Hoàng Sa và Trường Sa - Chủ quyền của Việt Nam * Bài 1: Bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý

Hoàng Sa và Trường Sa - Chủ quyền của Việt Nam * Bài 1: Bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý

Về vấn đề này, Đại tá, Thạc sỹ Vũ Khanh, một chuyên gia nghiên cứu quốc tế đã có chùm bài viết, nêu bật những bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhấn mạnh lập trường, quan điểm của Việt Nam; đồng thời vạch rõ âm mưu và những hành động ngang trái của Trung Quốc ở Biển Đông.  Báo ảnh Dân tộc và Miền núi- TTXVN xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc: 

Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo tiền tiêu của Tổ quốc, là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Quần đảo Hoàng Sa nằm trong khu vực biển có vị trí từ 15 độ 45 phút đến 17 độ 15 phút vĩ Bắc và 111 độ đến 113 độ kinh Đông, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi khoảng 190 km. Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km vuông, gồm hơn 30 đảo nhỏ và những bãi đá nhô khỏi mặt nước, chia thành hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) có đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2-3 km; và Nhóm Tây (Crescent) có đảo lớn nhất là Hoàng Sa (Paracel Island), diện tích khoảng 0,3 km vuông. Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km. 

Quần đảo Trường Sa nằm trong khu vực biển ở vị trí từ 6 độ 50 phút đến 12 độ vĩ Bắc và 111 độ 30 phút đến 117 độ 20 phút kinh Đông, cách đảo Phú Quý, Bình Thuận khoảng 203 hải lý, cách Philippines khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km. Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km vuông, gồm trên 100 đảo và những bãi đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đảo đá chìm. 

Là một quốc gia biển, với chiều dài bờ biển hơn 3.260 km, từ rất lâu, Biển Đông đã gắn bó mật thiết với đời sống của người Việt Nam. Với nghề truyền thống đánh bắt thủy hải sản, chắc chắn ngư dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngay từ thuở bình minh dựng nước. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý và lịch sử cũng như phương tiện kỹ thuật thời bấy giờ chưa cho phép con người có thể định cư lâu dài trên những đảo này. 

Đảo Đá Tây B. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN
Đảo Đá Tây B. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN

Từ thế kỷ 17, khi nhà nước phong kiến Việt Nam đã phát hiện Bãi Cát Vàng trên Biển Đông tức Hoàng Sa và Trường Sa thì hai quần đảo này vẫn vô chủ. Kể từ đó, nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu, khai thác và quản lý các đảo đó một cách liên tục. Vì là đảo vô chủ, các vua chúa nước ta phát hiện trước tiên và chiếm hữu một cách hòa bình. Chủ quyền của nước ta đối với các quần đào Hoàng Sa và Trường Sa được khẳng định, duy trì và củng cố ít nhất trong 3 thế kỷ liên tục từ thời các chúa Nguyễn đến sau khi Pháp thiết lập chế độ đô hộ năm 1884. 

Từ năm Thái Đức thứ 9 (1786), ngày 14 tháng 2 âm lịch, chính quyền Tây Sơn ra quyết định sai phái Hội đức hầu cai đội Hoàng Sa cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt biển ra thẳng Hoàng Sa cùng các xứ cù lao ngoài biển. Ngoài đội Hoàng Sa là đội dân binh làm kinh tế biển xa bờ, người ta còn thấy thời Tây Sơn còn rất nhiều đội khác khai thác kinh tế Biển Đông, như ở Cù Lao Ré đã lập đội Quế Hương, đội Đại Mạo Hải Mao và đội Quế Hương Hàm với số đinh 30 người. 

Sau khi đánh bại Tây Sơn và lên ngôi Hoàng Đế, tháng 7 năm Quý Hợi (1803), Vua Gia Long đã cho lập lại “đội Hoàng Sa” lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hóa, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp. Cho tới cuối thời Tây Sơn, đầu thời Nguyễn dân xã An Vĩnh ở đất liền hay ở Cù Lao Ré vẫn là quê hương đi đầu làm kinh tế biển. Sau đó, Vua Gia Long lại tổ chức thêm “đội Bắc Hải” lấy người thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa. Đội Hoàng Sa (hoạt động cả tại quần đảo Trường Sa) là một mô hình tổ chức nhà nước từ thời các chúa Nguyễn, có quy chế tổ chức và hoạt động rõ ràng, có nhiệm vụ bảo vệ, tuần tra, trồng cây, đo đạc thủy triều, thu lượm hải sản về nộp cho triều đình. Đội hoạt động liên tục 6 tháng trong năm. 

Từ năm 1816, Nhà Nguyễn dùng thủy quân khai thác, quản lý Biển Đông. Tuy không tiếp tục khai thác biển, phát triển kinh tế biển như đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải, song hoạt động đầu tiên của thủy quân được coi là mốc đánh dấu việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Hành động này biểu thị cho việc vua Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền với việc nhà vua bắt đầu quản lý Hoàng Sa bằng lực lượng quân sự chính quy của Nhà nước. Sau đó, các đội thủy quân được đều đặn cử ra Hoàng Sa, Trường Sa làm nhiệm vụ đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia xác định chủ quyền… 

Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (1776), “Lịch triều Hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú (1821), “Đại Nam thực lục chính biên” (1844 - 1848), “Hoàng Việt dư địa chí” (1834). Những tư liệu vừa mới phát hiện gần đây là những minh chứng hùng hồn về sự chiếm hữu liên tục và thật sự của nước ta đối với Hoàng Sa và Trường Sa (nguyên bản tờ Lệnh ngày 15/4/1834 của vua Minh Mạng điều động binh phu từ đảo Lý Sơn ra bảo vệ Hoàng Sa; nguyên bản tờ Tấu ngày 12/5/1932 lên vua Bảo Đại tặng thưởng Huân chương cho một binh sĩ đóng đồn phòng thủ Hoàng Sa). Ngoài ra, hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên hai quần đảo cũng được nhắc đến trong các tác phẩm nước ngoài như “An Nam đại quốc họa đồ” (1838) và “Nhật ký Batavia” của Công ty Hà Lan Đông Ấn (Compagnie Hollandaise des Indes Orientales) (1936). 

Như vậy, thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. 

Lịch sử đã chứng minh, cho đến ngày bị thực dân Pháp đô hộ, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực sự thực thi chủ quyền và cai quản hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không có một nước nào cạnh tranh và nhất quán coi các đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thậm chí, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã mặc nhiên công nhận quyền cai quản của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không những không phản đối mà có lúc còn giúp đỡ một số đội viên đội Hoàng Sa bị bão đánh dạt vào cảng Thanh Lam (đảo Hải Nam) và đưa họ trở về Thuận Hóa. Với công ước Pháp -Thanh Thiên Tân năm 1884, Trung Quốc đã công nhận quyền cai trị của Pháp ở Việt Nam. Trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra chiếm đóng trên các đảo. Để quản lý hành chính, chính quyền lúc đó đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và thành lập đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên, cho xây dựng nhiều công trình trên cả hai quần đảo. 

Mãi đến đầu thế kỷ 20, năm 1909, trước sự đe dọa của Nhật Bản, nhà đương cục Trung Quốc mới bắt đầu chú ý đến quần đảo Hoàng Sa. Trong những năm 1928, 1932, Trung Quốc mới bộc lộ ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp. Cho đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất, đòi hỏi của nhà đương cục Trung Quốc cũng chỉ nhằm vào quần đảo Hoàng Sa. Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là quốc gia kế thừa, Pháp tiếp tục khẳng định quan hệ chủ quyền và phản đối những yêu sách của Trung Quốc. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã chiếm một số đảo trên dãy Hoàng Sa và Trường Sa (gọi là Shinnan Shoto) để làm căn cứ quân sự. 

