Nguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua hình thức ủy thác cho các hội đoàn thể trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã trở thành “đòn bẩy” quan trọng, giúp nhiều gia đình ở nông thôn từng bước phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo bền vững. Từ những đồng vốn nhỏ được sử dụng đúng mục đích, nhiều mô hình sản xuất hiệu quả hình thành, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn.
Chị Thạch Thị Chane Tha (trái) tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) được vay vốn 35 triệu đồng để đầu tư trồng trọt, cải thiện sinh kế.
Tiếp sức phụ nữ Khmer
Tại xã Song Lộc, nguồn vốn vay ưu đãi đã “tiếp sức” cho nhiều phụ nữ Khmer mạnh dạn đầu tư sản xuất, chuyển đổi mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế. Trường hợp của chị Thạch Thị Chane Tha, ấp Tân Ngại là một ví dụ điển hình.
Gia đình chị Chane Tha trước đây thuộc diện hộ nghèo, không có đất sản xuất, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm thuê theo thời vụ nên thu nhập bấp bênh. Dù vợ chồng chăm chỉ làm lụng nhưng cái nghèo vẫn đeo bám nhiều năm liền.
Trước hoàn cảnh đó, một người hàng xóm đã tạo điều kiện cho chị Tha mượn 0,3 ha đất để trồng rau màu, từng bước ổn định sinh kế. Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư nên việc sản xuất còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao.
Năm 2019, thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, chị Tha được vay ưu đãi 35 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Có vốn, gia đình chủ động sản xuất bài bản hơn, đầu tư cải tạo đất, trồng các loại rau màu ngắn ngày; đồng thời áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước.
Nhờ sử dụng vốn đúng mục đích, kết hợp áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp, việc sản xuất dần ổn định, hiệu quả kinh tế tăng qua từng vụ, mang lại thu nhập khá, gia đình vươn lên thoát nghèo.
Gia đình chị Thạch Thị Oanh được vay vốn để phát triển mô hình nuôi bò sinh sản.
Không chỉ riêng chị Tha, nhiều hộ Khmer trên địa bàn xã Song Lộc đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển kinh tế; trong đó, gia đình bà Thạch Thị Oanh là trường hợp tiêu biểu với mô hình chăn nuôi bò sinh sản.
Năm 2018, thông qua nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình bà Oanh đầu tư mua 5 con bò sinh sản. Nhờ áp dụng đúng kỹ thuật chăn nuôi, chủ động nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn và tích lũy kinh nghiệm qua từng năm, đàn bò của gia đình phát triển tốt, đến nay tổng đàn bò đã tăng lên 26 con. Bình quân mỗi năm, gia đình bà xuất bán khoảng 10 bê con, với giá khoảng 18 triệu đồng/con, mang lại nguồn thu 180 triệu đồng/năm. Từ nguồn thu nhập này, bà tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, cải tạo 0,3 ha đất vườn tạp kém hiệu quả sang trồng dừa, đồng thời tích lũy mua thêm đất sản xuất, kết hợp trồng lúa và dừa nhằm đa dạng hóa nguồn thu.
Bà Nguyễn Thị Thanh Thoảng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Song Lộc cho biết, xã hiện có hơn 5.200 hội viên phụ nữ; trong đó, phụ nữ dân tộc Khmer chiếm trên 50%. Thời gian qua, Hội tập trung hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình, đặc biệt tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc Khmer tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện sinh kế.
Phát huy hiệu quả nguồn vốn
Từ nguồn vốn vay ưu đãi 35 triệu đồng, vợ chồng chị Thạch Thị Chane Tha tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) đã đầu tư hệ thống tưới phun tiết kiệm nước để nâng cao hiệu quả sản xuất.
Theo ông Nguyễn Mai Dư Khuyến, Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành, đơn vị hiện đang quản lý nguồn vốn tín dụng chính sách tại các xã Song Lộc, Hưng Mỹ, Châu Thành, Long Hòa, Hòa Minh và phường Hòa Thuận. Hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn thời gian qua được duy trì ổn định và đạt nhiều kết quả tích cực.
Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành phối hợp với 4 tổ chức đoàn thể nhận uỷ thác gồm Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên, cùng UBND các xã, phường trên địa bàn triển khai 14 chương trình tín dụng ưu đãi cho vay đối với nhiều đối tượng như hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, giải quyết việc làm… và các đối tượng chính sách.
Đến nay, tổng dư nợ tại 6 xã, phường trên đạt hơn 708 tỷ đồng, với hơn 23.000 khoản vay, phục vụ gần 19.000 hộ dân; trong đó, dư nợ ủy thác qua các tổ chức hội, đoàn thể chiếm trên 99%.
Riêng Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lý dư nợ hơn 367 tỷ đồng, với trên 12.000 khoản vay, là một trong những đơn vị có dư nợ lớn và chất lượng tín dụng ổn định. Thông qua hình thức ủy thác, nguồn vốn được chuyển tải kịp thời đến đúng đối tượng thụ hưởng, góp phần giúp người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Các tổ tiết kiệm và vay vốn hoạt động ngày càng nền nếp, hiệu quả.
Nhờ chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh duy trì ở mức thấp, cho thấy hiệu quả trong công tác phối hợp giữa ngân hàng với các tổ chức hội đoàn thể trong quản lý và sử dụng nguồn vốn.
Bà Trịnh Thị Phương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long cho biết, việc nhận ủy thác nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội đã giúp các cấp Hội phát huy hiệu quả vai trò “cầu nối” giữa chính sách tín dụng với hội viên phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số.
Theo bà Trịnh Thị Phương, Hội không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ hội viên tiếp cận nguồn vốn mà còn chú trọng hướng dẫn sử dụng vốn hiệu quả, gắn với xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa phương. Thông qua các tổ, nhóm, tổ hợp tác và hợp tác xã do phụ nữ quản lý, nhiều hội viên từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chuyển từ làm ăn nhỏ lẻ sang liên kết, hợp tác để nâng cao giá trị sản phẩm.
“Chúng tôi xác định, muốn phát triển bền vững thì phải xây dựng nền tảng liên kết. Khi tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã, hội viên không chỉ hỗ trợ nhau trong sản xuất mà còn có điều kiện phát huy lợi thế tài nguyên bản địa, từng bước hình thành các mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế địa phương”, bà Phương nhấn mạnh.
Hiện nay, toàn tỉnh có 75 hợp tác xã, 701 tổ hợp tác với hàng chục nghìn hội viên phụ nữ tham gia. Đây là cơ sở quan trọng để Hội tiếp tục triển khai các hoạt động hỗ trợ, nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống hội viên./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn