Toàn văn phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ II

Toàn văn phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ II

Ngày 4/12, Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số lần thứ II năm 2020 đã diễn ra tại Thủ đô Hà Nội với chủ đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau, phát huy nội lực cùng phát triển với đất nước”. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc dự và thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu tại Đại hội. Thông tấn xã Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Thủ tướng.

Toàn văn phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam lần thứ II ảnh 1Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo Đại hội. Ảnh: Dương Giang - TTXVN

"Kính thưa các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Kính thưa các đồng chí lão thành cách mạng, mẹ Việt Nam anh hùng,

Kính thưa Đoàn Chủ tịch Đại hội,

Thưa đồng bào, đồng chí!

Hôm nay, tôi rất vui mừng phấn khởi cùng với các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về dự Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số toàn quốc lần thứ II. Đây là một sự kiện có ý nghĩa chính trị, xã hội sâu sắc, một biểu tượng đặc biệt về khối đại đoàn kết các dân tộc, như “54 cánh sen tạo nên một bông sen Việt Nam” rực rỡ, ngát hương.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi xin gửi tới các bậc lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, nhân sỹ trí thức, văn nghệ sỹ, nghệ nhân, doanh nhân, người có uy tín, 1.600 đại biểu ưu tú dự Đại hội và đồng bào các dân tộc thiểu số trên mọi miền đất nước lời thăm hỏi ân cần, tình cảm thân thiết, lời chúc mừng sức khỏe, hạnh phúc. Chúc Đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp.

Kính thưa toàn thể Đại hội,

Thưa đồng bào, đồng chí!

Nhìn lại chặng đường 10 năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức rất lớn, nhưng nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng lên miền núi, từ thành thị về nông thôn, từ đất liền ra đến hải đảo.

Việt Nam được cộng đồng quốc tế vinh danh là một nền kinh tế năng động, tăng trưởng nhanh tại châu Á với GDP tăng trung bình 6,3% trong 10 năm qua. Ngay cả khi thế giới phải đối mặt với đại dịch thế kỷ COVID-19, Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới đạt được mức tăng trưởng kinh tế dương trong năm 2020, thậm chí có thể là quốc gia duy nhất có tăng trưởng kinh tế dương ở khu vực Đông Nam Á, theo dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF.

Sự phát triển của quốc gia đến từ thành công của các địa phương. Bên cạnh các địa phương phát triển luôn duy trì sức tăng trưởng cao, các tỉnh khó khăn - nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc, nhiều tỉnh miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên nơi có đông đồng bào dân tộc thiếu số sinh sống vẫn luôn nỗ lực để đạt tăng trưởng khá, với ý chí không để tỉnh nhà bị bỏ lại phía sau, quyết tâm phải làm cho các dân tộc tỉnh nhà ngày càng vươn lên cuộc sống ấm no, tốt đẹp hơn. Sự thay da đổi thịt ở nhiều nơi có thể cảm nhận hàng ngày như: Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Cao Bằng, Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Bình Phước, Sóc Trăng, Trà Vinh...

Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện hỗ trợ về giáo dục, y tế, phát triển hạ tầng, kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 71,4% tổng chi cho các nhiệm vụ này của cả nước, chiếm 80% tổng chi giảm nghèo của vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nguồn lực Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được ưu tiên bố trí thực hiện cho địa bàn dân tộc, miền núi, chiếm 70% tổng vốn Chương trình qua các giai đoạn. Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội chiếm 52,5% tổng dư nợ cả nước trên địa bàn miền núi, dân tộc.

Với những quyết tâm và nguồn lực tập trung đầu tư mạnh mẽ như vậy, chúng ta vui mừng nhận thấy: Đến nay, 100% các xã đã có đường ô tô đến trung tâm; 99% trung tâm xã và 80% thôn có điện; 65% xã có hệ thống thuỷ lợi nhỏ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống; 80% thôn có đường cho xe cơ giới; trên 50% xã có trạm y tế đạt chuẩn, 100% đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo có bảo hiểm y tế miễn phí.

Bên cạnh đó, các giá trị truyền thống, văn hóa tốt đẹp của đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm bảo tồn và phát huy, không chỉ trở thành một tài sản tinh thần cho con cháu mà còn là một tài nguyên mới cho sự phát triển, nhất là du lịch. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc được giữ vững.

Công tác xây dựng Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực. Hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng ở các vùng đồng bào dân tộc thêm đoàn kết, thống nhất, vững mạnh hơn. Niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước được củng cố và tăng cường hơn. Nhìn một cách tổng quát, đời sống vật chất và tinh thần của đồng báo các dân tộc thiểu số chưa bao giờ được khởi sắc như ngày nay.

Chúng ta không chỉ một chiều nhìn thấy các chính sách mà Đảng và Nhà nước đã chăm lo cho đồng bào các dân tộc, mà chúng ta cũng nhận thấy đồng bào các dân tộc đã góp phần rất to lớn vào những thành quả phát triển vĩ đại của đất nước xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta, và gần đây nhất là thành quả của gần 35 năm đổi mới đất nước.

Chỉ chiếm chưa đến 15% dân số, nhưng đồng bào các dân tộc đã và đang góp phần to lớn vào tiến trình phát triển của đất nước. Trong kháng chiến, nhiều chiến công oanh liệt, nhiều tên tuổi của những anh hùng vẫn sống mãi với chúng ta như Hoàng Văn Thụ, La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Đinh Núp, Lò Văn Giá, Sơn Ton, Hồ Vai, Pi Năng Tắc, Puih Thu… và hàng vạn anh hùng liệt sĩ là người dân tộc thiểu số đã hy sinh anh dũng vì độc lập và tự do của dân tộc.

Trong hòa bình, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều hình thức vinh danh những người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đó là những đại diện tiêu biểu nhưng vẫn chưa đủ để đánh giá hết những đóng góp xuất sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số cho sự phát triển của bản làng, quê hương, đất nước. Đây không phải là thành quả riêng lẻ của từng dân tộc, nó là sự kết tụ và giao hòa, thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn máu thịt giữa các dân tộc anh em đồng bào - đồng chí - đồng nghĩa – đồng cảm, "tình đồng chí, nghĩa đồng bào". Có thể khẳng định, đoàn kết chính là cội nguồn sức mạnh của đại dân tộc Việt Nam ta. “Khi riêng rẽ, mỗi chúng ta chỉ là một giọt nước. Cùng nhau, chúng là đại dương”. Chỉ khi cùng nắm chặt tay nhau tiến lên - 54 dân tộc anh em Con Lạc - Cháu Rồng, chúng ta sẽ xây dựng được một quốc gia hùng mạnh.

Thay mặt Lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi vô cùng xúc động và trân trọng ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước đã đóng góp xứng đáng công sức của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giai đoạn vừa qua.

Vui mừng trước những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, chúng ta cũng thừa nhận còn nhiều hạn chế khuyết điểm chưa thể làm được hay làm tốt hơn được.

Kinh tế đất nước mặt dù tăng trưởng cao trong nhiều năm trở lại đây, quy mô kinh tế giờ đây đã nhóm 4 nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, song chúng ta vẫn còn ở nước có thu nhập trung bình, chúng ta vẫn phải nỗ lực rất nhiều để sớm hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường vào năm 2045 - sánh vai với các nước phát triển như Bác Hồ mong ước.

Nhà nước đã đầu tư đáng kể vào kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, trong khi ở nhiều nơi, các dự án đầu tư vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội mong muốn. Kết quả thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu, cấp bách đổi với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây duyên hải Miền Trung chuyển biến chậm.

So với sự phát triển của cả nước và ở từng địa phương, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, nhất là ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo, nguy cơ tái nghèo còn cao, khoảng cách thu nhập so với cả nước ngày càng dãn cách. Kỹ năng lao động của người dân tộc thiểu số còn thấp, khiến cho cơ hội việc làm hạn chế và thu nhập chậm được cải thiện.

Hiện tượng di cư tự do, vấn nạn tàng trữ, buôn bán, sử dụng chất ma túy ở một số thôn bản còn diễn ra phức tạp; tình hình an ninh trật tự ở các tuyến biên giới, cửa khẩu có nhiều thách thức; bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một, trong khi nhiều hủ tục lạc hậu chậm được khắc phục, nhất là vấn nạn tảo hôn và tình trạng hôn nhân cận huyết làm suy kiệt nòi giống.

Kính thưa toàn thể Đại hội, thưa đồng bào, đồng chí!

