Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW (ngày 22/12/2024) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW (ngày 22/12/2024) của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết số 57-NQ/TW:

tong-bi-thu-to-lam.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của Dân tộc.

Thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tuy nhiên, tốc độ và sự bứt phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia còn chậm; quy mô, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia còn khoảng cách xa so với nhóm các nước phát triển; nhận thức của nhiều cấp, nhiều ngành, cán bộ, công chức và Nhân dân về chuyển đổi số chưa đầy đủ và sâu sắc; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa có bước đột phá, chưa làm chủ được công nghệ chiến lược, công nghệ cốt lõi; thể chế pháp luật, cơ chế, chính sách chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu; hạ tầng chưa đồng bộ, nhất là hạ tầng số còn nhiều hạn chế; an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu còn nhiều thách thức.

Đất nước ta đang đứng trước yêu cầu cần có chủ trương, quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng để tạo xung lực mới, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường, thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Từ tình hình trên, Bộ Chính trị yêu cầu quán triệt thực hiện tốt các nội dung sau:

I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

1. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.

2. Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nhân, doanh nghiệp và Nhân dân đối với phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Xác định đây là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; được triển khai quyết liệt, kiên trì, đồng bộ, nhất quán, lâu dài với những giải pháp đột phá, mang tính cách mạng. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Chú trọng bảo đảm nguồn nhân lực trình độ cao cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài. Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu.

4. Phát triển nhanh và bền vững, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược; ưu tiên nguồn lực quốc gia đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng nghiên cứu cơ bản, tiến tới tự chủ và cạnh tranh về công nghệ ở một số lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng, lợi thế.

5. Bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách rời trong quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

II- MỤC TIÊU

1. Đến năm 2030

- Tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế. Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế. Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến.

- Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 55%; tỉ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trên tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt tối thiểu 50%. Quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt đạt 80%. Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40% trong tổng số doanh nghiệp. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo góp phần quan trọng xây dựng, phát triển giá trị văn hoá, xã hội, con người Việt Nam, đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

- Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - ứng dụng - đào tạo. Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.

- Hạ tầng công nghệ số tiên tiến, hiện đại, dung lượng siêu lớn, băng thông siêu rộng ngang tầm các nước tiên tiến; từng bước làm chủ một số công nghệ chiến lược, công nghệ số như: Trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối, bán dẫn, công nghệ lượng tử, nano, thông tin di động 5G, 6G, thông tin vệ tinh và một số công nghệ mới nổi. Phủ sóng 5G toàn quốc. Hoàn thành xây dựng đô thị thông minh đối với các thành phố trực thuộc Trung ương và một số tỉnh, thành phố có đủ điều kiện. Thu hút thêm ít nhất 3 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

- Quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương trên môi trường số, kết nối và vận hành thông suốt giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Hoàn thành xây dựng, kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu các ngành; khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số, hình thành sàn giao dịch dữ liệu. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu.

2. Tầm nhìn đến năm 2045

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển vững chắc, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; là một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tỉ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển; tối thiểu có 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

III- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

1. Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

- Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xác định rõ trách nhiệm, chủ động triển khai thực hiện. Người đứng đầu phải trực tiếp phụ trách, chỉ đạo; cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện. Nhiệm vụ chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được xác định cụ thể trong chương trình, kế hoạch công tác hằng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương; kết quả thực hiện là tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, đánh giá thi đua, khen thưởng hằng năm. Bố trí phù hợp số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn khoa học kỹ thuật trong cấp uỷ các cấp. Phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

- Có chương trình tuyên truyền, giáo dục hiệu quả để nâng cao nhận thức, quyết tâm, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thực hiện chuyển đổi số trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, tạo niềm tin, khí thế mới trong xã hội. Triển khai sâu rộng phong trào "học tập số", phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức số trong cán bộ, công chức và Nhân dân; các phong trào khởi nghiệp, sáng tạo, cải tiến nâng cao hiệu quả công việc, năng suất lao động, khơi dậy tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, phát huy trí tuệ Việt Nam thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Mở rộng đa dạng các hình thức tôn vinh, biểu dương, khen thưởng kịp thời, xứng đáng các nhà khoa học, nhà sáng chế, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trân trọng từng phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, sáng kiến nâng cao hiệu quả công tác, hiệu suất công việc, dù là nhỏ nhất.

2. Khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở sự phát triển; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Tiếp tục thể chế hoá đầy đủ và thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về phát triển giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Tập trung triển khai tốt các nội dung sau:

- Khẩn trương sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện đồng bộ các quy định pháp luật về khoa học, công nghệ, đầu tư, đầu tư công, mua sắm công, ngân sách nhà nước, tài sản công, sở hữu trí tuệ, thuế… để tháo gỡ các điểm nghẽn, rào cản, giải phóng các nguồn lực, khuyến khích, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, phát triển nguồn nhân lực; cải cách phương thức quản lý, triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu; cải cách cơ chế quản lý tài chính trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đơn giản hoá tối đa các thủ tục hành chính; giao quyền tự chủ trong sử dụng kinh phí nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ.

- Có cách tiếp cận mở, vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo. Có cơ chế thí điểm để doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới có sự giám sát của Nhà nước; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong trường hợp thử nghiệm công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới mà có thiệt hại về kinh tế do nguyên nhân khách quan. Hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ và chuyển đổi số.

- Thống nhất, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo. Đầu tư, nâng cấp Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cùng các cơ sở nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trọng điểm quốc gia. Sáp nhập, giải thể các tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động không hiệu quả. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ công lập hoạt động hiệu quả; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức, cán bộ, tài chính, chuyên môn; được sử dụng ngân sách nhà nước thuê chuyên gia, sử dụng tài sản hữu hình và trí tuệ để liên kết, hợp tác khoa học và công nghệ với các tổ chức, doanh nghiệp. Có cơ chế cho phép và khuyến khích các tổ chức nghiên cứu, nhà khoa học thành lập và tham gia điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu.

- Thu hút, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia. Ngân sách chi cho nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ ưu tiên thực hiện theo cơ chế quỹ, thông qua các quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Cơ cấu lại nguồn ngân sách chi sự nghiệp khoa học và công nghệ bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải. Có cơ chế khuyến khích mua sắm công đối với các sản phẩm, hàng hoá là kết quả nghiên cứu khoa học do doanh nghiệp trong nước tạo ra. Có cơ chế đặc biệt trong nghiên cứu, tiếp cận, mua các bí mật công nghệ, học hỏi, sao chép các công nghệ tiên tiến của nước ngoài.

3. Tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

- Ban hành Chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược; Quỹ đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược (ưu tiên các lĩnh vực quốc phòng, không gian, năng lượng, môi trường, công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, bán dẫn, công nghệ lượng tử, robot và tự động hoá…); có cơ chế thử nghiệm chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu, phát triển, ứng dụng, chuyển giao công nghệ chiến lược. Bố trí ít nhất 15% ngân sách nhà nước chi sự nghiệp khoa học phục vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược; ban hành cơ chế, chính sách hợp tác công tư để nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược.

- Ban hành các chiến lược nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong khai thác, phát triển không gian biển, không gian ngầm, không gian vũ trụ. Chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng, nhất là năng lượng mới, năng lượng sạch và bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển khoa học, công nghệ, các ngành công nghiệp chiến lược. Quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên khoáng sản của đất nước, nhất là đất hiếm để phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

- Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ.

- Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ số. Ban hành chính sách khuyến khích đầu tư, mua, thuê các sản phẩm, dịch vụ số; chính sách đặc biệt để đào tạo, phát triển, thu hút tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước hoạt động lĩnh vực chuyển đổi số, phát triển sản phẩm công nghệ số, công nghiệp an ninh mạng. Xây dựng và dùng chung các nền tảng số quốc gia, vùng, bảo đảm hoạt động thống nhất, liên thông của các ngành, lĩnh vực trên môi trường số. Thúc đẩy hệ sinh thái kinh tế số trên các lĩnh vực.