Hoa bàng vuông trên đảo An Bang. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN
Hoa bàng vuông trên đảo An Bang. Ảnh: Minh Quyết – TTXVN

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lợi dụng danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản, năm 1947, quân đội Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm (thuộc Nhóm Đông của quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (Itu Aba) của quần đảo Trường Sa, trong khi đó, quân đội Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (thuộc Nhóm Tây của quần đảo Hoàng Sa) và một số đảo khác của quần đảo Trường Sa. Ngày 8/3/1949, Pháp công nhận độc lập thống nhất của Việt Nam và ngày 14/10/1950, Pháp chính thức trao việc phòng thủ quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Ngày 6/9/1951, tại Hội nghị San Francisco, ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng chính quyền Bảo Đại, trưởng phái đoàn Việt Nam lúc đó đã tuyên bố xác nhận chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau khi Nhật đã trả lại tất cả những lãnh thổ họ đã chiếm cứ trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945). Không có nước nào trong số 51 nước tham dự hội nghị phản đối sự tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, ngày 28/4/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, chính quyền Sài Gòn vẫn duy trì lực lượng đồn trú bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Năm 1957, các lực lượng thủy quân lục chiến của quân đội Sài Gòn đã được đưa ra quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ các quần đảo thay thế cho các đơn vị đồn trú trước đây. Năm 1963, chính quyền Sài Gòn đã cho dựng các bia chủ quyền trên các đảo Trường Sa, An Bang, Loại Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông, Song Tử Tây. 

Tháng 4/1956, khi Pháp rút quân khỏi Đông Dương, chính quyền Sài Gòn đã thay thế quân Pháp tại phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa, không ra kịp phần phía Đông, cho nên phần này bị quân đội Trung Quốc chiếm giữ. Ngày 8/6/1956, Bộ trưởng Ngoại giao Sài Gòn tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chính quyền Sài Gòn đã quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên vào xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam và quyết định quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy. Như vậy, từ sau khi Pháp rút khỏi Đông Dương cho tới tháng 4/1975, chính quyền Sài Gòn và sau đó là Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiến hành những hoạt động thực hiện chủ quyền Nhà nước Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách thực sự, liên tục. 

Tháng 1/1974 khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên bố lên án Bắc Kinh dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Nam Việt Nam, xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Nam Việt Nam. Từ ngày 14/4/1975 đến ngày 29/4/1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã lần lượt giải phóng các hòn đảo trong quần đảo Trường Sa do Quân đội Sài Gòn đóng giữ gồm các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa và An Bang. Sau đó các đơn vị hải quân ta tiếp tục tổ chức việc bảo vệ quần đảo Trường Sa trên nhiều hòn đảo khác. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng và thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này. 

Ngày 1/8/2012, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã chính thức trưng bày tấm bản đồ Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do Triều Thanh, Trung Quốc xuất bản tại Thượng Hải năm 1904. Tấm bản đồ, do chính Triều Thanh, Trung Quốc đo đạc và xác định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không hề thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bởi chính Triều đại Nhà Thanh cũng đã tự khẳng định điều đó qua tấm bản đồ do họ vẽ. 

Như vậy, qua nghiên cứu chứng cứ lịch sử, kể từ chế độ phong kiến đến khi Pháp rút khỏi Đông Dương cho đến ngày miền Nam nước ta hoàn toàn giải phóng, Nhà nước Việt Nam qua các thời đại đã tiến hành những hoạt động thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách thực sự và liên tục. Với những tài liệu và chứng cứ lịch sử đã nêu ở trên chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Chủ quyền đó cần phải được tôn trọng và thực thi theo luật pháp và tập quán quốc tế./. 

(Còn nữa) 

Có thể bạn quan tâm

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Giữa núi non trùng điệp của Tuyên Quang, những phiên chợ vùng cao hiện lên như bức tranh sống động, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.

Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, chợ còn là không gian gặp gỡ, giao lưu, nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và nét sinh hoạt mộc mạc, chân tình của đồng bào, tạo nên sức hút riêng cho du lịch vùng cao.

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Nằm ở cửa ngõ Tây Nam đất nước, An Giang không chỉ gánh vác sứ mệnh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng mà còn là “cầu nối” chiến lược trong dòng chảy hội nhập quốc tế. Với đường biên giới dài gần 150km, tỉnh vừa giữ vững từng tấc đất biên cương, vừa phát triển kinh tế biên mậu, nâng cao đời sống người dân vùng biên, xây dựng vùng biên giới thành “phên giậu” vững chắc của Tổ quốc.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Nằm giữa lòng vùng Bảy Núi huyền thoại, xã Ô Lâm (tỉnh An Giang) hôm nay không chỉ là bản hùng ca bất tử về tinh thần “kiên cường bám trụ, giữ vững núi Tô”, mà còn là minh chứng sống động cho sự hồi sinh kỳ diệu từ tro tàn chiến tranh. Tựa lưng vào những địa danh lịch sử lừng lẫy, vùng đất căn cứ cách mạng năm xưa đang chuyển mình mạnh mẽ trong vận hội mới, viết tiếp chương sử ấm no trên hành trình xây dựng nông thôn mới trù phú, an lành.

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Mô hình liên kết sản xuất lúa gạo sạch tại xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã chứng minh một điều, khi nông dân, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia, hạt lúa có thêm cơ hội nâng cao giá trị. Quy trình canh tác an toàn, đầu ra ổn định, lợi nhuận tăng là những yếu tố triển vọng để nhân rộng trong thời gian tới.

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

Mùa khô ở Tây Nguyên, giữa nắng như thiêu như đốt trong rừng khộp Buôn Đôn, nài voi của của Trung tâm Bảo tồn voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng tỉnh Đắk Lắk vẫn rong ruổi cùng những chú voi đi tìm kiếm nguồn nước, thức ăn và chăm sóc sức khỏe cho voi.

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

Chăn nuôi ngựa, nhất là ngựa bạch những năm gần đây đang phát triển mạnh ở các địa phương tại tỉnh Lạng Sơn. Vật nuôi này mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng ổn định cuộc sống, nhiều hộ vươn lên làm giàu...

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Không còn bó hẹp trong những chiếc bảng đen, phấn trắng truyền thống, những tiết học tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trung Chải (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) giờ đây trở lên sinh động từ những màn hình tương tác thông minh.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, tiêu chí nước sạch luôn giữ vai trò then chốt trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa, tiêu chí này trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Tuy nhiên, tại khu vực các xã miền núi của tỉnh đang thiếu nhiều công trình cấp nước sạch, nhiều xã đang thiếu nguồn lực đầu tư, gặp khó khăn trong quản lý, vận hành, làm người dân nhiều xã miền núi luôn sống trong cảnh thiếu nước sạch.

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích lúa vụ Đông Xuân ở xã Tuyên Lâm nói riêng, nhiều địa phương miền núi tỉnh Quảng Trị nói chung đối mặt nguy cơ thiếu nước, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối vụ.

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Ngày 28/4, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) phối hợp với tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao công trình Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Bằng những cách làm sáng tạo như Chiến dịch “Ngày thứ 7 hành chính lưu động” hay tổ chức các tổ công tác về tận thôn, xóm, chính quyền các địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý, thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ, gần dân và sát dân.

 Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp, nơi gió hun hút thổi qua từng triền đá xám, Mèo Vạc hôm nay đang chuyển mình bằng một nhịp điệu mới - nhịp điệu của hành động, của đổi thay, bắt đầu từ những nghị quyết được cụ thể hóa ngay từ cơ sở. 

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đang triển khai nhiều giải pháp, từ xây dựng kế hoạch ôn tập thống nhất toàn tỉnh, tổ chức thi thử, hỗ trợ học sinh bán trú đến tăng cường phụ đạo miễn phí, tạo mọi điều kiện để các em tự tin bước vào kỳ thi lớp10 - kỳ thi quan trọng đầu tiên trên hành trình học tập.

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

Vụ chè xuân Shan tuyết đang vào chính vụ tại các xã vùng cao, vùng biên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh như: Thanh Thủy, Cao Bồ, Lao Chải (Tuyên Quang). Những năm gần đây, cây chè không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 28/4, tỉnh Lạng Sơn tổ chức phát động Tháng công nhân và Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động năm 2026 với chủ đề: “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, “Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả công tác an toàn, vệ sinh lao động trong kỷ nguyên số”.

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh Đồng Tháp đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đưa lao động đi làm việc hợp pháp ở nước ngoài hiệu quả hơn, qua đó góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Hoạt động thương mại biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đang có sự gia tăng đáng kể về lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Trước yêu cầu tạo thuận lợi thương mại và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, lực lượng hải quan đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng thu thuế xuất nhập khẩu bền vững và hiệu quả.

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026, thành phố Cần Thơ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận xã hội, sự năng động, sáng tạo, chủ động tham gia trực tiếp của người dân đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững.