Tạo đột phá phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Sau khi thực hiện sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh Lâm Đồng trở thành địa phương có không gian phát triển trải dài từ vùng cao nguyên đến duyên hải Nam Trung Bộ với 49 dân tộc cùng sinh sống. Đây không chỉ là lợi thế về đa dạng văn hóa và nguồn lực con người mà còn mở ra cơ hội mới để tỉnh khai thác hiệu quả tiềm năng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội đột phá trong giai đoạn mới.

ta-dung-1706.jpg
Cơ sở hạ tầng ở xã Tà Đùng (Lâm Đồng) được đầu tư phát triển từ chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: Nguyễn Huy Thành/TTXVN

Chuyển biến từ những vùng đất khó

Những ngày đầu mùa mưa, trên các triền đồi cà phê, bơ, hồ tiêu ở xã Tà Đùng, người dân tất bật chăm sóc cây trồng chuẩn bị cho vụ thu hoạch mới. Không khí lao động khẩn trương phản ánh sự đổi thay đang diễn ra nhanh chóng tại địa phương từng gặp nhiều khó khăn về hạ tầng và phát triển sinh kế.

Được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai xã Đắk R’Măng và Đắk Som, xã Tà Đùng hiện có diện tích tự nhiên hơn 531 km2 (trong đó rừng và đất lâm nghiệp chiếm trên 78%). Toàn xã có gần 24.000 nhân khẩu, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 81% dân số; riêng đồng bào Mông có hơn 13.500 người, là cộng đồng người Mông tập trung đông nhất tỉnh Lâm Đồng.

Minh chứng rõ nét cho sự chuyển biến tại đây là câu chuyện phát triển kinh tế hộ gia đình của chị Lò Thị Súa (dân tộc Mông). Di cư từ Lào Cai vào Tà Đùng hơn 20 năm trước, từ chỗ sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp, đến nay, gia đình chị Súa đã làm chủ gần 1ha cà phê kết hợp kinh doanh cửa hàng tạp hóa, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Chị Lò Thị Súa chia sẻ, những năm gần đây, nhờ chăm chỉ sản xuất cùng với giá cà phê duy trì ở mức cao, bà con có điều kiện tái đầu tư sản xuất, mua sắm máy móc nông nghiệp, sửa sang nhà cửa và cho con học hành đầy đủ, ai nấy đều phấn khởi và tin tưởng vào đường lối của Đảng, Nhà nước.

ta-dung2-1706.jpg
Tuyến đường giao thông được đầu tư tại xã biên giới Thuận An (Lâm Đồng), góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Ảnh: Nguyễn Huy Thành/TTXVN

Thực tế từ Tà Đùng cho thấy, khi được tiếp cận nguồn vốn định hướng, chuyển giao khoa học kỹ thuật và thụ hưởng các chính sách hỗ trợ đồng bộ, người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số hoàn toàn có thể phát huy nội lực để giảm nghèo bền vững

Ông Trần Nam Thuần, Chủ tịch UBND xã Tà Đùng cho biết, để tạo động lực phát triển trong giai đoạn mới, xã đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng thu nhập bình quân đầu người lên từ 75 triệu đồng/năm trở lên; tổng thu ngân sách tăng bình quân trên 10%/năm và cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn đa chiều.

“Thời gian tới, địa phương tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng thông qua ứng dụng công nghệ cao và phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị. Đồng thời, xã triển khai quy hoạch khu vực hồ Tà Đùng trở thành điểm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng quy mô lớn, kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn văn hóa bản địa gắn với khai thác giá trị của Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông", ông Trần Nam Thuần nhấn mạnh.

Đồng bộ các giải pháp chiến lược

Không riêng tại Tà Đùng, phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang được tỉnh Lâm Đồng xác định là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Hiện toàn tỉnh có 100 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gồm 30 xã khu vực I, 41 xã khu vực II, 29 xã khu vực III) với 2.311 thôn, trong đó, có 217 thôn đặc biệt khó khăn.

ta-dung3-1706.jpg
Người dân xã miền núi Tà Đùng (Lâm Đồng) chăm sóc cây cà phê. Ảnh: Nguyễn Huy Thành/TTXVN

Cụ thể hóa Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Lâm Đồng phấn đấu đến năm 2030 cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; trên 85% hạ tầng thiết yếu tại các địa bàn này đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân từ 2 - 3%/năm, thu nhập bình quân đạt trên 70% mức bình quân chung của tỉnh.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Ngọc Phúc thông tin, để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tỉnh đang tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù về công tác dân tộc; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Tỉnh tăng cường huy động các nguồn lực xã hội hóa, thúc đẩy liên kết doanh nghiệp để mở rộng cơ hội đầu tư, tạo việc làm tại chỗ cho người lao động.

Về định hướng kinh tế, Lâm Đồng tập trung phát triển nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, hình thành các vùng chuyên canh sản xuất sản phẩm chủ lực, sản phẩm OCOP gắn với chế biến sâu và mở rộng thị trường. Tỉnh khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào vùng sâu, vùng xa nhằm thu hút người dân tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, kinh tế lâm nghiệp được đẩy mạnh theo hướng bền vững thông qua các mô hình nông - lâm kết hợp, phát triển kinh tế dưới tán rừng.

Hạ tầng giao thông liên vùng cũng được tỉnh ưu tiên nâng cấp để kết nối đồng bộ với mạng lưới giao thông quốc gia. Hệ thống điện, thủy lợi, viễn thông, trường học và cơ sở y tế tiếp tục được đầu tư nâng cấp nhằm cải thiện căn bản điều kiện sản xuất và chất lượng cuộc sống của người dân. Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, Lâm Đồng định hướng ứng dụng chuyển đổi số và thương mại điện tử để kết nối tiêu thụ nông sản vùng đồng bào; phát triển mạnh các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái dựa trên việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc.

ta-dung4-1706.jpg
Đồng bào dân tộc thiểu số biểu diễn cồng chiêng tại một sự kiện văn hóa ở phường Đông Gia Nghĩa (Lâm Đồng). Ảnh: TTXVN phát

Để các chính sách phát huy hiệu quả cao nhất, UBND tỉnh Lâm Đồng yêu cầu các sở, ngành, địa phương tăng cường triển khai lồng ghép nguồn lực của các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đồng thời khơi dậy mạnh mẽ ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên của chính người dân.

Với hệ thống giải pháp đồng bộ và quyết tâm chính trị cao, Lâm Đồng kỳ vọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng, góp phần đưa tỉnh phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới./.

Dân tộc Ba Na

Tên tự gọi: Ba Na.

Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...

Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.

Dân số: 227.716 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Cái cuốc là công cụ chủ yếu trong canh tác nông nghiệp ở tộc người này. Với ruộng khô thì việc thâm canh không bỏ hóa là đặc điểm khác với rẫy. Ruộng khô thường ở vùng ven sông suối. Từ đầu thế kỷ XX, việc làm ruộng nước bằng cày đã ngày càng phát triển ở nhiều nơi. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn còn chưa phát triển.

: Ðịa bàn cư trú của người Ba Na trải rộng trên các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú YênKhánh Hòa. Họ cư trú trên nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng, ở giữa làng được xây cất một ngôi nhà công cộng - nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao vút. Ðó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng, cho nam, nữ và cho mọi lứa tuổi. Gùi nhiều kích cỡ to nhỏ và nhiều chủng loại, đan mau và thưa nhưng đều theo một mô típ cổ truyền.

Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh và duy nhất. Tàn dư mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân. Sự tan rã của chế độ mẫu hệ ở đây đã nâng cao địa vị của nam giới nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn. Sau hôn nhân còn phổ biến tập quán cư trú phía nhà vợ. Xã hội có người giàu, người nghèo và tôi tớ.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ba Na
Dân tộc Bru-Vân Kiều

Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi

Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều.

Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.

Dân số: 74.506 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.

Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.

Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.

Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việtngười Lào.

Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.

Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.

: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.

Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...

Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.

Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.

Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.

Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.

Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.

Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...

Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.

Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.

Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.

Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Bru-Vân Kiều
Dân tộc Chứt

Tên tự gọi: Chứt.

Tên gọi khác: Rục, Arem, Sách.

Nhóm địa phương: Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng.

Dân số: 6.022 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Quê hương xưa của người Chứt thuộc địa bàn cư trú của người Việt ở hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Vì nạn giặc giã, thuế khoá nặng nề nên họ phải chạy lên nương náu ở vùng núi, một số dần dần chuyển sâu vào vùng phía tây thuộc hai huyện Minh Hoá và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Theo gia phả của một số dòng họ người Việt trong vùng thì các nhóm Rục, Sách cư trú tại vùng núi này ít nhất đã được trên 500 năm nay.

Hoạt động sản xuất: Người Chứt sống bằng nông nghiệp nương rẫy du canh và săn bắn hái lượm. Trừ nhóm Sách sống bằng nông nghiệp còn các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quan trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa. Các giống cây trồng chính là ngô, sắn, đỗ, lúa.

Công cụ sản xuất gồm: rìu, rựa, gậy chọc lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Từ khi định cư, người Chứt đã nuôi trâu, bò phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Ðan lát chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình. Ðôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao, rìu.

Ăn: Lương thực chủ yếu là ngô, sắn. Ngày ăn hai bữa trưa và tối. Những năm mất mùa, họ phải ăn bột báng (bột nhúc) đồ thay cơm quanh năm.

Mặc: Người Chứt không biết dệt vải, vải mặc mua hoặc trao đổi với người Việt, người Lào trong vùng giáp biên. Mùa hè, nam giới đóng khố, cởi trần. Phụ nữ mặc váy. Mùa đông, họ mặc áo làm bằng vỏ cây. Hiện nay đồng bào ăn mặc giống như người Việt.

: Họ quen ở trong các túp lều dùng dây buộc, dùng cột ngoãm hay ở trong các hang đá, mái đá. Cho đến trước năm 1954 các nhóm Rục, Arem chủ yếu vẫn sống trong các hang đá, mái đá. Ngày nay, họ sống tập trung ở các bản nhỏ trong các thung lũng. Nhà cửa đã khang trang hơn trước.

Phương tiện vận chuyển: Phổ biến là gùi có dây đeo vai, vác hoặc người kéo.

Quan hệ xã hội: Người Chứt gọi làng là Cà Vên. Mỗi làng thường chỉ có dăm bảy hoặc mười gia đình của một dòng họ cư trú. Ðôi khi các gia đình trong một họ lại cư trú ở nhiều làng khác nhau. Ðứng đầu mỗi làng là Pừ Cà Vên. Ông ta giữ luôn cả vai trò tôn giáo.

Sinh hoạt tập thể, quan trọng nhất trong làng là vào những dịp lễ tết nông nghiệp. Gia đình nhỏ phụ quyền là hình thức phổ biến nhất. Mỗi gia đình chỉ gồm vợ, chồng và con cái chưa lấy vợ, chồng.

Sinh đẻ: Sắp đến ngày ở cữ, người chồng thường dựng một cái lều nhỏ cho vợ ở ngoài rừng. Thỉnh thoảng anh ta đến thăm nom, tiếp tế lương thực và đồ ăn uống cho vợ. Phụ nữ quen đẻ đứng và tự xoay sở lấy hết thảy mọi việc. Ðẻ xong, người sản phụ tự mình nhóm lửa, đốt nóng một hòn đá cuội để sẵn rồi dội nước lã vào cho bốc hơi nóng để xông khói. Sau 7 ngày, người chồng mới đến đón vợ con vào nhà.

Cưới xin: Trai gái đến tuổi trưởng thành, được tự do tìm hiểu yêu đương. Trước khi cưới, nhà trai phải chọn ông mối, đi dạm hỏi vài lần. Lễ cưới được tổ chức bên nhà gái, sau đó mới đón dâu. Lễ vật quan trọng nhất thiết phải có thịt khỉ sấy khô. Người Chứt không có tục ở rể.

Ma chay: Nhà giàu làm quan tài bằng thân cây khoét rỗng; nhà nghèo chỉ bó người chết bằng vỏ cây.

Thờ cúng: Tổ tiên được thờ tại nhà tộc trưởng. Khi tộc trưởng chết, việc thờ cúng chuyển sang người em trai kế. Khi nào các thế hệ trên không còn ai thì việc thờ cúng mới chuyển sang cho người ở thế hệ dưới.

Tin vào các loại ma rừng, ma suối, thổ công, ma bếp.... trong đó quan trọng nhất là ma làng.

Các nghi lễ nông nghiệp thường được thực hiện như lễ xuống giống, lễ sau gieo hạt, lễ cúng hồn lúa, lễ ăn mừng được mùa.

Văn nghệ: Người Chứt thích dùng đàn, sáo, hát các giai điệu khác nhau. Họ có nhiều truyện cổ tích, thần thoại, đặc biệt truyện kể về sự khai thiên lập địa và sinh ra con người.

Chơi: Trong các dịp lễ tết, trẻ em chơi cầu lông làm bằng lông gà, đánh găng, người lớn thổi sáo, hát hò.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chứt
Dân tộc Cơ Ho

Tên tự gọi: Cơ Ho.

Nhóm địa phương: Xrê, Nộp (Tu nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring (Tring).

Dân số: 166.112 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Cơ Ho có lịch sử cư trú lâu đời ở Tây Nguyên.

Hoạt động sản xuất: Trừ nhóm Xrê làm ruộng nước theo đúng tên gọi của nó (Xrê - ruộng nước), còn các nhóm khác làm rẫy (mir) du canh theo chu kỳ. Nhìn chung kỹ thuật và công cụ làm rẫy của người Cơ Ho không khác với các tộc người khác ở Tây Nguyên nhưng riêng nhóm Chil để chọc lỗ tra hạt còn dùng một dụng cụ khác: P'hal. P'hal có cán dài bằng gỗ, lưỡi dẹp bằng sắt khoảng 28 cm và rộng khoảng 3-4cm, được dùng trong trường hợp một người vừa chọc lỗ, vừa tra hạt. Ở vùng người Xrê, công cụ làm đất đặc trưng là chiếc cày (ngal) bằng gỗ, đế bằng, lưỡi gỗ (sau này là lưỡi sắt) và cái bừa răng gỗ (Sơkam).

Cày, bừa và cả Kơr (dụng cụ để chang bằng mặt ruộng) đều do hai trâu kéo. Lúa là cây lương thực chính và là cây trồng chủ yếu nhưng thông thường trên một đoạn rẫy người ta còn trồng lẫn cả ngô, sắn, bầu, bí, mướp, đậu... Người Cơ Ho chăn nuôi theo lối thủ công. Từ khi làm ruộng, họ nuôi trâu bò để lấy sức kéo, còn hầu hết các súc vật nuôi để hiến tế trong các lễ nghi.

Nghề đan lát và rèn hầu như gia đình nào cũng có người làm nhưng nghề dệt chỉ phổ biến ở nhóm Chil.

Săn bắn, đánh cá, hái lượm, lâm thổ sản vẫn rất phổ biến.

Ăn: Các gia đình thường ăn 3 bữa. Trước kia, cơm canh đều nấu trong ống nước và sau này mới được nấu trong nồi đất, nồi đồng và nồi gang. Các món được chế biến khô cho phù hợp với thói quen ăn bốc. Canh là một món rau trộn với tấm thường bỏ thêm ớt, muối, thịt, cá được kho, luộc hay nấu với cây chuối non.

Thức uống là nước suối được đựng trong các trái bầu, trong các ghè. Rượu cần (tơrnơm) rất được ưa chuộng trong các lễ tiệc, hội hè, được chế biến từ gạo, ngô, sắn... trộn với các men làm từ các cây rừng. Thuốc hút là những lá thuốc phơi khô quấn lại được nhiều người ưa dùng.

Mặc: Ðàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy ngắn. Khố là một miếng vải dài 1,5 đến 2 m và rộng, có hoa văn theo dải dọc. Váy là một tấm vải quấn quanh người một vòng và giắt cạp. Nền váy màu đen trên đó có những dải hoa văn màu trắng viền dọc thân váy. Khi trời lạnh, người ta quấn thêm chiếc chăn (ùi). Trang sức là những vòng cổ, vòng tay, cườm và khuyên căng tai.

: Người Cơ Ho cư trú chủ yếu ở Lâm Ðồng. Họ ở nhà sàn dài, hai mái uốn lợp tranh, có vách phên nghiêng ra ngoài nẹp tranh để chống lạnh và phía trước cửa có cầu thang lên xuống. Vào nhà, trên bức vách phía sau đối diện với cửa ra vào là hàng ché, giỏ đựng đồ đạc và bàn thờ. Mọi sinh hoạt của gia đình (ăn uống, nghỉ ngơi, tiếp khách) đều diễn ra xung quanh bếp lửa.

Quan hệ xã hội: Làng (bon) là một công xã nông thôn còn mang nặng những dấu vết của công xã thị tộc mẫu hệ. Ðứng đầu một làng là chủ làng (Kuang bon). Ở những nơi dân cư tập trung đông đúc, hình thành một tổ chức liên minh tự nguyện giữa các làng và đứng đầu liên minh gọi là M’đrông. Người Cơ Ho vẫn tồn tại 2 hình thức gia đình: gia đình lớn và gia đình nhỏ. Tuy nhiên, gia đình lớn hiện nay đương trong quá trình tan rã và hình thức gia đình nhỏ ngày càng trở nên phổ biến, nhất là những vùng trù phú, ven các đường quốc lộ, gần thị trấn, thị xã... Tổ chức gia đình theo chế độ mẫu hệ. Người đàn bà đóng vai trò chủ động hôn nhân; sau hôn lễ, người con trai về ở bên nhà vợ; con cái tính dòng họ theo phía mẹ... Nam nữ thanh niên Cơ Ho xây dựng gia đình khá sớm (nữ thường 16 - 17 tuổi; nam từ 18 - 20 tuổi) và đó chính là một trong những nguyên nhân làm cho mức sinh của người Cơ Ho khá cao, bình quân một phụ nữ sinh khoảng 5 - 6 con.

Thờ cúng: Người Cơ Ho tin rằng mọi mặt đời sống đều do các thế lực siêu nhiên quyết định và trong quan niệm của họ có một bên là thần thánh (Yang) luôn luôn phù hộ cho con người và ngược lại cũng có một bên là ma quỷ (Chà) thường hay gây ra những tai hoạ cho nên hầu như làm bất cứ việc gì hay có chuyện gì (làm ruộng, cưới xin, tang ma, ốm đau...) người Cơ Ho thường phải cúng viếng để cầu xin. Người ta tin rằng, các vị thần rất thích ăn thịt và uống rượu nhưng tuỳ theo tầm quan trọng của buổi lễ mà người ta tế sống trâu, heo, dê hoặc gà cùng với rượu.

Trong số các lễ nghi của người Cơ Ho, những lễ nghi liên quan đến từng công việc làm rẫy, làm ruộng như gieo lúa, khi lúa trổ bông, đạp lúa và cho lúa vào kho là những lễ nghi quan trọng nhất và được tiến hành thường xuyên hơn.

Bàn thờ (nao) thường đặt ở chỗ trang trọng và tôn nghiêm nhất trong nhà. Bàn thờ xưa làm bằng ván gỗ có chạm trổ hầu như không còn nữa, giờ đây người ra còn nhận ra là chỗ thờ cúng nhờ những nhánh cây, bông lúa vắt trên mái đối diện với cửa ra vào.

Học: Vào đầu thế kỷ XX, chữ Cơ Ho được xây dựng bằng hệ thống chữ la tinh. Mặc dù đã được cải tiến nhiều lần, được dùng để dạy trong một số trường học, nhưng loại chữ này chưa phổ biến sâu rộng.

Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian Cơ Ho rất phong phú. Thơ ca giàu trữ tình và đầy nhạc tính. Một số vũ khúc cổ truyền thường được diễn trong các lễ hội. Các nhạc cụ truyền thống như bộ cồng chiêng 6 chiếc, kèn ống bầu (Kơmbuat), đàn ống tre (Kơrla), trống (Sơgơr)... có khả năng hoà âm với lời ca hoặc độc tấu.

Lễ tết: Hàng năm, khi mùa màng đã thu hoạch xong (thường là tháng 12 dương lịch), người Cơ Ho tổ chức ăn Tết. Thường thường, các gia đình thay phiên nhau mỗi năm hiến một con trâu để làng tổ chức lễ đâm trâu trong dịp này. Lễ được tổ chức ở ngoài trời trước nhà chủ hiến tế, chủ làng hay ở mảnh đất rộng, bằng, cao ráo của làng, với cây nêu được trang trí sặc sỡ, mọi người nhảy múa theo tiếng cồng chiêng. Thịt trâu được chia cho từng gia đình, còn máu trâu được bôi vào trán những người dự lễ như một sự cầu phúc. Lễ tết kéo dài 7 - 10 ngày. Trong các ngày Tết, dân làng đến chung vui với từng gia đình. Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực hiện các công việc cần làm như: làm nhà, chuyển làng...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Cơ Ho
Dân tộc Mạ

Tên tự gọi: Mạ.

Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.

Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.

Dân số: 41.405 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Lịch sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Hoạt động sản xuất: Nương rẫy đóng vai trò chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến khi nhão bùn thì gieo lúa giống. Họ tính năng suất của rẫy theo số gùi lúa thu được khi trỉa một gùi lúa giống. Công cụ làm rẫy chủ yếu là rìu, xà gạc, dao, liềm, gậy chọc lỗ, gùi. Nghề đánh cá khá phổ biến. Trước đây, họ biết chế thuốc độc từ loại lá rừng bỏ xuống suối để bắt cá. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng bông dệt vải.

Ăn: Cơm gạo tẻ với muối trộn ớt, sả, măng tươi và một số loại rau rừng. Cách chế biến thức ăn chủ yếu là nướng, luộc, nấu canh. Họ thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.

Mặc: Phụ nữ mặc váy quấn dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước. Mùa lạnh, người già thường khoác thêm tấm mền. Người Mạ có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc. Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu mát cho chính mình.

: Người Mạ thường sống thành từng làng (bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh, Ðạ Tẻ, lưu vực sông Ðồng Nai (Lâm Ðồng). Mỗi "bon" có từ 5 đến 10 nhà sàn dài. Nhà được làm bằng nứa, bương mai, hai mái lợp bằng lá mây. Mái cửa ra vào (cửa mẹ) uốn khum thành vòm bằng cành trúc đội trên mái cỏ. Xung quanh nhà ở, Họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô típ chày cối.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là chiếc gùi nan mang sau lưng với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Chiếc gùi dùng đi xa được trang trí hoa văn qua các đường đan. ở vùng ven sông Ðồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.

Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon). Chủ làng có nhiệm vụ cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất cộng đồng. Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. Người chủ gia đình lớn là người cao tuổi nhất của thế hệ cao nhất trong gia tộc, có nhiệm vụ điều hành mọi công việc trong gia đình và trông coi các đồ dùng quý hiếm như chiêng, ché.

Trong loại gia đình lớn phụ quyền, từng cặp vợ chồng với con cái ở chung nhưng làm ăn riêng, còn gia đình nhỏ phụ quyền thì như một đơn vị kinh tế cá thể nhưng vẫn lưu giữ dấu vết của gia đình lớn phụ hệ.

Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn lại rất ít trong các buôn làng.

Cưới xin: Quyền chủ động hôn nhân do bên nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở lại nhà gái 8 ngày, còn không, chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa vợ về nhà mình.

Sinh đẻ: Khi sinh con trai, nhau của đứa trẻ đựng trong vỏ trái bầu khô chôn trước nhà, nếu sinh con gái nhau chôn sau nhà. Sang ngày thứ 8, người mẹ bồng con ra sân tắm nắng, nếu con trai phải mang theo xà gạt, nỏ, dao vót nan, con gái mang theo gùi, rìu chẻ củi, túi đựng cơm và giới bên kia như xà gạt, rìu, ché, váy áo chôn cùng huyệt hoặc bỏ rải rác xung quanh mộ. Sau lễ mai táng thì bỏ mả và tang chủ phải kiêng 7 ngày không được vào rừng hoặc lên rẫy.

Thờ cúng: Người Mạ tin có thần (Yang). Họ thờ cúng nhiều Yang như Yang Hiu (thần nhà), Yang Koi (thần lúa), Yang Bơnơm (thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh tật, chết chóc. Lễ hiến sinh lớn nhất là lễ đâm trâu, thường được thực hiện lúc kết thúc mùa rẫy.

Lịch: Người Mạ theo âm lịch.

Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn hoá dân gian Mạ vẫn sống bằng lối sống nghìn xưa - thuộc lòng và truyền miệng.

Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là "tam bớt".

Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mạ

Có thể bạn quan tâm

Định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh

Định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh

Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp và dịch vụ tại Tây Ninh cũng diễn ra khá mạnh mẽ. Với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển bền vững, tỉnh Tây Ninh xác định việc chỉnh trang cảnh quan, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ trọng tâm, từng bước định hình diện mạo một vùng đất biên giới hiện đại, văn minh.

Đưa tiện ích số đến với người bệnh

Đưa tiện ích số đến với người bệnh

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", ngành Y tế tỉnh Điện Biên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý, khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Chú trọng chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chú trọng chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 13/7, đoàn công tác do ông Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm trưởng đoàn đã đến khảo sát và làm việc tại tỉnh Cà Mau về tình hình thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Khảo sát chính sách giáo dục, y tế đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Khảo sát chính sách giáo dục, y tế đặc thù đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 13/7, đoàn công tác do đồng chí Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội làm trưởng đoàn đã đến khảo sát việc triển khai một số cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục và y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Khánh Lâm (tỉnh Cà Mau). Hoạt động nhằm đánh giá thực tiễn việc đưa các nghị quyết lớn của Quốc hội đi vào cuộc sống tại địa bàn vùng sâu, vùng xa.

Người dân vùng núi, biên giới đã từng bước thành thạo các kỹ năng số

Người dân vùng núi, biên giới đã từng bước thành thạo các kỹ năng số

Chuyển đổi số giờ đây đang hiện diện rõ nét ở nhiều vùng miền núi biên giới, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Lạng Sơn sinh sống. Người dân dần hình thành thói quen sử dụng công nghệ số trong cuộc sống. Đằng sau những thay đổi ấy là sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền cơ sở để đưa kỹ năng số trở thành một phần của đời sống người dân.

'Gia đình số' lan tỏa tri thức số giữa đại ngàn

'Gia đình số' lan tỏa tri thức số giữa đại ngàn

Các xã miền núi còn nhiều khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi, nơi việc tiếp cận công nghệ số vẫn là thách thức đối với nhiều người dân, phong trào “Bình dân học vụ số”, đang mở ra những thay đổi tích cực.

Chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng cao

Chăm sóc sức khỏe đồng bào vùng cao

Ngày 11/7, Câu lạc bộ Thầy thuốc xứ Thanh tại Hà Nội đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa, Sở Y tế Thanh Hóa tổ chức chương trình “Ấm tình quê hương” nhằm khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp phát thuốc miễn phí cho người dân, tặng trang thiết bị y tế cho Trạm Y tế xã miền núi Trung Lý.

Trao trên 200 triệu đồng quà tặng gia đình chính sách tại xã biên giới Thanh Thủy

Trao trên 200 triệu đồng quà tặng gia đình chính sách tại xã biên giới Thanh Thủy

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), sáng 11/7, tại xã Thanh Thủy (Tuyên Quang), Cục Hải quan (Bộ Tài chính) phối hợp với UBND xã Thanh Thủy tổ chức Chương trình "Hướng về cội nguồn", trao tặng quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn.

Cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng biên Sơn La

Cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng biên Sơn La

Ngày 11/7, tại điểm Trường Mầm non bản Tràng Nặm, Trường Mầm non Hoa Ban, xã Yên Sơn (tỉnh Sơn La), Đồn Biên phòng Chiềng On (Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La) phối hợp với nhóm Green Gables cùng các đơn vị đồng hành tổ chức khánh thành, bàn giao và đưa vào sử dụng công trình "Trường học yêu thương - Nâng bước em tới trường" và công trình "Thắp sáng vùng biên".

Kết nối nguồn lực đồng hành cùng thanh thiếu nhi vùng biên giới

Kết nối nguồn lực đồng hành cùng thanh thiếu nhi vùng biên giới

Ngày 10/7, tại xã Kim Điền (tỉnh Quảng Trị), Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Quảng Trị và Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Phú Thọ tổ chức Lễ ký kết Chương trình phối hợp triển khai Đề án “Tuổi trẻ Việt Nam đồng hành với thanh thiếu nhi vùng biên giới giai đoạn 2025 - 2030”.

Quyết định số 1252/QĐ-TTg: Phát triển một số đại học lớn ở miền Trung và Tây Nguyên

Quyết định số 1252/QĐ-TTg: Phát triển một số đại học lớn ở miền Trung và Tây Nguyên

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu vừa ký Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 phê duyệt Đề án đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng hoạt động một số cơ sở giáo dục đại học lớn ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên thành những trung tâm đào tạo uy tín trong khu vực và thế giới (Đề án).

Đẩy nhanh đầu tư trường nội trú, hoàn thiện chính sách đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Đẩy nhanh đầu tư trường nội trú, hoàn thiện chính sách đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chiều 10/7, tại xã Tây Trà, Đoàn công tác Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Khóa XVI do đồng chí Hoàng Duy Chinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Dân tộc làm Trưởng đoàn đã làm việc với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về tình hình thực hiện chính sách pháp luật đất đai, y tế, giáo dục đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Đảm bảo an ninh chủ động trong tình hình mới

Đảm bảo an ninh chủ động trong tình hình mới

Gia Lai là địa bàn có vị trí chiến lược, có đường biên giới tiếp giáp Campuchia và đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Do đó, công tác bảo đảm an ninh quốc gia tiếp tục đặt ra nhiều thách thức.

Tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu mới

Tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu mới

Trước yêu cầu phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn mới, tỉnh Cà Mau đang triển khai nhiều giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số có trình độ, năng lực, từng bước nâng cao tỷ lệ cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý.

Huy động tối đa lực lượng tăng tốc xây dựng trường nội trú vùng biên

Huy động tối đa lực lượng tăng tốc xây dựng trường nội trú vùng biên

Những ngày này, tại các công trường xây dựng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở ở các xã Buôn Đôn, Ia Lốp và Ia R’vê (tỉnh Đắk Lắk), không khí thi công diễn ra khẩn trương. Hàng trăm công nhân, kỹ sư cùng nhiều máy móc, thiết bị được huy động tối đa, làm việc liên tục để hoàn thành các công trình đúng tiến độ, kịp đưa vào sử dụng trước lễ khai giảng năm học 2026-2027.

Người dân xứ Nghệ háo hức với ngày hội biên cương

Người dân xứ Nghệ háo hức với ngày hội biên cương

Sáng 9/7, chương trình giao lưu hữu nghị biên giới Quốc phòng Việt Nam - Lào đã bắt đầu diễn ra, với những hoạt động đầu tiên trên đất nước bạn Lào. Vào ngày 10/7 - các hoạt động giao lưu mới bắt đầu diễn ra tại Việt Nam. Để chuẩn bị cho các hoạt động đón tiếp và giao lưu, người dân khu vực cửa khẩu Quốc tế Thanh Thủy, Nghệ An đã chuẩn bị từ nhiều ngày nay. Sự háo hức và tình cảm nồng ầm của bà con xứ Nghệ khiến không khí ngày hội trở nên rộn ràng hơn.

Cần sớm hoàn thành dự án di dân khẩn cấp Suối Lóp

Cần sớm hoàn thành dự án di dân khẩn cấp Suối Lóp

Tại thôn Cang Kỷ, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai, do ảnh hưởng từ nhiều đợt mưa lũ đã gây sạt lở taluy khiến hơn 70 hộ dân sống trong lo lắng. Để đảm bảo an toàn cho người dân, tỉnh đã lập dự án tái định cư tại thôn Suối Lóp nhưng cho đến nay dự án vẫn chưa hoàn thành.

Gỡ vướng mắc về mã số vùng trồng trước vụ sầu riêng

Gỡ vướng mắc về mã số vùng trồng trước vụ sầu riêng

Khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản, trước mắt là đối với mặt hàng sầu riêng của khu vực Tây Nguyên. Không được để nông sản của người dân đến vụ thu hoạch nhưng bị ùn ứ, không xuất khẩu được do những bất cập trong cơ chế quản lý, sự chậm trễ trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, hoạt động kiểm nghiệm hoặc do thủ tục hành chính còn rườm rà.

Tuyên Quang phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững

Tuyên Quang phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững

Trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Tuyên Quang đặt mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển. Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; chế biến sâu nông, lâm sản, thực phẩm; công nghiệp nhẹ; sản xuất vật liệu xây dựng; năng lượng và từng bước thu hút các ngành công nghiệp công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường.

Công trình ngăn lũ đầu tiên phát huy hiệu quả

Công trình ngăn lũ đầu tiên phát huy hiệu quả

Đập Sabo – công trình thí điểm cắt giảm lũ đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng và hoàn thành vào năm 2025 vừa chứng minh hiệu quả giảm lũ trong trận mưa lớn xảy ra ngày 5/7/2026 tại khu vực Tây Bắc.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Không ngừng cải thiện sinh kế cho đồng bào và gia đình chính sách vùng biên giới

Không ngừng cải thiện sinh kế cho đồng bào và gia đình chính sách vùng biên giới

Hướng đến kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, ngày 6/7, đoàn công tác của Thành ủy Đà Nẵng do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Đình Vĩnh làm Trưởng đoàn đã thăm, tặng quà các gia đình chính sách là đồng bào các dân tộc thiểu số ở xã biên giới Hùng Sơn - địa phương có đường biên giới tiếp giáp với huyện Kà Lừm, thuộc tỉnh Sê Kông của nước bạn Lào.

Ấm tình quân dân trên khu vực biên giới biển

Ấm tình quân dân trên khu vực biên giới biển

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 6/7, Đồn Biên phòng Triệu Vân (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) phối hợp với UBND xã Nam Cửa Việt, UBND xã Triệu Cơ và nhóm thiện nguyện Trần Tình tổ chức chương trình an sinh xã hội, trao tặng 300 suất quà cho các gia đình chính sách, hộ nghèo và học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương.

100 ngày đêm dựng trường nội trú nơi biên cương

100 ngày đêm dựng trường nội trú nơi biên cương

Giữa cái nắng gay gắt của miền Trung, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng công nhân vẫn miệt mài thi công các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại vùng biên giới tỉnh Quảng Trị, quyết tâm hoàn thành trước ngày 30/8 để kịp đưa vào sử dụng trong năm học 2026-2027.

Khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho đồng bào thiểu số vùng biên

Khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho đồng bào thiểu số vùng biên

Ngày 5/7, tại xã biên giới Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai), chính quyền địa phương phối hợp với Bệnh viện Chợ Rẫy và Chi cục Kiểm lâm thành phố Đồng Nai tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân, hưởng ứng đợt cao điểm 180 ngày khám sức khỏe định kỳ toàn dân.