Nằm cheo leo nơi biên giới xa xôi của tỉnh Lai Châu, bản Là Si (xã Thu Lũm) là nơi sinh sống của đồng bào La Hủ với vô vàn thiếu thốn. Năm 2026, ánh điện đã thắp lên niềm hy vọng mới cho bản Là Si, nhưng để biến hy vọng thành hiện thực, cần thêm nhiều nguồn lực và giải pháp đồng bộ.
Bản Là Si có 20 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu có điều kiện sống rất khó khăn.
Khó khăn bủa vây nơi “cuối đường, cuối sóng”
Dù đã có những đổi thay bước đầu nhưng cuộc sống của người dân bản Là Si vẫn bị bao trùm bởi đói nghèo, giao thông cách trở và những rào cản về nhận thức để bước vào đời sống hiện đại, nơi đây được xem là một trong những điểm dân cư đặc biệt khó khăn của tỉnh Lai Châu.
Để đến được đây, phải vượt hơn 300 km đường núi từ trung tâm tỉnh. Trong đó, đoạn từ bản Thu Lũm vào Là Si dài khoảng 30 km là hành trình đầy thử thách. Con đường đất quanh co qua những cánh rừng già, nhiều đoạn chỉ vừa một xe ô tô, thường xuyên bị đất đá sạt lở, cây đổ chắn lối. Chỉ 30 km thôi nhưng phải mất gần 3 giờ đồng hồ chúng tôi mới vào tới bản.
Đi cùng với chúng tôi là Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Thu Lũm Tẩn Lở Tông, anh nói: "Nhà báo đã thấy sự khó khăn của Là Si chưa! Giờ cuối tháng 3 đang là mùa khô, đi được như thế này là tốt lắm rồi. Vào mùa mưa, bản bị cô lập, anh em biên phòng vào bản chỉ còn cách đi bộ, vất vả lắm!".
Vào đến Là Si khi trời đã tối mịt, đồng hồ chỉ 20 giờ tối, chúng tôi ở qua đêm trong bản. Từ Tết Nguyên đán, bản đã có điện lưới, thế nhưng, cái đói nghèo vẫn cảm nhận rõ rệt.
Bộ đội Biên phòng đồn Thu Lũm chia từng con cá khô cho người La Hủ ở bản Là Si, xã Thu Lũm.
Bản hiện có khoảng 20 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc La Hủ với nhiều tập quán sinh sống truyền thống còn tồn tại. Trước đây, người dân chủ yếu sống du canh, du cư, dựng lán tạm trên rừng, cuộc sống bấp bênh, thiếu ổn định. Từ năm 2009, Bộ đội Biên phòng Lai Châu xẻ gỗ, vác từng tấm tôn vào làm nhà cho người dân. Tỉnh Lai Châu cũng có nhiều chính sách đặc thù, hỗ trợ… để người La Hủ ở Là Si đổi thay nhưng chưa được như kỳ vọng. Sự cô lập về địa lý và đặc biệt là tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước khiến người La Hủ ở đây vẫn đói nghèo.
Cả bản chỉ nuôi có 2 con lợn và vài đàn gà. Là Si có nhiều cái không như: Đa phần người dân không nói được tiếng phổ thông, không sóng điện thoại, không internet, không ti vi… Để di chuyển từ bản ra xã làm giấy tờ hoặc công việc chỉ còn cách đi bộ vì không ai có một chiếc xe máy. Việc sinh đẻ hoàn toàn thuận theo tự nhiên vì trạm y tế ở quá xa. Số người dân biết trồng trọt, chăn nuôi đếm trên đầu ngón tay.
Để trò chuyện với đồng bào, chúng tôi phải nhờ Trung tá Khoàng Ló Giá, Đội trưởng vận động quần chúng Đồn Biên phòng Thu Lũm làm thông dịch. Chỉ có anh là người thông thạo tiếng của bà con.
Ngồi trong căn nhà gỗ lợp tôn khoảng 30 m2 nhuốm màu rêu phong của thời gian, rít xong điếu thuốc lào, ông Pừ Là Xạ, một người dân trong bản cho biết, cả bản chỉ có 3 hộ trồng trọt, mỗi năm được khoảng 1 tạ gạo/hộ. Đất ở đây có độ dốc lớn, ruộng ít, đất kém màu mỡ nên bà con trồng trọt năng suất không cao. Những tháng giáp hạt, bà con đi vào rừng tìm kiếm củ mài, củ nâu, măng…, cái gì ăn được bà con mang về để ăn. Thỉnh thoảng có bộ đội biên phòng vào mang gạo, mì tôm phân phát cho bà con.
Cuộc sống của người La Hủ ở bản Là Si, xã Thu Lũm còn rất nhiều khó khăn.
Chị Vàng Lủ Pứ cũng ở bản Là Si chia sẻ, cán bộ dân số kế hoạch hóa gia đình của xã cũng xuống tuyên truyền nhưng do đường sá xa xôi, bà con không có xe máy nên các chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nếu có sinh con thì cũng đẻ tại nhà, giữ truyền thống ngày xưa.
Cùng ở và chứng kiến tận mắt nơi đây mới thấy sự khó khăn, vất vả của người La Hủ ở bản Là Si. Một số ngôi nhà lợp tôn, nền đất được bộ đội biên phòng dựng cho nay đã xiêu vẹo hoặc không có người ở. Bên trong nhà chỉ có khu bếp với những vật dụng đơn sơ. Nhìn cảnh bộ đội biên phòng chia từng con cá khô cho bà con khiến chúng tôi không khỏi cảm thấy bùi ngùi khi cuộc sống của người La Hủ ở đây đang vô vàn khó khăn.
Nỗ lực đổi thay từng ngày
Bản Là Si hiện đã có điện lưới. Giờ đây, người dân trong bản đã có thể từng bước tiếp cận với đời sống hiện đại như được xem truyền hình, biết thêm được nhiều thứ để thay đổi nhận thức. Khi đó, các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước được tuyên truyền, tiếp cận gần hơn với bà con.
Bộ đội Biên phòng đồn Thu Lũm bám bản, bám dân giúp đỡ bà con La Hủ ở Là Si.
Trưởng bản Là Si Lỳ Nhù Xề cho biết, khi có điện, bà con trong bản rất vui mừng. Giờ bà con trong bản mong muốn có sóng điện thoại, internet, ti vi… để học hỏi những nơi khác cách làm ăn, trồng trọt và phát triển kinh tế. Bà con mong Nhà nước tiếp tục quan tâm, các nhà hảo tâm giúp đỡ để bản vượt qua khó khăn.
Từ khi có điện lưới, các chiến sĩ Đồn Biên phòng Thu Lũm thay nhau cầm máy chiếu vào bản để chiếu phim cho bà con xem. Dù chưa hiểu được chữ và tiếng phổ thông mà chỉ xem hình ảnh nhưng đây là bước khởi đầu để bà con dần quen và tiếp cận với những cái mới.
Trung tá Khoàng Ló Giá, Đội trưởng vận động quần chúng Đồn Biên phòng Thu Lũm cho biết, khi chiếu phim cho bà con, đến chương trình nào thì anh dịch luôn cho bà con hiểu. Kiên trì, vận động để bà con hiểu và làm theo, dần thay đổi nhận thức.
Bộ đội biên phòng đã “cắm bản”, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với người dân, giúp họ dựng nhà, mở đường, hướng dẫn sản xuất và tuyên truyền pháp luật. Từ những lán tạm bợ, nhiều hộ đã có nhà ở kiên cố hơn. Người dân từng bước được hướng dẫn trồng rau, nuôi gia cầm, thay đổi tập quán sản xuất. Công tác tuyên truyền được thực hiện bằng nhiều hình thức linh hoạt, phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ và nhận thức của đồng bào.
Những năm qua, Đảng, Nhà nước và tỉnh Lai Châu đã có những chính sách đặc biệt để đời sống của người dân La Hủ ở bản Là Si dần chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, những khó khăn căn bản vẫn chưa thể giải quyết trong “một sớm, một chiều”.
Người La Hủ ở bản Là Si học cách trồng trọt, chăn nuôi.
Quan trọng nhất là việc giúp bà con thay đổi nhận thức, không còn tâm lý ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước mà chủ động thay đổi cách nghĩ, cách làm để vươn lên thoát nghèo và đầu tư để đồng bộ về hạ tầng giao thông, thông tin, sinh kế cho người dân. Đây là bài toán khó, nếu không có giải pháp căn cơ, người La Hủ ở Là Si vẫn lẩn quẩn trong vòng đói nghèo.
Theo ông Lý Chùy Hừ, Phó Chủ tịch UBND xã Thu Lũm, địa phương đã có văn bản gửi tỉnh Lai Châu và các sở, ngành liên quan để có phương án bố trí sắp xếp dân cư, đầu tư cơ sở hạ tầng đồng bộ, góp phần nâng cao đời sống vật chất cho người La Hủ. Hiện tỉnh đang xem xét đề án.
Điện lưới đã thắp sáng hy vọng cho bản Là Si. Tuy nhiên, từ hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế đến hỗ trợ sinh kế cho người dân cần được đầu tư một cách bền vững. Hành trình “gỡ khó” cho người La Hủ ở bản Là Si vẫn còn nhiều gian nan phía trước. Với sự chung tay của các cấp, các ngành và chính người dân, tin rằng vùng đất nơi “cuối đường, cuối sóng” này sẽ từng bước đổi thay, hướng tới một cuộc sống ổn định và tốt đẹp hơn./.
Tên tự gọi: La Hủ.
Tên gọi khác: Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú.
Nhóm địa phương: La Hủ na (đen), La Hủ sư (vàng) và La Hủ phung (trắng).
Dân số: 9.651 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến (ngữ hệ Hán - Tạng), gần với Miến hơn.
Hoạt động sản xuất: Người La Hủ chủ yếu làm nương du canh với nhịp độ luân chuyển cao. Gần đây họ chuyển dần sang trồng lúa trên ruộng bậc thang. Người La Hủ nổi tiếng về nghề đan lát (mâm cơm, ghế mây), rèn.Săn bắt, đánh cá, hái lượm có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế.
Ăn: Người La Hủ đã chuyển từ ăn ngô, cơm nếp sang chủ yếu cơm tẻ, thích dùng các loại thịt chim, thú do săn bắn được, cá bắt ở khe suối, măng chua, canh đậu, bầu bí.
Mặc: Người La Hủ không có truyền thống trồng bông. Trước đây, phụ nữ thường đem thịt thú rừng, nấm hương, thuốc phiện và các lâm thổ sản quý đổi lấy vải của các dân tộc khác hoặc đổi lấy bông để tự dệt thành vải. Phụ nữ mặc quần áo dài. Mặc hai lớp áo, áo trong tay dài, cài khuy bên nách phải, áo ngoài tay ngắn, cài khuy giữa ngực. Ngày thường họ chỉ mặc áo dài, ngày lễ, tết mặc thêm áo ngắn ra ngoài.
Ở: Trước đây họ thường làm nhà, lều rải rác ở ngay trên nương, trên núi cao thuộc hai xã Pa Ủ và Pa Vệ Sủ huyện Mường Tè (Lai Châu). Nhà lợp lá, lá vàng lại chuyển đi nơi khác nên người La Hủ mới có tên Xá lá vàng. Hiện nay, họ phổ biến ở nhà trệt hoặc trình tường bằng đất hoặc ván. Bếp, nhà thờ và giường ngủ của gia đình bao giờ cũng ở chung một gian.
Phương tiện vận chuyển: Người La Hủ quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai đeo vai để chuyên chở trong điều kiện địa hình rất dốc. Hon thường địu trẻ khi đi ca hay lúc làm việc.
Quan hệ xã hội: Người La Hủ cư trú phân tán thành nhiều xóm nhỏ với thành phần dân cư thay đổi thường xuyên do lối sống du canh. Xã hội chưa có sự phân hoá giàu nghèo. Người phụ nữ được tôn trọng trong gia đình song có ít vai trò xã hội.
Quan hệ dòng họ lỏng lẻo, không có người đứng đầu dòng họ và không có nghi lễ cúng bái cho cả họ. Một số mang tên chim, thú nhưng nhiều họ khác không còn ai nhớ ý nghĩa.
Cưới xin: Trai gái La Hủ được phép tự do yêu đương khi đến tuổi lập gia đình. Việc cưới hỏi được tiến hành qua nhiều bước. Trong só lễ vật nhà trai đưa sang nhà gái bắt buộc phải có thịt sóc. Sau lễ cưới, cô dâu cư trú bên chồng. Tuy nhiên, tục ở rể vẫn tồn tại với những chàng trai không sắm đủ đồ dẫn cưới, nhất là bạc trắng.
Sinh đẻ: Phụ nữ La Hủ được phép đẻ trong gian buồng của mình với sự giúp đỡ của mẹ chồng hay chị em gái. Sau khi đẻ ba ngày thì lễ đặt tên cho đứa trẻ. Tên của trẻ sơ sinh thường được đặt theo ngày sinh, do vậy trong cộng đồng người La Hủ, việc trùng tên khá phổ biến. Nếu thấy trẻ lâu lớn hoặc hay đau ốm, có thể làm lễ đổi tên khác.
Ma chay: Khi nhà có người chết, người ta bắn súng để đuổi ma và báo cho họ hàng, làng xóm biết. Quan tài thường là một khúc gỗ bổ đôi, khoét rỗng cả hai nửa. Ngày giờ đi chôn được lựa chọn cẩn thận. Người La Hủ không có nghĩa địa cố định. Thời hạn để tang của con cái đối với cha mẹ là ba năm song không có các dấu hiệu đặc biệt trên trang phục hay đầu tóc.
Thờ cúng: Người ta cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất chỉ vào các dịp cơm mới, ngày tết tháng bảy hay gieo xong lúa nương, khi cưới xin, ma chay. Không có tục cúng vào ngày giỗ. Lễ vật duy nhất dâng cho tổ tiên là cơm gói trong lá rừng.
Là cư dân hái lượm nhưng vào dịp tết cơm mới, đầu tháng 10 hay tháng 11, họ kiêng 3 ngày không đi hái rau, lấy củi, chặt cây, phát cỏ trong rừng để cầu mong cây cỏ tốt quanh năm.
Quan niệm về sự sống và chết là do trời định. Ở trên trời có hai căn nhà, một gọi là nà đề (nhà ốm), một gọi là xơ đề (nhà chết). Nếu hồn của người nào lên đến xơ đề thì nhất định sẽ chết. Còn nếu hồn lên tới nà đề thì phải làm lễ cúng xin hồn về để được sống lâu hơn. Người ta tin mỗi người chỉ sống trong một hạn tuổi đã định ngay từ khi mới đẻ ra. Nhưng cũng có thể sống vượt quá hạn đó nếu như tổ chức lễ cúng di chá. Phải bói để tìm nguyên nhân giải hạn này.
Học: Xưa kia, người La Hủ không có chữ. Hiện nay, học sinh học chữ quốc ngữ. Người La Hủ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 12 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật. Họ biết nhiều cây thuốc trên rừng. Ðể giữ bí mật và mong sự linh nghiệm của những cây thuốc, người ta thường phủ lên trên những nghi lễ, tín ngưỡng. Mỗi lần định đi hái thuốc họ giữ kín cả buổi không nói chuyện với ai, bất chợt lẻn vào rừng không cho người khác biết.
Văn nghệ: Người La Hủ thích nghe và sử dụng thành thạo khèn.
Chơi: Chiều chiều, trẻ em thường quây quần bên đống lửa quanh nhà, bên bờ suối vừa chơi, vừa hát, gõ cây làm nhịp.
Theo cema.gov.vn