giẻ - Triêng trên địa bàn. Cùng với đó, tận dụng các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn vốn được phân bổ để đầu tư cho nghề dệt truyền thống, định hướng tìm đầu ra cho bà con. Đặc biệt, xã sẽ thành lập các mô hình để truyền dạy cho các thế hệ trẻ, để nghề dệt truyền thống của người Giẻ - Triêng không bị mai một theo thời gian”, ông Huỳnh Ngọc Ly nói.

Theo ông U Chí Nam, Trưởng phòng Văn hóa – Xã hội xã Dục Nông, thực hiện chủ trương gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã đã chỉ đạo và xác định cần từng bước khôi phục nghề dệt thổ cẩm; trong đó, tập trung vào việc truyền dạy và quảng bá sản phẩm.

Tối chủ nhật hàng tuần, xã tổ chức các lớp dạy dệt thổ cẩm cho thế hệ trẻ, học sinh, do chính các nghệ nhân dệt trên địa bàn xã truyền dạy. Đảng ủy xã cũng đã chỉ đạo cho các cơ quan, ban, ngành liên quan tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tiếp tục tổ chức thực hiện nghề dệt; đồng thời, đẩy mạnh quảng bá thương hiệu sản phẩm dệt của địa phương thông qua các lễ hội, sự kiện văn hóa của tỉnh, của xã cũng như các buổi trưng bày sản phẩm.

“Để phát huy giá trị của thổ cẩm truyền thống của người Giẻ - Triêng, thời gian tới, xã cũng mong muốn tỉnh có chủ trương và định hướng đối với các hợp tác xã, các tổ chức, doanh nghiệp phối hợp với các tổ sản xuất, dệt thổ cẩm để tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm đầu ra, tạo thu nhập cho các nghệ nhân dệt thổ cẩm”, ông U Chí Nam cho biết thêm./.

Dân tộc Gié-Triêng

Tên tự gọi: Mỗi nhóm có tên tự gọi riêng như Gié, Triêng, Ve, Bnoong.

Tên gọi khác: Cà Tang, Giang Rẫy.

Nhóm địa phương: Gié (Giẻ), Triêng (T’riêng), Ve, Bnoong (Mnoong). Nhóm Gié đông hơn cả.

Dân số: 50.962 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), tương đối gần gũi với tiếng Xơ Ðăng, Ba Na. Giữa các nhóm tiếng nói có những sự khác nhau nhất định. Chữ viết hình thành trong thời kỳ trước năm 1975, cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Gié-Triêng là cư dân gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh quần sơn Ngọc Linh.

Hoạt động sản xuất: Họ làm rẫy là chính. Xưa trồng nhiều lúa nếp, nay lúa tẻ giữ vị trí chủ đạo, gồm nhiều giống khác nhau. Cách thức canh tác như ở các dân tộc miền núi khác trong vùng. Công cụ chủ yếu gồm rìu và dao quắm để phát, gậy đẽo nhọn đầu hoặc có mũi sắt để chọc lỗ khi gieo trỉa, cái cuốc con có cán là đoạn chạc cây để làm cỏ. Tất cả cây trồng đều ở rẫy, ngoài lúa còn có ngô, sắn, bo bo, kê, khoai lang, khoai môn, bầu bí, dưa, thuốc lá, bông, mía, chuối... Vật nuôi phổ biến là gà, lợn, chó, trâu, chỉ khi dùng vào việc cúng tế mới mổ thịt. Nguồn thức ăn kiếm được nhờ hái lượm, săn bắn và đánh bắt cá đóng vai trò quan trọng. Người Gié-Triêng có sở trường về đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi, vùng Ðắc Pét có truyền thống đãi vàng sa khoáng và làm đồ gốm ở trình độ chưa biết dùng bàn xoay và chưa biết xây lò nung. Quan hệ hàng hoá trước kia dùng vật đổi vật, nay đã dùng tiền.

Ăn: Mỗi ngày người Gié-Triêng ăn 3 bữa (sáng, trưa, tối). Họ ưa thích các món nướng đối với cá, thịt. Canh cũng là món thường có trong các bữa cơm. Tập quán ăn bốc tồn tại lâu đời (nay việc dùng đũa, bát khá rộng rãi). Ðồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần chế từ gạo, ngô, sắn, kê và rượu chế từ nước một loại cây họ dừa mọc hoang trên rừng. Nam nữ đều hút thuốc lá bằng tẩu.

: Tại huyện Ðắc Glây tỉnh Kon Tum có nhóm Gié và Triêng, tỉnh Quảng Nam có nhóm Bnoong ở huyện Phước Sơn và Trà My, nhóm T’riêng và Ve ở huyện Giằng. Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống phổ biến, đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà. Về sau, nhà trệt đã xuất hiện. ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà tạo thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hoá lâu đời của họ ở Giằng và một số nơi ở Ðắc Glây.

Mặc: Theo nếp cổ truyền, nam quấn khố, ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức: các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm, đeo cổ, tay, chân, tai, phụ nữ các gia đình khá giả có cả hoa tai bằng nhà voi. Y phục theo kiểu người Việt hiện tại đã thâm nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh.

Phương tiện vận chuyển: Người Gié-Triêng dùng gùi. Có những loại và cỡ gùi khác nhau: gùi đan thưa, đan dày, gùi đeo theo người hàng ngày, gùi để đồ tại nhà, gùi có hoa văn nan nhuộm đen, gùi không dùng nan nhuộm, gùi cho riêng nam giới...

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các họ khác nhau, từng họ có truyền thuyết về cội nguồn của mình, có tên gọi và có kiêng cữ riêng. Xưa kia, có những họ của nữ, có những họ của nam. Quan hệ cộng đồng trong làng thường xuyên và khá chặt chẽ. "Già làng" có uy tín cao nhờ hiểu biết, nhiều kinh nghiệm, cũng thường là người có cộng lập làng. Xã hội cổ truyền có nhiều biểu hiện về tàn dư thời mẫu hệ và bước chuyển tiếp từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ.

Cưới xin: Trai gái tự tìm bạn đời, cha mẹ thường chấp thuận nếu không vi phạm tập tục. Việc cưới xin trải qua nhiều bước, bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu chú rể với nhau (thông qua việc họ đưa cơm với gan gà cho nhau cùng ăn và uống chung bát rượu, hoặc có nơi họ trùm chung tấm chăn), và cô gái phải tự chuẩn bị 100 bó củi đẹp từ trước để đem đến nhà trai. Nhà trai thường tặng nhà gái đồ đan và nhận được của nhà gái những sản phẩm dệt. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm.

Sinh đẻ: Chồng phải làm lều ngoài rừng cho vợ đẻ. Sản phụ tự lo một mình trong sinh nở, sau 10 ngày mới được mang con về nhà. Ðứa bé được coi là thành viên của gia đình sau khi đã tiến hành một nghi lễ cúng cho nó gia nhập vào cộng đồng những người thân thuộc trong nhà.

Ma chay: Phong tục ở các nhóm không hoàn toàn giống nhau. Song nét chung là quan tài đẽo độc mộc, có nơi tạc hình đầu trâu trên đầu. Người chết được mai táng (có tài liệu viết xưa kia hoả táng); nhà mồ dựng không cầu kỳ, có rào xung quanh. Những đồ vật đem ra mộ cho người chết nếu là chiêng, ché thì đều đập thủng hoặc vỡ. Trong quá khứ, người ta từng biết đến tục chôn chung những người chết cách nhau không lâu trong gia đình vào một quan tài. Suốt 10 ngày khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng "nhắc nhở" cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp đầu năm tại cạnh ngôi mộ.

Thờ cúng: Người ta quan niệm có nhiều "thần linh" và mọi vật, cũng như con vật, con người đều có siêu linh ẩn trú. Các vị thần nước, thần trời (đồng nhất với sấm sét), thần mặt trời, thần đất, thần làng, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây đa... được người Gié-Triêng cầu cúng. Mỗi làng thường có vật "thiêng" như thứ bùa hộ mệnh, được cất dấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài. Dòng họ, gia đình cũng có vật "thiêng" để cầu mùa gắn với canh tác lúa. Ma người chết cũng được coi là một thế lực chi phối đối với cuộc sống. Liên quan đến thế giới siêu nhiên đó, có rất nhiều lễ thức tín ngưỡng theo tập tục.

Lễ tết: Mỗi khi cúng bái đều có hiến tế, mà máu con vật hiến tế là quan trọng nhất. Lễ trọng phải đâm trâu, và xa xưa có nơi phải cúng bằng máu người trong lễ thức đặc biệt liên quan đến thần lúa. Trong chu kỳ sản xuất hàng năm thường có lễ thức khi chọn đất rẫy, phát rẫy, gieo trỉa, khi hạn hay úng, khi mở đầu tuốt lúa, khi đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên và khi lấy thóc lần đầu về ăn. Gắn với chu kỳ đời người, có các lễ thức trong thời kỳ mang thai, trong và sau khi đẻ, khi đặt tên, khi bị đau ốm, khi cưa răng, trong việc cưới xin, khi chết đi. Tết dân tộc thường sớm hơn tết Nguyên đán, tổ chức theo làng.

Lịch: Người Gié-Triêng căn cứ vào chu kỳ mặt trăng để tính ngày. Theo đó, tên gọi mỗi ngày cụ thể trong tháng phần lớn đều được lặp lại, tuy một ngày ở nửa đầu và một ngày ở nửa cuối tháng. Mỗi năm 12 tháng. Từng tháng có những công việc trọng tâm nhất định.

Văn nghệ: Bộ nhạc cụ phong phú, quý giá và quan trọng nhất là cồng chiêng. Tuỳ nơi, người ta dùng 3 cồng với 7 hay 9 chiêng, hoặc 6 chiêng, hoặc 4 chiêng... Có khi cồng chiêng tấu cùng với trống, với ống nứa. Nguyên ống nứa cũng là loại nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc. Người Gié-Triêng, cũng như các tộc khác, có những làn điệu dân ca cổ truyền và nhiều truyện cổ.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Gié-Triêng

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều chuyển biến tích cực. Từ việc hoàn thiện quy hoạch, tu bổ di tích đến đẩy mạnh xã hội hóa và gắn bảo tồn với phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của vùng Đất Tổ đang tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữa cái nắng đầu hè trên miền đá cực Bắc, sân Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Sủng Là, xã Sà Phìn (Tuyên Quang) lại rộn ràng bởi những thanh âm đặc biệt. Tiếng khèn Mông sau lúc ngập ngừng đã ngân lên thành nhịp, hòa cùng tiếng cười của những đứa trẻ vùng cao khiến không gian ngôi trường nhỏ giữa cao nguyên đá trở nên sống động, vui tươi hơn.

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Từng được kỳ vọng là nơi lưu giữ giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương, đồng thời phục vụ nhu cầu tham quan, giáo dục truyền thống cho học sinh và người dân trên địa bàn, nhưng thời gian gần đây, Bảo tàng Phù Cát (xã Phù Cát, tỉnh Gia Lai) lại rơi vào tình trạng xuống cấp, hoang hóa với thời gian.

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

UBND tỉnh Khánh Hòa đang phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị tổ chức “Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI” với quy mô cấp quốc gia. Thông qua các hoạt động của ngày hội, tỉnh hướng tới quảng bá nét đẹp văn hóa, con người đồng bào Chăm đến người dân và du khách trong, ngoài nước; đồng thời góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Tối 12/5/2026, tại thành phố Hải Phòng đã diễn ra chương trình biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc. Chương trình có sự góp mặt của hàng trăm nghệ sĩ đến từ đoàn nghệ thuật tỉnh Lào Cai, mang tới sắc màu rực rỡ góp thêm vào bức tranh đa sắc màu của Lễ hội Hoa Phượng đỏ 2026. 

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Không đơn thuần là nơi gặp gỡ của những mối tình xưa, chợ tình Khâu Vai (xã Khâu Vai, tỉnh Tuyên Quang) hôm nay đã trở thành một không gian văn hóa đặc biệt - nơi ký ức, phong tục của đồng bào vùng cao tiếp nối qua nhiều thế hệ. Mỗi năm vào tháng Ba âm lịch, Khâu Vai lại rộn ràng trong tiếng khèn, tiếng hát giao duyên và sắc váy rực rỡ của đồng bào các dân tộc.

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

Ngày 10/5, UBND xã Xuân Dương (tỉnh Thái Nguyên) đã khai mạc Lễ hội văn hóa truyền thống “Chợ tình Xuân Dương” năm 2026. Việc tổ chức lễ hội truyền thống này nhằm tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, nơi những câu hát Sli, hát Lượn làm say lòng du khách thập phương.

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Ngày 9/5, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nga My (Nghệ An) tổ chức Lễ đón nhận Chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Lễ đón tiếng sấm của người Ơ Đu” và kỷ niệm 20 năm thành lập bản tái định cư Văng Môn - nơi sinh sống tập trung đông dân cư nhất của đồng bào Ơ Đu trên địa bàn tỉnh.

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Tối 8/5, tại Sơn La đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Hương sắc vùng cao” năm 2026. Triển lãm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức nhằm tôn vinh, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao; góp phần tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Giữa không gian đá xám của vùng cao Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, có những căn nhà nhỏ luôn đỏ lửa từ sáng sớm. Trong làn khói mỏng quyện mùi sáp ong thơm dịu, những người phụ nữ Mông lặng lẽ cúi mình bên tấm vải lanh, đôi tay thoăn thoắt đưa từng nét vẽ bằng chiếc bút đồng nhỏ bé. Ở nơi ấy, vẽ sáp ong không chỉ là một nghề thủ công mà còn là cách người Mông gửi vào tấm vải những ký ức của cộng đồng, những quan niệm về cuộc sống và cả sự gắn bó với núi rừng đá xám.

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Tối 7/5, UBND phường Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ) tổ chức Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà năm 2026, tại khu vực Vườn hoa phố đi bộ đường Đà Giang. Đây là hoạt động văn hóa tâm linh mang đậm bản sắc dân tộc; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước.

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Giữa miền biên viễn nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, sau phiên chợ tình Khâu Vai một ngày, đồng bào các dân tộc lại tìm về với chợ Phong lưu Sơn Vĩ ở xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang. Không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa, chợ Phong lưu Sơn Vĩ còn là không gian văn hóa đậm sắc màu truyền thống, nơi lưu giữ những câu chuyện tình yêu mộc mạc, thủy chung của đồng bào vùng cao.

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Nằm ở vùng đất đỏ miền Đông, sau khi sáp nhập xã Bom Bo cũ và Bình Minh cũ, xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) hôm nay không chỉ được biết đến như một biểu tượng của tinh thần kháng chiến quật khởi mà còn là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của người S'tiêng.

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học

Việc đưa di sản văn hóa vào trường học không còn là câu chuyện mang tính khuyến khích, mà đang dần trở thành một yêu cầu tất yếu. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức, mà còn là hành trình hình thành nhân cách, bồi đắp tâm hồn và xây dựng văn hóa cho thế hệ trẻ. 

Dệt thổ cẩm - nét văn hóa của đồng bào M’nông

Dệt thổ cẩm - nét văn hóa của đồng bào M’nông

Dệt thổ cẩm là nét văn hóa đặc trưng, thể hiện sự khéo léo của đồng bào M'nông, là sự tiếp nối của một nghề truyền thống lâu đời. Vải thổ cẩm được dệt hoàn toàn trên khung cửi truyền thống, từ những kỹ năng, sự sáng tạo và kiên nhẫn của những người phụ nữ M’nông đã tạo ra những trang phục truyền thống với những hoa văn, họa tiết sặc sỡ mang sắc thái đặc sắc của cộng đồng.

Độc đáo nước uống ‘chè đâm’ của đồng bào Thái

Độc đáo nước uống ‘chè đâm’ của đồng bào Thái

Chè đâm là thức uống dân dã nhưng độc đáo của đồng bào Thái miền Tây Nghệ An; không chỉ gây ấn tượng bởi tên gọi lạ mà còn bởi cách chế biến công phu và hương vị đặc trưng. Từ những lá chè rừng được giã nhuyễn trong cối gỗ, cối đá, ống tre, người Thái đã tạo nên một loại nước giải khát mang đậm dấu ấn văn hóa, khiến du khách một lần thưởng thức là nhớ mãi.

Tình ca Tây Nguyên ngân vang giữa lòng Thủ đô

Tình ca Tây Nguyên ngân vang giữa lòng Thủ đô

Trong chuỗi hoạt động chào mừng Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, chương trình dân ca, dân vũ “Tình ca Tây Nguyên” diễn ra tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã mang đến không gian đậm sắc màu đại ngàn, thu hút đông đảo du khách.

Giữ vững danh hiệu toàn cầu từ những việc làm cụ thể

Giữ vững danh hiệu toàn cầu từ những việc làm cụ thể

Giữa trùng điệp đá tai mèo nơi địa đầu cực Bắc, Cao nguyên đá Đồng Văn không chỉ là một vùng địa chất độc đáo, mà còn là một “bảo tàng sống” lưu giữ ký ức hàng trăm triệu năm của trái đất, hòa quyện với đời sống văn hóa của các cộng đồng dân tộc.