Những ngày tháng 3 âm lịch, không gian Di tích Tháp Bà Pô Nagar ở phường Bắc Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) trở nên linh thiêng và rộn ràng hơn bao giờ hết.
Từ sáng sớm, từng đoàn du khách hành hương về với tháp để tế lễ, tham quan rất trang nghiêm. Trong nắng sớm, tiếng trống, tiếng chiêng, hòa quyện cùng sắc phục Chăm, áo dài truyền thống và hương trầm tạo nên một không gian văn hóa đặc biệt bên dòng sông Cái. Người dân thập phương có dịp tham gia vào lễ hội cùng với cộng đồng người Chăm ở Khánh Hòa tạo nên sắc thái văn hóa đặc trưng.
Đặc sắc nơi Mẫu Thiên Y A Na
Trên đồi Cù Lao (phường Bắc Nha Trang) các tháp gạch cổ vẫn đứng trầm mặc với thời gian. Dưới chân tháp, dòng người nối nhau dâng hương. Nhiều đoàn chuẩn bị lễ vật từ nhiều ngày trước, có đoàn đi từ vùng đồng bào Chăm, có đoàn đến từ các làng nghề, câu lạc bộ thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thiên Y A Na với sự thành kính. Họ cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, gia đình bình an.
Trong khuôn khổ Lễ hội Tháp Bà Pô Nagar Nha Trang năm 2026, lễ rước nước diễn ra sáng 5/5, tức ngày 19/3 âm lịch. Đoàn rước xuất phát từ di tích Tháp Bà Pô Nagar đến Chùa Hang để xin nước thiêng. Sau đó, đoàn trở về khu vực Mandapa. Tại đây, các thiếu nữ trong trang phục truyền thống thực hiện nghi lễ dâng nước lên Mẫu.
Đoàn rước nước khởi hành từ di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Pô Nagar trong sáng 5/5/2026.
Những ngày này, tại Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Pô Nagar Nha Trang diễn ra nhiều chương trình ý nghĩa như khai mạc, nghi thức đánh trống khai hội và dâng hương tại Tháp Chính; lễ Mộc dục; thay y Mẫu diễn. Đây là nghi thức cổ truyền. Ban Nghi lễ thực hiện các nghi lễ xin lễ, gỡ xiêm y, tắm tượng và đắp y mới.
Ngoài ra, còn có lễ rước kiệu, cầu siêu và thả hoa đăng diễn ra tại bờ kè sông Cái, phía dưới di tích Tháp Bà Pô Nagar. Đoàn rước đi theo tuyến đường Tháp Bà, đường Trần Phú, đường Cù Huân, dọc bờ kè về phía cầu Xóm Bóng và sân khấu lễ thả hoa đăng, gửi gắm ước nguyện bình an cho cộng đồng.
Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Pô Nagar là điểm đến văn hóa, tâm linh đặc sắc của tỉnh Khánh Hòa.
Lễ cầu Quốc thái dân an được tổ chức trước Tháp Chính. Đây là nghi lễ cầu nguyện cho đất nước hòa bình, nhân dân an lạc, mưa thuận gió hòa. Cùng ngày, lễ dâng hương của các hội diễn ra tại Tháp Chính. Buổi tối, lễ Cầu an của đồng bào Chăm diễn ra tại khu vực Mandapa do Hội đồng chức sắc Chăm thực hiện. Nghi lễ tái hiện sinh hoạt tín ngưỡng của người Chăm tại các đền tháp, cầu xin mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, nhân dân được ấm no, hạnh phúc và may mắn.
Ông Kadhar Kỷ, Chức sắc người Chăm chia sẻ, các nghi lễ rước nước, cầu an, thả hoa đăng đều gửi gắm một thông điệp chung. Đó là mong muốn một năm mới tốt đẹp, lời cầu xin thần linh và Mẹ Thiên Y A Na, Người Mẹ Xứ sở, che chở cho dân làng...
Trong dòng chảy lễ hội, đồng bào Chăm là chủ thể văn hóa trong nhiều nghi thức. Họ mang theo tri thức tín ngưỡng, trang phục, lễ vật, bài khấn và cách hành lễ được truyền qua nhiều thế hệ. Sự hiện diện của chức sắc Chăm làm cho lễ hội giữ được căn cốt. Sự tham gia của cộng đồng người Việt trong tín ngưỡng thờ Thiên Y A Na cũng cho thấy quá trình giao thoa văn hóa lâu dài trên vùng đất Khánh Hòa.
Đoàn rước nước khởi hành từ di tích quốc gia đặc biệt Tháp Bà Pô Nagar trong sáng 5/5/2026.
Tháp Bà Pô Nagar vốn là một di sản kiến trúc nghệ thuật đặc sắc của người Chăm. Theo tư liệu được công bố, di tích được xây dựng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII trên đồi Cù Lao để thờ Nữ thần Pô Nagar, Mẹ Xứ sở của người Chăm. Khu di tích gồm không gian Mandapa và khu đền tháp. Hiện di tích còn 5 công trình kiến trúc ở hai mặt bằng chính. Trong đó, Tháp Đông Bắc còn gọi là Tháp Chính, cao 23m. Tháp Nam cao 18m. Tháp Đông Nam cao 7,1m. Tháp Tây Bắc cao 9m.
Di tích Tháp Bà Pô Nagar đã được xếp hạng di tích quốc gia vào năm 1979. Ngày 17/1/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 152/QĐ-TTg về việc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, trong đó có Di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Bà Pô Nagar Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là niềm vinh dự lớn của cộng đồng các dân tộc nói chung ở Khánh Hòa.
Phát huy giá trị văn hóa trong bối cảnh hội nhập
Thiếu nữ Chăm và thiếu nữ Việt trong trang phục truyền thống tham gia nghi lễ dâng nước lên Thánh Mẫu.
Việc được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt là dấu mốc quan trọng. Danh hiệu này khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc và tín ngưỡng của Tháp Bà Pô Nagar. Đây cũng là trách nhiệm lớn đối với tỉnh Khánh Hòa, ngành văn hóa và Ban Quản lý di tích. Công tác bảo tồn không dừng ở việc giữ gìn kiến trúc, mà còn phải bảo vệ không gian lễ hội, giữ gìn nghi lễ, nâng cao chất lượng phục vụ và xây dựng nếp sống văn minh tại di tích.
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Trưởng Ban Quản lý di tích Tháp Bà Pô Nagar cho biết, lễ hội năm nay được chuẩn bị chu đáo. Ban Quản lý chú trọng công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Năm nay, Ban Tổ chức bố trí thêm nhiều vị trí có mái che giúp người dân có nơi nghỉ ngơi, chuẩn bị lễ và thực hành nghi lễ trong nhiều ngày tại khu vực phía sau Tháp Chính. Đơn vị cũng nâng cao chất lượng phục vụ để người dân và du khách đến với tháp ngày càng thuận lợi hơn.
Với du khách, Tháp Bà Pô Nagar là điểm đến văn hóa đặc sắc mà họ luôn muốn tìm đến, bởi kiến trúc Chăm cổ vẫn còn trường tồn với thời gian. Tại đây, du khách được nghe câu chuyện về Mẹ Xứ sở, được nhìn thấy nghi lễ cổ xưa còn mãi lưu giữ trong cộng đồng... tạo ra trải nghiệm văn hóa có chiều sâu.
Thiếu nữ Chăm và thiếu nữ Việt trong trang phục truyền thống tham gia nghi lễ dâng nước lên Thánh Mẫu.
Bà Nguyễn Thị Hoa, du khách đến từ Hà Nội chia sẻ, bà rất bất ngờ khi được tham gia Lễ hội Tháp Bà Pô Nagar trong chuyến du lịch Nha Trang. Lễ hội giúp du khách hiểu thêm về văn hóa Chăm, tín ngưỡng thờ Mẫu và sự giao thoa văn hóa Việt - Chăm trên vùng đất Khánh Hòa. Bà thấy đây là trải nghiệm rất ý nghĩa. Nha Trang ngoài có biển đẹp, còn có chiều sâu văn hóa.
Điểm đáng chú ý của lễ hội là sự gắn kết giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa, Ban Quản lý di tích, chức sắc Chăm và các đoàn thực hành tín ngưỡng cùng tham gia tổ chức. Các chương trình nghệ thuật, hoạt động dâng hương, nghi lễ cầu an, lễ thả hoa đăng và lễ tế cổ truyền tạo nên chuỗi sinh hoạt văn hóa liên tục.
Những ngày này, tiếng trống lễ hội vang lên trên đồi Cù Lao, dòng người vẫn tấp nập đến dâng hương trước Tháp Chính. Sắc phục Chăm hòa cùng hương trầm và ánh hoa đăng trên sông Cái đã tạo nên vẻ đẹp lung linh, huyền ảo. Từ không gian linh thiêng ấy, di sản Chăm tiếp tục được gìn giữ, lan tỏa mai sau./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn