Tín dụng chính sách tiếp sức phụ nữ Khmer nâng cao sinh kế

Nguồn vốn tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua hình thức ủy thác cho các hội đoàn thể trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long đã trở thành “đòn bẩy” quan trọng, giúp nhiều gia đình ở nông thôn từng bước phát triển kinh tế, vươn lên thoát nghèo bền vững. Từ những đồng vốn nhỏ được sử dụng đúng mục đích, nhiều mô hình sản xuất hiệu quả hình thành, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn.

Chị Thạch Thị Chane Tha (trái) tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) được vay vốn 35 triệu đồng để đầu tư trồng trọt, cải thiện sinh kế.

Chị Thạch Thị Chane Tha (trái) tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) được vay vốn 35 triệu đồng để đầu tư trồng trọt, cải thiện sinh kế.

Tiếp sức phụ nữ Khmer

Tại xã Song Lộc, nguồn vốn vay ưu đãi đã “tiếp sức” cho nhiều phụ nữ Khmer mạnh dạn đầu tư sản xuất, chuyển đổi mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế. Trường hợp của chị Thạch Thị Chane Tha, ấp Tân Ngại là một ví dụ điển hình.

Gia đình chị Chane Tha trước đây thuộc diện hộ nghèo, không có đất sản xuất, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm thuê theo thời vụ nên thu nhập bấp bênh. Dù vợ chồng chăm chỉ làm lụng nhưng cái nghèo vẫn đeo bám nhiều năm liền.

Trước hoàn cảnh đó, một người hàng xóm đã tạo điều kiện cho chị Tha mượn 0,3 ha đất để trồng rau màu, từng bước ổn định sinh kế. Tuy nhiên, do thiếu vốn đầu tư nên việc sản xuất còn nhiều hạn chế, hiệu quả chưa cao.

Năm 2019, thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, chị Tha được vay ưu đãi 35 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Có vốn, gia đình chủ động sản xuất bài bản hơn, đầu tư cải tạo đất, trồng các loại rau màu ngắn ngày; đồng thời áp dụng hệ thống tưới tiết kiệm nước.

Nhờ sử dụng vốn đúng mục đích, kết hợp áp dụng kỹ thuật canh tác phù hợp, việc sản xuất dần ổn định, hiệu quả kinh tế tăng qua từng vụ, mang lại thu nhập khá, gia đình vươn lên thoát nghèo.

Gia đình chị Thạch Thị Oanh được vay vốn để phát triển mô hình nuôi bò sinh sản.

Gia đình chị Thạch Thị Oanh được vay vốn để phát triển mô hình nuôi bò sinh sản.

Không chỉ riêng chị Tha, nhiều hộ Khmer trên địa bàn xã Song Lộc đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay ưu đãi để phát triển kinh tế; trong đó, gia đình bà Thạch Thị Oanh là trường hợp tiêu biểu với mô hình chăn nuôi bò sinh sản.

Năm 2018, thông qua nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, gia đình bà Oanh đầu tư mua 5 con bò sinh sản. Nhờ áp dụng đúng kỹ thuật chăn nuôi, chủ động nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn và tích lũy kinh nghiệm qua từng năm, đàn bò của gia đình phát triển tốt, đến nay tổng đàn bò đã tăng lên 26 con. Bình quân mỗi năm, gia đình bà xuất bán khoảng 10 bê con, với giá khoảng 18 triệu đồng/con, mang lại nguồn thu 180 triệu đồng/năm. Từ nguồn thu nhập này, bà tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, cải tạo 0,3 ha đất vườn tạp kém hiệu quả sang trồng dừa, đồng thời tích lũy mua thêm đất sản xuất, kết hợp trồng lúa và dừa nhằm đa dạng hóa nguồn thu.

Bà Nguyễn Thị Thanh Thoảng, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Song Lộc cho biết, xã hiện có hơn 5.200 hội viên phụ nữ; trong đó, phụ nữ dân tộc Khmer chiếm trên 50%. Thời gian qua, Hội tập trung hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế gia đình, đặc biệt tạo điều kiện để phụ nữ dân tộc Khmer tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đầu tư trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện sinh kế.

Phát huy hiệu quả nguồn vốn

Từ nguồn vốn vay ưu đãi 35 triệu đồng, vợ chồng chị Thạch Thị Chane Tha tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) đã đầu tư hệ thống tưới phun tiết kiệm nước để nâng cao hiệu quả sản xuất.

Từ nguồn vốn vay ưu đãi 35 triệu đồng, vợ chồng chị Thạch Thị Chane Tha tại ấp Tân Ngại, xã Song Lộc (Vĩnh Long) đã đầu tư hệ thống tưới phun tiết kiệm nước để nâng cao hiệu quả sản xuất.

Theo ông Nguyễn Mai Dư Khuyến, Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành, đơn vị hiện đang quản lý nguồn vốn tín dụng chính sách tại các xã Song Lộc, Hưng Mỹ, Châu Thành, Long Hòa, Hòa Minh và phường Hòa Thuận. Hoạt động tín dụng chính sách trên địa bàn thời gian qua được duy trì ổn định và đạt nhiều kết quả tích cực.

Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Châu Thành phối hợp với 4 tổ chức đoàn thể nhận uỷ thác gồm Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên, cùng UBND các xã, phường trên địa bàn triển khai 14 chương trình tín dụng ưu đãi cho vay đối với nhiều đối tượng như hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, giải quyết việc làm… và các đối tượng chính sách.

Đến nay, tổng dư nợ tại 6 xã, phường trên đạt hơn 708 tỷ đồng, với hơn 23.000 khoản vay, phục vụ gần 19.000 hộ dân; trong đó, dư nợ ủy thác qua các tổ chức hội, đoàn thể chiếm trên 99%.

Riêng Hội Liên hiệp Phụ nữ quản lý dư nợ hơn 367 tỷ đồng, với trên 12.000 khoản vay, là một trong những đơn vị có dư nợ lớn và chất lượng tín dụng ổn định. Thông qua hình thức ủy thác, nguồn vốn được chuyển tải kịp thời đến đúng đối tượng thụ hưởng, góp phần giúp người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập. Các tổ tiết kiệm và vay vốn hoạt động ngày càng nền nếp, hiệu quả.

Nhờ chất lượng tín dụng được kiểm soát tốt, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khoanh duy trì ở mức thấp, cho thấy hiệu quả trong công tác phối hợp giữa ngân hàng với các tổ chức hội đoàn thể trong quản lý và sử dụng nguồn vốn.

Bà Trịnh Thị Phương, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long cho biết, việc nhận ủy thác nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội đã giúp các cấp Hội phát huy hiệu quả vai trò “cầu nối” giữa chính sách tín dụng với hội viên phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số.

Theo bà Trịnh Thị Phương, Hội không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ hội viên tiếp cận nguồn vốn mà còn chú trọng hướng dẫn sử dụng vốn hiệu quả, gắn với xây dựng các mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện từng địa phương. Thông qua các tổ, nhóm, tổ hợp tác và hợp tác xã do phụ nữ quản lý, nhiều hội viên từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chuyển từ làm ăn nhỏ lẻ sang liên kết, hợp tác để nâng cao giá trị sản phẩm.

“Chúng tôi xác định, muốn phát triển bền vững thì phải xây dựng nền tảng liên kết. Khi tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã, hội viên không chỉ hỗ trợ nhau trong sản xuất mà còn có điều kiện phát huy lợi thế tài nguyên bản địa, từng bước hình thành các mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế địa phương”, bà Phương nhấn mạnh.

Hiện nay, toàn tỉnh có 75 hợp tác xã, 701 tổ hợp tác với hàng chục nghìn hội viên phụ nữ tham gia. Đây là cơ sở quan trọng để Hội tiếp tục triển khai các hoạt động hỗ trợ, nhân rộng mô hình kinh tế hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống hội viên./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Người dân xứ Nghệ háo hức với ngày hội biên cương

Người dân xứ Nghệ háo hức với ngày hội biên cương

Sáng 9/7, chương trình giao lưu hữu nghị biên giới Quốc phòng Việt Nam - Lào đã bắt đầu diễn ra, với những hoạt động đầu tiên trên đất nước bạn Lào. Vào ngày 10/7 - các hoạt động giao lưu mới bắt đầu diễn ra tại Việt Nam. Để chuẩn bị cho các hoạt động đón tiếp và giao lưu, người dân khu vực cửa khẩu Quốc tế Thanh Thủy, Nghệ An đã chuẩn bị từ nhiều ngày nay. Sự háo hức và tình cảm nồng ầm của bà con xứ Nghệ khiến không khí ngày hội trở nên rộn ràng hơn.

Cần sớm hoàn thành dự án di dân khẩn cấp Suối Lóp

Cần sớm hoàn thành dự án di dân khẩn cấp Suối Lóp

Tại thôn Cang Kỷ, xã Văn Chấn, tỉnh Lào Cai, do ảnh hưởng từ nhiều đợt mưa lũ đã gây sạt lở taluy khiến hơn 70 hộ dân sống trong lo lắng. Để đảm bảo an toàn cho người dân, tỉnh đã lập dự án tái định cư tại thôn Suối Lóp nhưng cho đến nay dự án vẫn chưa hoàn thành.

Gỡ vướng mắc về mã số vùng trồng trước vụ sầu riêng

Gỡ vướng mắc về mã số vùng trồng trước vụ sầu riêng

Khẩn trương tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu nông sản, trước mắt là đối với mặt hàng sầu riêng của khu vực Tây Nguyên. Không được để nông sản của người dân đến vụ thu hoạch nhưng bị ùn ứ, không xuất khẩu được do những bất cập trong cơ chế quản lý, sự chậm trễ trong cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, hoạt động kiểm nghiệm hoặc do thủ tục hành chính còn rườm rà.

Tuyên Quang phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững

Tuyên Quang phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững

Trong giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Tuyên Quang đặt mục tiêu phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, bền vững, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực phát triển. Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; chế biến sâu nông, lâm sản, thực phẩm; công nghiệp nhẹ; sản xuất vật liệu xây dựng; năng lượng và từng bước thu hút các ngành công nghiệp công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn, thân thiện với môi trường.

Công trình ngăn lũ đầu tiên phát huy hiệu quả

Công trình ngăn lũ đầu tiên phát huy hiệu quả

Đập Sabo – công trình thí điểm cắt giảm lũ đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng và hoàn thành vào năm 2025 vừa chứng minh hiệu quả giảm lũ trong trận mưa lớn xảy ra ngày 5/7/2026 tại khu vực Tây Bắc.

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Sức sống mới vùng đồng bào Khmer Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với mục tiêu xây dựng nông thôn hiện đại, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Không ngừng cải thiện sinh kế cho đồng bào và gia đình chính sách vùng biên giới

Không ngừng cải thiện sinh kế cho đồng bào và gia đình chính sách vùng biên giới

Hướng đến kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, ngày 6/7, đoàn công tác của Thành ủy Đà Nẵng do Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Đình Vĩnh làm Trưởng đoàn đã thăm, tặng quà các gia đình chính sách là đồng bào các dân tộc thiểu số ở xã biên giới Hùng Sơn - địa phương có đường biên giới tiếp giáp với huyện Kà Lừm, thuộc tỉnh Sê Kông của nước bạn Lào.

Ấm tình quân dân trên khu vực biên giới biển

Ấm tình quân dân trên khu vực biên giới biển

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 6/7, Đồn Biên phòng Triệu Vân (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) phối hợp với UBND xã Nam Cửa Việt, UBND xã Triệu Cơ và nhóm thiện nguyện Trần Tình tổ chức chương trình an sinh xã hội, trao tặng 300 suất quà cho các gia đình chính sách, hộ nghèo và học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương.

100 ngày đêm dựng trường nội trú nơi biên cương

100 ngày đêm dựng trường nội trú nơi biên cương

Giữa cái nắng gay gắt của miền Trung, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang cùng công nhân vẫn miệt mài thi công các trường phổ thông dân tộc nội trú liên cấp tại vùng biên giới tỉnh Quảng Trị, quyết tâm hoàn thành trước ngày 30/8 để kịp đưa vào sử dụng trong năm học 2026-2027.

Khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho đồng bào thiểu số vùng biên

Khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho đồng bào thiểu số vùng biên

Ngày 5/7, tại xã biên giới Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai), chính quyền địa phương phối hợp với Bệnh viện Chợ Rẫy và Chi cục Kiểm lâm thành phố Đồng Nai tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người dân, hưởng ứng đợt cao điểm 180 ngày khám sức khỏe định kỳ toàn dân. 

Siết lại công tác lưu trú cho người nước ngoài để phòng chống tội phạm

Siết lại công tác lưu trú cho người nước ngoài để phòng chống tội phạm

Thời gian gần đây, công an tỉnh Lào Cai đã phát hiện một số ổ nhóm, đối tượng người nước ngoài thuê nhà dân, khách sạn, cơ sở lưu trú, chủ yếu trên địa bàn phường Lào Cai để tổ chức hoạt động lừa đảo trên không gian mạng. Thực tế này cho thấy, việc siết chặt quản lý lưu trú, tăng cường các biện pháp nghiệp vụ kiểm tra, giám sát từ cơ sở có người nước ngoài thuê lưu trú là giải pháp then chốt để chủ động nhận diện, ngăn chặn các ổ nhóm tội phạm từ sớm, từ xa.

Đưa chính sách dân tộc, miền núi đi sâu vào cuộc sống

Đưa chính sách dân tộc, miền núi đi sâu vào cuộc sống

Sáng 3/7, đoàn công tác của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội do ông Lâm Văn Mẫn, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng làm Trưởng đoàn, đã làm việc với UBND tỉnh Tuyên Quang về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai và triển khai một số cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn.

Chủ động đấu tranh với tội phạm mua bán người qua biên giới

Chủ động đấu tranh với tội phạm mua bán người qua biên giới

Trong bối cảnh tội phạm mua bán người tiếp tục lợi dụng không gian mạng, hoạt động xuất nhập cảnh và địa bàn biên giới để thực hiện hành vi phạm tội, tỉnh Tây Ninh thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh, bảo vệ người dân trước loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này.

Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Đổi mới, thích ứng và phát triển vượt bậc

Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Đổi mới, thích ứng và phát triển vượt bậc

Sau một năm chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động trên địa bàn thành phố Đồng Nai, nhiều phường, xã đã có những bước chuyển mình quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Đưa 'phòng khám' đến tận bản làng biên giới

Đưa 'phòng khám' đến tận bản làng biên giới

Triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí cho người dân, ngành Y tế Điện Biên đang từng bước đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đến gần người dân hơn, nhất là tại các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa và biên giới.

Khi mỗi tổ dân phố trở thành một 'điểm chạm số'

Khi mỗi tổ dân phố trở thành một 'điểm chạm số'

Sau những cuộc họp tổ dân phố, thay vì chờ thông báo dán trên bảng tin như trước, nhiều người dân phường Hà Giang 1 (Tuyên Quang) nay chỉ cần mở điện thoại để cập nhật thông tin, đăng ký thủ tục hành chính hay phản ánh những vấn đề phát sinh ở khu dân cư.