- Có cơ chế hợp tác công tư để phát triển hạ tầng số hiện đại, trong đó nguồn lực nhà nước là chủ yếu. Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu dự phòng, kết nối, an toàn, bền vững, hệ thống truyền dẫn dữ liệu qua vệ tinh, mạng cáp quang băng thông rộng tốc độ cao phủ sóng toàn quốc, mạng thông tin di động 5G, 6G và các thế hệ tiếp theo. Phát triển hạ tầng vật lý số, hạ tầng tiện ích số; tích hợp cảm biến, ứng dụng công nghệ số vào hạ tầng thiết yếu. Phát triển ngành công nghiệp IoT, xây dựng một số cụm công nghiệp IoT di động.

- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước đầu tư, xây dựng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây; thu hút doanh nghiệp nước ngoài đặt trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây tại Việt Nam. Hình thành hạ tầng lưu trữ, tính toán đạt tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh. Sớm hoàn thành và phát huy hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia; đầu tư xây dựng các trung tâm dữ liệu vùng. Xây dựng, phát huy hiệu quả dữ liệu quốc gia, dữ liệu của bộ, ngành, địa phương bảo đảm liên thông, tích hợp, chia sẻ. Có cơ chế, chính sách bảo đảm dữ liệu thành nguồn tài nguyên tư liệu sản xuất quan trọng. Xác lập quyền sở hữu, kinh doanh dữ liệu và phân phối giá trị tạo ra từ dữ liệu. Phát triển kinh tế dữ liệu, thị trường dữ liệu và các sàn giao dịch dữ liệu. Xây dựng các cơ sở dữ liệu lớn có chủ quyền của Việt Nam. Hình thành ngành công nghiệp dữ liệu lớn của Việt Nam. Phát triển mạnh mẽ ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn đối với các ngành, lĩnh vực quan trọng.

4. Phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

- Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Có cơ chế, chính sách hấp dẫn về tín dụng, học bổng và học phí để thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học các lĩnh vực toán học, vật lý, sinh học, hoá học, kỹ thuật và công nghệ then chốt, nhất là ở các trình độ sau đại học. Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo tài năng trên các lĩnh vực. Ban hành cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao về Việt Nam làm việc, sinh sống. Có cơ chế đặc biệt về nhập quốc tịch, sở hữu nhà, đất, thu nhập, môi trường làm việc nhằm thu hút, trọng dụng, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia, các "tổng công trình sư" trong và ngoài nước có khả năng tổ chức, điều hành, chỉ huy, triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo và đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng, kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.

- Xây dựng một số trường, trung tâm đào tạo tiên tiến chuyên sâu về trí tuệ nhân tạo. Có cơ chế đặc thù về hợp tác công tư trong đào tạo nhân lực công nghệ số. Xây dựng nền tảng giáo dục, đào tạo trực tuyến, mô hình giáo dục đại học số, nâng cao năng lực số trong xã hội.

- Phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học đủ năng lực, trình độ đáp ứng việc giảng dạy lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ chip bán dẫn, vi mạch, kỹ thuật và công nghệ then chốt; đẩy mạnh hợp tác với các đại học uy tín của nước ngoài; đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế, hiện đại hoá phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.

5. Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh

- Có kế hoạch và lộ trình đưa toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị lên môi trường số, bảo đảm liên thông, đồng bộ, bí mật nhà nước. Xây dựng nền tảng số dùng chung quốc gia, phát triển hệ thống giám sát, điều hành thông minh nhằm tăng cường quản lý công. Đổi mới toàn diện việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công không phụ thuộc địa giới hành chính; nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ số cho người dân và doanh nghiệp, hướng tới cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cá nhân hoá và dựa trên dữ liệu; tăng cường giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong phục vụ Nhân dân. Có chính sách đặc thù để thu hút, tuyển dụng, giữ chân nhân lực về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị.

- Phát triển các nền tảng số an toàn và tăng cường ứng dụng công nghệ số, hình thành công dân số. Phát triển một số mạng xã hội Việt Nam, xây dựng xã hội số an toàn, lành mạnh. Phát triển văn hoá số bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, giảm thiểu tác động tiêu cực của công nghệ số đối với xã hội. Xây dựng nền tảng số nhằm giám sát, thu thập dữ liệu lĩnh vực tài nguyên, môi trường.

- Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và chủ quyền quốc gia trên nền tảng số và không gian mạng; an ninh, an toàn dữ liệu hợp pháp của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và chủ quyền an ninh dữ liệu quốc gia. Hiện đại hoá vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh. Từng bước ứng dụng công nghệ số trong chỉ huy, điều hành tác chiến của lực lượng vũ trang cũng như làm chủ công nghệ cao trong hoạt động quốc phòng, an ninh. Ngăn chặn hiệu quả tội phạm lĩnh vực chuyển đổi số, chống lừa đảo trực tuyến. Xây dựng, phát huy sức mạnh thế trận chiến tranh nhân dân, thế trận lòng dân trên không gian mạng để bảo vệ Tổ quốc.

6. Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp

- Có các chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, quản trị doanh nghiệp; đẩy mạnh chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thông qua doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ trong nước đầu tư ra nước ngoài.

- Có chính sách đủ mạnh khuyến khích tinh thần khởi nghiệp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng với chính sách hỗ trợ khởi nghiệp và thu hút các doanh nghiệp trong và ngoài nước khởi nghiệp tại Việt Nam.

- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển một số doanh nghiệp công nghệ số chiến lược trong nước quy mô lớn để phát triển hạ tầng số, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia và đủ năng lực cạnh tranh quốc tế; cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho các doanh nghiệp công nghệ số thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm về chuyển đổi số; cơ chế ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế trong nghiên cứu, thử nghiệm, ứng dụng, phát triển, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghệ số. Phát triển một số khu công nghiệp công nghệ số. Thúc đẩy doanh nghiệp tái đầu tư hạ tầng, đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D).

- Đẩy mạnh tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ trên môi trường số, bảo đảm kinh tế số các ngành, lĩnh vực chiếm tối thiểu 70% kinh tế số; đẩy mạnh sản xuất thông minh trong các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp, thương mại, tài chính, giáo dục, y tế, giao thông, logistics.

7. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Tập trung đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với các quốc gia có trình độ khoa học và công nghệ, chuyển đổi số phát triển, nhất là các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử và các công nghệ chiến lược khác. Có chính sách mua, chuyển giao công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam. Chủ động, tích cực tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế về các công nghệ mới bảo đảm an toàn và cùng có lợi. Thúc đẩy nâng cao năng lực và chuyển giao công nghệ trong các thoả thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, do đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Trưởng Ban. Thành lập Hội đồng Tư vấn quốc gia về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước.

2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tăng cường giám sát thực hiện theo quy định.

3. Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; phối hợp với Đảng đoàn Quốc hội thể chế hoá đầy đủ các chủ trương, chính sách nêu trong Nghị quyết này và bố trí đủ nguồn lực để thực hiện, cơ bản hoàn thành trong năm 2025.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động Nhân dân thực hiện Nghị quyết, phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

5. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn việc quán triệt thực hiện Nghị quyết; hướng dẫn tăng cường tuyên truyền các nội dung của Nghị quyết.

6. Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết; định kỳ 6 tháng báo cáo kết quả với Ban Chỉ đạo Trung ương và Bộ Chính trị để chỉ đạo.

Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Để khoa học công nghệ tạo sinh kế cho vùng nông thôn, miền núi

Để khoa học công nghệ tạo sinh kế cho vùng nông thôn, miền núi

Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai năm 2016, với mục tiêu từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, đưa những kết quả nghiên cứu về giống cây trồng, kỹ thuật canh tác mới về vùng nông thôn, miền núi, từ đó trở thành động lực phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Cán bộ, giáo viên băng rừng, lội suối đến lớp học AI

Cán bộ, giáo viên băng rừng, lội suối đến lớp học AI

Giữa những dãy núi phía Tây Đà Nẵng, nơi vẫn còn những thôn bản chưa có điện lưới quốc gia, chưa có sóng viễn thông và muốn đến phải băng rừng, lội suối, câu chuyện chuyển đổi số đang diễn ra theo một cách rất riêng. Không bắt đầu từ những trung tâm dữ liệu hiện đại hay các phòng điều hành thông minh, hành trình ấy bắt đầu từ những cán bộ cơ sở, giáo viên vùng cao đang từng ngày nỗ lực đưa công nghệ vào công việc và cuộc sống.

Bố trí tối thiểu 300 m2 đất sinh hoạt cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Bố trí tối thiểu 300 m2 đất sinh hoạt cộng đồng tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Ngày 25/6, Hội đồng nhân dân tỉnh Thái Nguyên khóa XV, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức Kỳ họp thứ tư (kỳ họp chuyên đề), thông qua 36 nghị quyết quan trọng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nghị quyết thành lập 8 đơn vị hành chính đô thị cấp xã và chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Hạ tầng giao thông hiện đại mở rộng không gian phát triển cho Đắk Lắk

Hạ tầng giao thông hiện đại mở rộng không gian phát triển cho Đắk Lắk

Theo điều chỉnh Quy hoạch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh Đắk Lắk xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là huy động nguồn lực để đầu tư và hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông nhằm kết nối nội tỉnh, liên vùng và quốc tế. Đồng thời, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030, đưa Đắk Lắk trở thành tỉnh phát triển năng động của cả nước, là trung tâm kinh tế, dịch vụ của Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Biên phòng Đà Nẵng giữ vững chủ quyền biên giới

Biên phòng Đà Nẵng giữ vững chủ quyền biên giới

Những năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đắc Pring, thành phố Đà Nẵng, đã bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được phụ trách.

Hoàn thiện hạ tầng đô thị phía Tây Lâm Đồng

Hoàn thiện hạ tầng đô thị phía Tây Lâm Đồng

Gần 1 năm từ thời điểm hợp nhất tỉnh, nhiều công trình hạ tầng thiết yếu trên địa bàn đô thị Gia Nghĩa (thủ phủ tỉnh Đắk Nông cũ) đang tiếp tục được xây dựng, hoàn thành. Đây là nền tảng quan trọng giúp hoàn thiện bộ mặt đô thị, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần người dân.

Nhiều cách làm hay trong sắp xếp thôn, bản ở Lào Cai

Nhiều cách làm hay trong sắp xếp thôn, bản ở Lào Cai

Xã Việt Hồng, tỉnh Lào Cai đang tập trung triển khai nhiều giải pháp về việc sắp xếp, tổ chức lại thôn, bản với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Việc sắp xếp nhận được sự quan tâm, đồng thuận của nhân dân khi lựa chọn khôi phục các tên xã cũ, góp phần gìn giữ giá trị lịch sử, văn hóa và ký ức cộng đồng.

Hành trình đưa những người anh hùng, liệt sĩ trở về quê hương

Hành trình đưa những người anh hùng, liệt sĩ trở về quê hương

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi những trận chiến ác liệt trên mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang cũ, nay là Tuyên Quang) kết thúc, đối với những người lính làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, cuộc chiến với thời gian dường như vẫn chưa bao giờ khép lại. Chiến dịch "500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" đang được triển khai với quyết tâm cao nhất để đưa các anh hùng, liệt sĩ trở về với đất mẹ...

Đắk Lắk: Xây dựng cụm công nghiệp phục vụ chế biến sâu nông sản xuất khẩu

Đắk Lắk: Xây dựng cụm công nghiệp phục vụ chế biến sâu nông sản xuất khẩu

Ngày 20/6, tại xã Tân Tiến, UBND Đắk Lắk tổ chức Lễ khởi động và công bố Quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 dự án Đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật Cụm công nghiệp Tân Tiến. Đây là dự án hạ tầng kỹ thuật được đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, góp phần huy động nguồn lực xã hội hóa phục vụ phát triển và thu hút đầu tư. Dự án được kỳ vọng xây dựng khu vực này hình thành chuỗi giá trị mới khép kín từ thu mua, sơ chế, kho lạnh cho đến chế biến, đóng gói, xuất khẩu nông sản của địa phương.

Tuổi trẻ lực lượng vũ trang xung kích hướng về vùng khó khăn

Tuổi trẻ lực lượng vũ trang xung kích hướng về vùng khó khăn

Ngày 20/6, tại xã Thuận Hòa, Ban Thường vụ Thành đoàn Cần Thơ phối hợp cùng Đoàn thanh niên các đơn vị tổ chức Lễ ra quân Chiến dịch tình nguyện "Hành quân xanh" năm 2026 tại thành phố. Hoạt động có sự tham gia của 200 đoàn viên, thanh niên thuộc lực lượng vũ trang.

Tăng cường hợp tác trong công tác phòng, chống dịch bệnh

Tăng cường hợp tác trong công tác phòng, chống dịch bệnh

Ngày 20/6, thông tin từ UBND tỉnh Gia Lai cho biết, nhằm phát huy năng lực chuyên môn, kỹ thuật, nghiên cứu, nâng cao năng lực giám sát dịch tễ, phát hiện sớm và ứng phó kịp thời với các nguy cơ dịch bệnh, tỉnh Gia Lai và Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên đã thống nhất phối hợp trong công tác phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân trên địa bàn.

Giúp trẻ em Việt Nam phát triển toàn diện

Giúp trẻ em Việt Nam phát triển toàn diện

Nhân dịp Tháng hành động vì trẻ em năm 2026, ngày 19/6, Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam phối hợp với tỉnh Lào Cai tổ chức "Phiên chợ 0 đồng" tặng quà cho trẻ em vùng cao tại xã Mường Khương. Đây là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp, ngành và cộng đồng xã hội đối với trẻ em vùng biên giới.

Tín dụng chính sách - điểm tựa an sinh trong đô thị mới

Tín dụng chính sách - điểm tựa an sinh trong đô thị mới

Không chỉ hiệu quả ở vùng nông thôn, tín dụng chính sách đang phát huy vai trò như một "điểm tựa" an sinh ngay trong các phường đô thị mới của tỉnh Vĩnh Long. Từ các cơ sở may gia công, doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ, đồng vốn ưu đãi đã giúp nhiều người dân có việc làm, nâng cao thu nhập và ổn định cuộc sống.

Xây trường học cho xã biên giới phải đảm bảo về tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu tư

Xây trường học cho xã biên giới phải đảm bảo về tiến độ, chất lượng và hiệu quả đầu tư

Ngày 19/6, tại Trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu, Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới chủ trì cuộc họp của Ban Chỉ đạo trực tuyến với 22 địa phương. Tham dự buổi làm việc có các thành viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo các bộ, cơ quan Trung ương và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố.

Sắp xếp thôn, tổ dân phố: Chú trọng các yếu tố đặc thù, sự đồng thuận của người dân

Sắp xếp thôn, tổ dân phố: Chú trọng các yếu tố đặc thù, sự đồng thuận của người dân

Cùng với cả nước, tỉnh Lai Châu đang triển khai sắp xếp, kiện toàn thôn, bản, tổ dân phố. Đồng bào các dân tộc trong tỉnh vui mừng đón nhận chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, nâng cao hiệu quả quản trị cơ sở, tiết kiệm ngân sách và phục vụ người dân tốt hơn.

Ưu tiên đầu tư hạ tầng phát triển các xã khó khăn ở Thái Nguyên

Ưu tiên đầu tư hạ tầng phát triển các xã khó khăn ở Thái Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên hiện có 44 xã thuộc diện khó khăn và đặc biệt khó khăn, chiếm tỷ lệ 57% tổng số xã trên địa bàn tỉnh. Để tạo chuyển biến rõ nét về diện mạo nông thôn miền núi, phát triển bền vững và đồng đều giữa các khu vực trong tỉnh, Thái Nguyên đang tập trung chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển kết cấu hạ tầng các xã khó khăn và đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026 - 2030.

Chăm sóc sức khỏe toàn diện từ cơ sở để giảm tải cho tuyến trên

Chăm sóc sức khỏe toàn diện từ cơ sở để giảm tải cho tuyến trên

Tỉnh Ninh Bình đang triển khai đồng bộ chương trình khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc miễn phí nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chương trình tập trung vào việc phát hiện sớm bệnh lý, quản lý sức khỏe cộng đồng và nâng cao hiệu quả công tác y tế dự phòng, góp phần giảm tải cho các cơ sở y tế tuyến trên, từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.

Lai Châu thông qua 8 nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội

Lai Châu thông qua 8 nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội

Ngày 17/6, HĐND tỉnh Lai Châu khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã bế mạc Kỳ họp thứ tư với 8 nghị quyết đã được thông qua để tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, 2 nội dung rất sát cơ sở là công tác giảm nghèo và tỷ lệ cứng hóa đường giao thông được quan tâm cao.

Người dân Y Tý hào hứng học kỹ năng số và pháp luật qua sân khấu hóa

Người dân Y Tý hào hứng học kỹ năng số và pháp luật qua sân khấu hóa

Không chỉ được phổ biến pháp luật bằng những tiểu phẩm sinh động bằng tiếng dân tộc, hơn 1.000 cán bộ, công chức và đồng bào các dân tộc thiểu số tại xã Y Tý còn được hướng dẫn sử dụng điện thoại thông minh, nhận diện lừa đảo trực tuyến và thực hiện dịch vụ công ngay tại nơi sinh sống.

Những người 'thợ lính' trên công trường nơi biên cương

Những người 'thợ lính' trên công trường nơi biên cương

Giữa mùa hè nắng gay gắt của vùng cao thành phố Huế, trên công trường xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở xã A Lưới 4, tiếng máy móc thi công hòa cùng nhịp lao động khẩn trương của hàng trăm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thành phố Huế. 

Tạo đột phá phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Tạo đột phá phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Sau khi thực hiện sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh Lâm Đồng trở thành địa phương có không gian phát triển trải dài từ vùng cao nguyên đến duyên hải Nam Trung Bộ với 49 dân tộc cùng sinh sống. Đây không chỉ là lợi thế về đa dạng văn hóa và nguồn lực con người mà còn mở ra cơ hội mới để tỉnh khai thác hiệu quả tiềm năng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội đột phá trong giai đoạn mới.

Ngăn chặn thực phẩm 'bẩn' ngay từ khu vực biên giới

Ngăn chặn thực phẩm 'bẩn' ngay từ khu vực biên giới

Trước tình trạng vận chuyển, kinh doanh thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ diễn biến phức tạp tại khu vực biên giới, các lực lượng chức năng tỉnh Quảng Ninh đã tăng cường kiểm tra và triệt phá nhiều điểm tập kết, vận chuyển thực phẩm lậu với quy mô lớn. Đây là hành động thiết thực, góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm cho người dân và du khách đến Quảng Ninh, nhất là vào mùa du lịch hè cao điểm như hiện nay.

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Khám và tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân

Nhằm giúp người dân chủ động chăm sóc sức khỏe, phát hiện sớm bệnh tật và giảm chi phí điều trị, ngành Y tế tỉnh Điện Biên vừa đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí tại 11 đơn vị y tế trên địa bàn.

Luân phiên bác sĩ về trạm y tế cấp xã ở Gia Lai

Luân phiên bác sĩ về trạm y tế cấp xã ở Gia Lai

Nhằm tăng cường năng lực cho tuyến y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành Kế hoạch luân phiên bác sĩ về làm việc có thời hạn tại các trạm y tế cấp xã giai đoạn 2026-2030.

Xây dựng trường nội trú liên cấp ở biên giới trở thành mô hình giáo dục đặc biệt

Xây dựng trường nội trú liên cấp ở biên giới trở thành mô hình giáo dục đặc biệt

Chiều 5/6, làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về công tác phát triển giáo dục và tiến độ xây dựng hệ thống trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đánh giá cao sự chủ động, quyết liệt của tỉnh trong triển khai chủ trương xây dựng hệ thống trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới và kết quả phát triển giáo dục, đào tạo.