Tín dụng chính sách tiếp sức phụ nữ Khmer nâng cao sinh kế

Nguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua hình thức ủy thác cho các hội đoàn thể trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã trở thành “đòn bẩy” quan trọng, giúp nhiều gia đình ở nông thôn từng bước phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo bền vững. Từ những đồng vốn nhỏ được sử dụng đúng mục đích, nhiều mô hình sản xuất hiệu quả hình thành, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn.

Chị Thạch Thị Chane Tha (trái) tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) được vay vốn 35 triệu đồng để đầu tư trồng trọt, cải thiện sinh kế.

Chị Thạch Thị Chane Tha (trái) tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) được vay vốn 35 triệu đồng để đầu tư trồng trọt, cải thiện sinh kế.

Tiếp sức phụ nữ Khmer

Tại xã Song Lộc, nguồn vốn vay ưu đãi đã “tiếp sức” cho nhiều phụ nữ Khmer mạnh dạn đầu tư sản xuất, chuyển đổi mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế. Trường hợp của chị Thạch Thị Chane Tha, ấp Tân Ngại là một ví dụ điển hình.

Gia đình chị Chane Tha trước đây thuộc diện hộ nghèo, không có đất sản xuất, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm thuê theo thời vụ nên thu nhập bấp bênh. Dù vợ chồng chăm chỉ làm lụng nhưng cái nghèo vẫn đeo bám nhiều năm liền.

Trước hoàn cảnh đó, một người hàng xóm đã tạo điều kiện cho chị Tha mượn 0,3 ha đất để trồng rau màu, từng bước ổn định sinh kế. Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư nên việc sản xuất còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao.

Năm 2019, thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, chị Tha được vay ưu đãi 35 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Có vốn, gia đình chủ động sản xuất bài bản hơn, đầu tư cải tạo đất, trồng các loại rau màu ngắn ngày; đồng thời áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước.

Nhờ sử dụng vốn đúng mục đích, kết hợp áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp, việc sản xuất dần ổn định, hiệu quả kinh tế tăng qua từng vụ, mang lại thu nhập khá, gia đình vươn lên thoát nghèo.

Gia đình chị Thạch Thị Oanh được vay vốn để phát triển mô hình nuôi bò sinh sản.

Gia đình chị Thạch Thị Oanh được vay vốn để phát triển mô hình nuôi bò sinh sản.

Không chỉ riêng chị Tha, nhiều hộ Khmer trên địa bàn xã Song Lộc đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển kinh tế; trong đó, gia đình bà Thạch Thị Oanh là trường hợp tiêu biểu với mô hình chăn nuôi bò sinh sản.

Năm 2018, thông qua nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình bà Oanh đầu tư mua 5 con bò sinh sản. Nhờ áp dụng đúng kỹ thuật chăn nuôi, chủ động nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn và tích lũy kinh nghiệm qua từng năm, đàn bò của gia đình phát triển tốt, đến nay tổng đàn bò đã tăng lên 26 con. Bình quân mỗi năm, gia đình bà xuất bán khoảng 10 bê con, với giá khoảng 18 triệu đồng/con, mang lại nguồn thu 180 triệu đồng/năm. Từ nguồn thu nhập này, bà tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, cải tạo 0,3 ha đất vườn tạp kém hiệu quả sang trồng dừa, đồng thời tích lũy mua thêm đất sản xuất, kết hợp trồng lúa và dừa nhằm đa dạng hóa nguồn thu.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thoảng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Song Lộc cho biết, xã hiện có hơn 5.200 hội viên phụ nữ; trong đó, phụ nữ dân tộc Khmer chiếm trên 50%. Thời gian qua, Hội tập trung hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình, đặc biệt tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc Khmer tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện sinh kế.

Phát huy hiệu quả nguồn vốn

Từ nguồn vốn vay ưu đãi 35 triệu đồng, vợ chồng chị Thạch Thị Chane Tha tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) đã đầu tư hệ thống tưới phun tiết kiệm nước để nâng cao hiệu quả sản xuất.

Từ nguồn vốn vay ưu đãi 35 triệu đồng, vợ chồng chị Thạch Thị Chane Tha tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) đã đầu tư hệ thống tưới phun tiết kiệm nước để nâng cao hiệu quả sản xuất.

Theo ông Nguyễn Mai Dư Khuyến, Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành, đơn vị hiện đang quản lý nguồn vốn tín dụng chính sách tại các xã Song Lộc, Hưng Mỹ, Châu Thành, Long Hòa, Hòa Minh và phường Hòa Thuận. Hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn thời gian qua được duy trì ổn định và đạt nhiều kết quả tích cực.

Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành phối hợp với 4 tổ chức đoàn thể nhận uỷ thác gồm Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên, cùng UBND các xã, phường trên địa bàn triển khai 14 chương trình tín dụng ưu đãi cho vay đối với nhiều đối tượng như hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, giải quyết việc làm… và các đối tượng chính sách.