Chuyển giao các trạm y tế về chính quyền cấp xã quản lý

Chuyển giao các trạm y tế về chính quyền cấp xã quản lý

Tỉnh Điện Biên vừa tiến hành giải thể một số điểm trạm y tế và chuyển giao 45 trạm y tế xã, phường từ Sở Y tế về UBND cấp xã quản lý. Đây là bước triển khai quan trọng nhằm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương.

Giữ rừng, tăng sinh kế từ mô hình cộng đồng ở Quảng Ngãi

Giữ rừng, tăng sinh kế từ mô hình cộng đồng ở Quảng Ngãi

Mô hình quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã phát huy hiệu quả thiết thực. Mô hình này không chỉ nâng cao nhận thức của người dân trong công tác quản lý, phát triển rừng mà còn tạo sinh kế, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trở thành “cánh tay nối dài” đắc lực của lực lượng kiểm lâm.

Kiểm soát chặt chẽ nguy cơ tái nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Vĩnh Long

Kiểm soát chặt chẽ nguy cơ tái nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Vĩnh Long

Tỉnh Vĩnh Long đặt mục tiêu đến năm 2030 có 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, không còn xã, ấp đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời bố trí khoảng 16.590 tỷ đồng để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.

Vượt nắng mưa, tăng tốc xây trường nội trú liên cấp vùng biên

Vượt nắng mưa, tăng tốc xây trường nội trú liên cấp vùng biên

Chỉ còn khoảng 2 tháng trước thời điểm dự kiến bàn giao, không khí thi công tại các dự án Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở Sơn Kim 1 và Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) đang diễn ra khẩn trương. Trên các công trường, trên 350 kỹ sư, công nhân làm việc liên tục nhiều ca trong ngày, chạy đua với thời gian để hoàn thành công trình đúng tiến độ, đáp ứng yêu cầu đưa vào sử dụng trước năm học mới.

Sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương

Sắp xếp thôn, bản, tổ dân phố trên cơ sở điều kiện thực tế của địa phương

Sau gần một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Tuyên Quang đang tiếp tục hoàn thiện tổ chức ở cơ sở thông qua việc sắp xếp lại thôn, bản, tổ dân phố. Đây không chỉ là bước tinh gọn đầu mối quản lý ở cơ sở mà còn tạo tiền đề để hoàn thiện mô hình quản trị địa phương theo hướng hiện đại, hiệu quả hơn.

'Bệ đỡ' giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo

'Bệ đỡ' giúp đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo

Tại thành phố Đồng Nai, những năm qua, nguồn vốn tín dụng chính sách của Ngân hàng Chính sách xã hội đã thực sự trở thành “bệ đỡ” vững chắc cho đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên phát triển kinh tế. Nhiều hộ gia đình nghèo, khó khăn đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng các mô hình kinh tế hiệu quả, từng bước vươn lên ổn định cuộc sống và thoát nghèo bền vững.

Để khoa học công nghệ tạo sinh kế cho vùng nông thôn, miền núi

Để khoa học công nghệ tạo sinh kế cho vùng nông thôn, miền núi

Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai năm 2016, với mục tiêu từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, đưa những kết quả nghiên cứu về giống cây trồng, kỹ thuật canh tác mới về vùng nông thôn, miền núi, từ đó trở thành động lực phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Cán bộ, giáo viên băng rừng, lội suối đến lớp học AI

Cán bộ, giáo viên băng rừng, lội suối đến lớp học AI

Giữa những dãy núi phía Tây Đà Nẵng, nơi vẫn còn những thôn bản chưa có điện lưới quốc gia, chưa có sóng viễn thông và muốn đến phải băng rừng, lội suối, câu chuyện chuyển đổi số đang diễn ra theo một cách rất riêng. Không bắt đầu từ những trung tâm dữ liệu hiện đại hay các phòng điều hành thông minh, hành trình ấy bắt đầu từ những cán bộ cơ sở, giáo viên vùng cao đang từng ngày nỗ lực đưa công nghệ vào công việc và cuộc sống.