Đến nay, tổng dư nợ tại 6 xã, phường trên đạt hơn 708 tỷ đồng, với hơn 23.000 khoản vay, phục vụ gần 19.000 hộ dân; trong đó, dư nợ ủy thác qua các tổ chức hội, đoàn thể chiếm trên 99%.

Riêng Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lý dư nợ hơn 367 tỷ đồng, với trên 12.000 khoản vay, là một trong những đơn vị có dư nợ lớn và chất lượng tín dụng ổn định. Thông qua hình thức ủy thác, nguồn vốn được chuyển tải kịp thời đến đúng đối tượng thụ hưởng, góp phần giúp người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Các tổ tiết kiệm và vay vốn hoạt động ngày càng nền nếp, hiệu quả.

Nhờ chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh duy trì ở mức thấp, cho thấy hiệu quả trong công tác phối hợp giữa ngân hàng với các tổ chức hội đoàn thể trong quản lý và sử dụng nguồn vốn.

Bà Trịnh Thị Phương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long cho biết, việc nhận ủy thác nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội đã giúp các cấp Hội phát huy hiệu quả vai trò “cầu nối” giữa chính sách tín dụng với hội viên phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số.

Theo bà Trịnh Thị Phương, Hội không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ hội viên tiếp cận nguồn vốn mà còn chú trọng hướng dẫn sử dụng vốn hiệu quả, gắn với xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa phương. Thông qua các tổ, nhóm, tổ hợp tác và hợp tác xã do phụ nữ quản lý, nhiều hội viên từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chuyển từ làm ăn nhỏ lẻ sang liên kết, hợp tác để nâng cao giá trị sản phẩm.

“Chúng tôi xác định, muốn phát triển bền vững thì phải xây dựng nền tảng liên kết. Khi tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã, hội viên không chỉ hỗ trợ nhau trong sản xuất mà còn có điều kiện phát huy lợi thế tài nguyên bản địa, từng bước hình thành các mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế địa phương”, bà Phương nhấn mạnh.

Hiện nay, toàn tỉnh có 75 hợp tác xã, 701 tổ hợp tác với hàng chục nghìn hội viên phụ nữ tham gia. Đây là cơ sở quan trọng để Hội tiếp tục triển khai các hoạt động hỗ trợ, nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống hội viên./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Sơn La định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận

Sơn La định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận

Ngày 22/5, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La phối hợp với UBND xã Yên Sơn tổ chức hội thảo chuyên đề “Nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và định hướng kết nối tiêu thụ sản phẩm mận xã Yên Sơn năm 2026”.

Chuyển đổi số vùng biên mở ra cơ hội phát triển mới

Chuyển đổi số vùng biên mở ra cơ hội phát triển mới

Tại các xã biên giới của tỉnh Lạng Sơn, hình ảnh cán bộ biên phòng, đoàn viên thanh niên, tổ công nghệ số cộng đồng hướng dẫn người dân cài đặt các ứng dụng dịch vụ công, thanh toán không dùng tiền mặt hay sử dụng điện thoại thông minh để trao đổi hàng hóa đã trở nên quen thuộc. Khắp những thôn xóm heo hút chạy dọc đường tuần tra biên giới, chuyển đổi số đang ngấm sâu vào đời sống người dân, mở ra nhiều thay đổi tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh biên giới và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nhiều mô hình 'Xã, phường không ma túy' đạt kết quả tích cực

Nhiều mô hình 'Xã, phường không ma túy' đạt kết quả tích cực

Sau hơn 2 tháng triển khai, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng “Xã, phường không ma túy” trên địa bàn tỉnh đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Chính sách mới thắp sáng những mái trường vùng cao

Tại nhiều điểm trường vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, nơi học sinh từng phải mang theo gạo, rau từ nhà đến lớp, Nghị định 66 của Chính phủ đang từng bước mang đến những đổi thay tích cực cho giáo dục miền núi.

Tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm trên tuyến biên giới

Tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm trên tuyến biên giới

Trong ngày 19-20/5, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiện, Phó Tư lệnh Bộ đội Biên phòng dẫn đầu đoàn công tác đã kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác trinh sát, phòng, chống ma túy và tội phạm, công tác cửa khẩu năm 2025 và 4 tháng của năm 2026 tại Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế La Lay.

Tiếp thêm động lực cho nông dân vùng biên phát triển kinh tế

Tiếp thêm động lực cho nông dân vùng biên phát triển kinh tế

Ngày 17/5, tại xã Phước Vinh, Tây Ninh, báo Tuổi Trẻ, Công ty cổ phần GREENFEED Việt Nam phối hợp cùng Hội Nông dân và Tỉnh đoàn Tây Ninh tổ chức lễ trao vốn Chương trình “Tiếp sức nhà nông” cho 40 hộ nông dân có hoàn cảnh khó khăn, có con em vượt khó học giỏi.

Xử phạt, chấn chỉnh các hành vi vi phạm về đất đai tại Lâm Đồng

Xử phạt, chấn chỉnh các hành vi vi phạm về đất đai tại Lâm Đồng

Ngành chức năng, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng đang tăng cường các biện pháp xử lý, xử phạt nhằm chấn chỉnh việc tuân thủ các quy định về đất đai. Đây là việc làm kịp thời trong bối cảnh giá cả nông sản tăng cao, nhiều hộ dân tự ý san gạt, thay đổi hiện trạng đất nhằm chuyển đổi cây trồng, nguy cơ ảnh hưởng tới các hộ sử dụng đất liền kề.

Chuyển đổi số mở cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại ở Đắk Lắk

Chuyển đổi số mở cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại ở Đắk Lắk

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu, ngành Giáo dục tỉnh Đắk Lắk đang từng bước đổi mới phương pháp quản lý, dạy và học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI). Chuyển đổi số đang tạo ra nhiều thay đổi tích cực, mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại cho giáo viên và học sinh.

Đánh thức tiềm năng phát triển vùng biên giới phía Bắc Tổ quốc

Đánh thức tiềm năng phát triển vùng biên giới phía Bắc Tổ quốc

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I xác định rõ 3 trụ cột phát triển gồm: thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Trong đó, thể chế được xác định là yếu tố đột phá, đóng vai trò "mở đường" để khơi thông các nguồn lực phát triển. Thực tế triển khai tại Lào Cai cho thấy, những điều chỉnh về chính sách trong thời gian gần đây đang tạo ra hiệu ứng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương.

Vốn ưu đãi cải thiện nước sạch, nâng chất lượng sống vùng biên

Vốn ưu đãi cải thiện nước sạch, nâng chất lượng sống vùng biên

Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã hiện thực hóa ước mơ có nước sạch và công trình vệ sinh đạt chuẩn cho nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên Đồng Nai. Việc tiếp cận vốn kịp thời không chỉ giúp vơi bớt nỗi lo thiếu nước mùa khô mà còn cải thiện môi trường sống, thắp sáng diện mạo mới cho nông thôn vùng biên.

Thanh Hóa còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ lũ quét, sạt lở

Thanh Hóa còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ lũ quét, sạt lở

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Thanh Hóa: Hoàn thành xóa nhà tạm cho 67 hộ người có công trước ngày 20/7

Thanh Hóa: Hoàn thành xóa nhà tạm cho 67 hộ người có công trước ngày 20/7

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch triển khai hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở cho 67 hộ gia đình thuộc diện người có công trên địa bàn. Tỉnh quyết tâm hoàn thành trước ngày 20/7/2026, góp phần giúp các hộ gia đình ổn định cuộc sống, cải thiện điều kiện sinh hoạt.

Thanh Hóa hỗ trợ khắc phục 35 công trình hư hỏng do ảnh hưởng mưa lũ

Thanh Hóa hỗ trợ khắc phục 35 công trình hư hỏng do ảnh hưởng mưa lũ

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Quyết định số 1394/QĐ-UBND ngày 12/5/2026 phê duyệt hỗ trợ 58,9 tỷ đồng từ Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh để khắc phục, sửa chữa 35 công trình thuộc các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh bị hư hỏng do ảnh hưởng của thiên tai năm 2025.

Nâng cao chất lượng sống vùng đồng bào từ giáo dục, việc làm

Nâng cao chất lượng sống vùng đồng bào từ giáo dục, việc làm

Từ thành công của Đại hội Đại biểu Toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ XI, các đại biểu dân tộc thiểu số kiến nghị, tiếp tục tăng cường quan tâm tới giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Đưa pháp luật từng bước 'thấm' vào đời sống đồng bào vùng khó

Đưa pháp luật từng bước 'thấm' vào đời sống đồng bào vùng khó

Từng là địa bàn đặc biệt khó khăn, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh trật tự, đến nay xã Hùng Lợi (Tuyên Quang) đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Không chỉ đổi thay trong tư duy phát triển kinh tế, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của đồng bào Mông, Dao cũng từng bước được nâng lên. Đó là kết quả từ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, công an cơ sở và đội ngũ người có uy tín trong cộng đồng.

Ấm lòng bếp ăn bán trú đến với trẻ em vùng khó khăn

Ấm lòng bếp ăn bán trú đến với trẻ em vùng khó khăn

Hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026 với chủ đề “80 năm hành trình nhân ái vì cộng đồng”, sáng 12/5, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp với UBND xã Sen Ngư tổ chức khánh thành, bàn giao công trình bếp ăn bán trú tại điểm trường xóm Phường, Trường Mầm non Sen Thủy.

Chuẩn hóa giáo dục dân tộc, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Chuẩn hóa giáo dục dân tộc, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Tỉnh Vĩnh Long tập trung các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, làm nền tảng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và phát triển bền vững nguồn nhân lực địa phương.

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Sáng 10/5, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Điện Biên phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội cùng các đơn vị liên quan tổ chức khám sàng lọc bệnh tim mạch miễn phí cho trẻ em ở tỉnh.

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, giá vật tư tăng cao và đầu ra nông sản thiếu ổn định, nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân đang trở thành “đòn bẩy” quan trọng giúp nhiều hội viên nông dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mạnh dạn đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và từng bước vươn lên làm giàu bền vững.