Cộng đồng các dân tộc thiểu số là một bộ phận không thể tách rời và là “máu-thịt” của dân tộc Việt Nam, “no đói có nhau, sướng khổ cùng nhau”. Đầu tư phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư phát triển bền vững đất nước, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội là yếu tố có tính nền tảng để đảm bảo đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong không khí long trọng, trang nghiêm của Đại hội, chúng ta thành kính tưởng nhớ công lao trời biển của Bác Hồ muôn vàn kính yêu, cùng nhau nhắc nhớ lời căn dặn thiêng liêng của Người: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Jrai hay Ê đê, Xơ đăng hay Ba na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau... chúng ta phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt”.

Trong hệ thống quan điểm hướng đến đồng bào các dân tộc anh em mà Bác đã dặn, có hai điều quan trọng nhất mà chúng ta không được phép quên, đó là: "Đoàn kết các dân tộc và nâng cao thực chất đời sống của đồng bào".

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị thời gian tới, các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến cơ sở cần tập trung thực hiện thật tốt các nội dung sau:

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền từ Trung ương đến các địa phương, cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có trách nhiệm tiếp tục phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện hiệu quả Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới. Trên cơ sở đó xây dựng chương trình hành động, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện. Nỗ lực cao nhất để giải quyết căn bản những vấn đề bức thiết đặt ra trong thực tiễn, tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và đời sống của người dân, thực hiện phương châm hành động “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy, hành động quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao nhất, thực hiện thắng lợi Nghị quyết 88/2019/QH14 và Nghị quyết 120/2020/QH14 của Quốc hội khóa 14 và Quyết định số 1409/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Chính quyền các địa phương cần phát huy tính năng động, sáng tạo, trên cơ sở các tiềm năng, lợi thế của địa phương, tập trung nỗ lực và nguồn lực để sớm cụ thể hóa tinh thần Kết luận 65 của Bộ Chính trị, Nghị quyết 120 của Quốc hội và Quyết định 1409 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó mệnh lệnh là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo nhanh, bền vững và tránh tái nghèo; các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cần tập trung khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với mặt bằng chung cả nước; quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, liên vùng, kết nối với các vùng phát triển; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, gần dân hơn, hiểu dân hơn, trọng dân hơn và hết mực phụng sự dân; tăng cường giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh biên giới quốc gia.

Ba là, tôi mong muốn đồng bào dân tộc thiểu số của chúng ta dù khó khăn vất vả đến đâu cũng phải ưu tiên thời gian và tiền của, tạo mọi điều kiện để cho con em chúng ta được đến trường, được vui chơi, được học hành đến nơi, đến chốn. Chỉ có giáo dục mới là con đường duy nhất đưa bản làng, quê hương, đất nước chúng ta phát triển giàu mạnh được. Trong tương lai, ngày mai tươi sáng phụ thuộc vào những gì chúng ta chuẩn bị trong ngày hôm nay. Chúng ta hãy cùng vun đắp khát vọng vượt khó vươn lên, phấn đấu làm giàu chính đáng, ngay trên mảnh đất quê hương mình.

Hãy cùng nhau giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc (về tiếng nói, chữ viết, dân ca, dân vũ, dân nhạc...), đồng thời cần kiên quyết bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết. Hãy tìm cách chuyển hóa các di sản và bản sắc dân tộc đó trở thành một nguồn lực, một thứ tài nguyên cho sự phát triển bền vững. Hãy truyền dạy cho con cháu muôn đời về lòng yêu nước của cha ông ta, về tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; về đức tính cần cù, chịu khó, thật thà, tốt bụng; về ý chí dấn thân vì cộng đồng, đất nước; hãy khơi gợi tinh thần và khát vọng về một Việt Nam hùng cường 2045 trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Bốn là, rừng là lá phổi của chúng ta. Với đồng bào dân tộc thiểu số, rừng trước tiên còn là tấm áo giáp bảo vệ an toàn khỏi thiên tai, lũ lụt, sạt lở. Rừng cũng là sinh kế của đồng bào. Vì thế, đã đến lúc đồng bào dân tộc thiểu số phải giữ rừng như chính sinh mạng của mình. Cùng nhau lên án và chặn đứng tệ nạn khai thác, chặt phá rừng trái phép. Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu để ban hành cơ chế, chính sách phù hợp hơn với thực tế; từng bước để đồng bào tăng thu nhập, đảm bảo lợi ích nhiều mặt từ bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ lá phổi xanh cho đất nước, chống thiên tai và biến đổi khí hậu.

Năm là, chúng ta phải cùng nhau xây dựng, vun đắp cho tinh thần đại đoàn kết các dân tộc trường tồn mãi mãi. Như Bác Hồ kính yêu từng dạy: "Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng phải đoàn kết hơn nữa.” Đại đoàn kết là cội nguồn sức mạnh, là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được bao thế hệ cha anh bền bỉ xây dựng, vun đắp, bằng mồ hôi, công sức; bằng sự nhọc nhằn, hy sinh; bằng ý chí, sức mạnh và niềm tin của lòng dân. Bởi vậy, tôi rất kỳ vọng 1.600 đại biểu ưu tú của 54 dân tộc anh em, từ mọi miền của đất nước hội tụ về Đại hội hôm nay sẽ lan tỏa tinh thần Đại đoàn kết các dân tộc lên tầm cao mới; truyền cảm hứng, kết nối đồng bào các dân tộc thiểu số cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, đồng lòng chung sức, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước ta phát triển cường thịnh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Kính thưa toàn thể Đại hội, thưa đồng bào, đồng chí!

Từ diễn đàn Đại hội hôm nay, chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sắp tới, sẽ đánh giá đúng đắn thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử đã đạt được, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm rút ra của khóa XII. Đồng thời đề ra được chủ trương, quyết sách lớn, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh truyền thống với bản sắc văn hóa của các dân tộc với sức mạnh của thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

Xin chúc các vị đại biểu, đồng bào, đồng chí mạnh khỏe; Chúc Đại hội của chúng ta thành công tốt đẹp; Chúc khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam ta ngày càng vững mạnh. Cơ đồ đất nước, vinh quang tổ quốc đời đời thuộc về cộng đồng các dân tộc Việt Nam ta.

Xin trân trọng cảm ơn!

TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Lào Cai khẩn trương khắc phục hậu quả nặng nề của mưa đá

Lào Cai khẩn trương khắc phục hậu quả nặng nề của mưa đá

Trận mưa đá xảy ra vào rạng sáng 16/4 đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho các địa phương của tỉnh Lào Cai. Ngay sau khi thiên tai xảy ra, cấp ủy, chính quyền địa phương đã khẩn trương huy động lực lượng khắc phục hậu quả, giúp bà con nhanh chóng ổn định cuộc sống.

Ươm mầm xanh từ 'Đại hội không hoa'

Ươm mầm xanh từ 'Đại hội không hoa'

Tháng 7/2025, Đại hội lần thứ Nhất, Đảng bộ xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi nhiệm kỳ 2025 - 2030 đã diễn ra với tinh thần không nhận hoa chúc mừng, mà chỉ nhận hiện vật, kinh phí để thực hiện chương trình “Ươm mầm tương lai - Phát triển cây trồng bền vững Tu Mơ Rông”.

Nhiều nghi lễ đặc sắc trong ngày Lơng Săk

Nhiều nghi lễ đặc sắc trong ngày Lơng Săk

Lơng Săk là ngày cuối của Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer Nam Bộ, diễn ra vào ngày 16/4 dương lịch, đánh dấu thời điểm khép lại lễ hội. Trong ngày này diễn ra nhiều nghi thức tín ngưỡng như tắm tượng Phật, cầu siêu, chúc thọ cùng các hoạt động văn hóa tại gia đình, qua đó thể hiện đậm nét đời sống tâm linh và tinh thần đoàn kết của cộng đồng người Khmer.

Tuyên truyền sát dân, giữ rừng an toàn trong mùa nắng nóng

Tuyên truyền sát dân, giữ rừng an toàn trong mùa nắng nóng

Trước diễn biến thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, nguy cơ cháy rừng luôn ở mức cao, tỉnh Tuyên Quang đang triển khai đồng bộ các giải pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; trong đó, công tác tuyên truyền được xác định là giải pháp trọng tâm, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân trong bảo vệ rừng.

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Để đảm bảo cây giống cung cấp cho các địa phương trồng rừng năm 2026, Trung tâm Phát triển Nông, lâm, nghiệp và Thủy sản Khu vực Hòa Bình đã chủ động chuẩn bị 5 giống cây keo lai, bạch đàn nuôi cấy mô và một số loại cây như dổi ăn hạt, trám đen ghép là những loại cây bản địa phát triển, phân bố tự nhiên tại địa phương, phù hợp với đất đai, khí hậu và gần gũi với cuộc sống người dân.

Mưa đá khiến 4 người bị thương tại xã Bắc Hà, Lào Cai

Mưa đá khiến 4 người bị thương tại xã Bắc Hà, Lào Cai

Rạng sáng ngày 16/4, một trận mưa đá lớn trên diện rộng đã bất ngờ trút xuống xã Bắc Hà, tỉnh Lào Cai khiến 4 người bị thương và làm hư hại nhà cửa, hoa màu của người dân. Chính quyền địa phương đang khẩn trương rà soát, hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả.

Đổi mới cách tiếp cận, tiếp sức cho học sinh Xơ Đăng đến trường

Đổi mới cách tiếp cận, tiếp sức cho học sinh Xơ Đăng đến trường

Với quyết tâm không để học sinh nào bị bỏ lại phía sau, xã Tu Mơ Rông (Quảng Ngãi) đang triển khai hiệu quả Diễn đàn “Lắng nghe con nói - Đồng hành cùng con đến trường”. Đây là một hướng đi mới, đầy nhân văn nhằm kéo giảm tình trạng học sinh dân tộc thiểu số nghỉ học, đồng thời thắt chặt sợi dây liên kết giữa gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương.

Rộn ràng thu hoạch nông sản dịp Tết Chôl Chnăm Thmây

Rộn ràng thu hoạch nông sản dịp Tết Chôl Chnăm Thmây

Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer năm nay diễn ra trong 3 ngày (từ 14 - 16/4/2026). Thời điểm này, nhiều loại nông sản vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Trên các cánh đồng ở xã Long Hiệp (tỉnh Vĩnh Long), bà con Khmer vẫn tất bật ra đồng, tranh thủ từng ngày công để kịp thu hoạch hoàn tất trước ngày lễ chính (16/4), vừa đảm bảo sản xuất, vừa đón Tết trọn vẹn.

Chủ động 'lá chắn học đường' trước nguy cơ dịch bệnh

Chủ động 'lá chắn học đường' trước nguy cơ dịch bệnh

Nắng nóng kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại bệnh truyền nhiễm phát sinh, lây lan nhanh trong cộng đồng. Đáng chú ý, các ca mắc chủ yếu tập trung tại trường học, đặc biệt ở bậc mầm non, tiểu học nơi trẻ có sức đề kháng còn hạn chế, thường xuyên tiếp xúc gần. Trước thực tế này, ngành y tế và ngành giáo dục tỉnh Đắk Lắk đồng loạt triển khai nhiều giải pháp nhằm kiểm soát nguồn lây, bảo vệ sức khỏe học sinh.

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Nghi thức đón chư thiên Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer

Ngày đầu tiên của Tết Chôl Chnăm Thmây là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo quy tắc chiêm tinh cổ. Diễu hành Maha Sangkrant đánh dấu sự thay đổi vị thần cai quản, thể hiện quan niệm dân gian về sự luân phiên vai trò giữa bảy nữ thần là con gái của Đại Phạm Thiên.

Nông sản Quảng Trị hoàn thiện 'tấm vé' xuất khẩu

Nông sản Quảng Trị hoàn thiện 'tấm vé' xuất khẩu

Tại Quảng Trị, việc cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu bền vững cho nông sản địa phương. Đây được xem là “giấy thông hành” quan trọng, giúp nông sản Quảng Trị vươn ra thị trường quốc tế, khẳng định chất lượng và thương hiệu.

Xuyên vùng lõi đại ngàn Pù Huống vào thượng nguồn Khe Cố

Xuyên vùng lõi đại ngàn Pù Huống vào thượng nguồn Khe Cố

Giữa trùng điệp núi rừng miền Tây Nghệ An, nơi những cánh rừng nguyên sinh còn nguyên vẻ hoang sơ hiếm có, thác Cành Lình hiện lên như một biểu tượng hùng vĩ. Không chỉ là điểm đến của những người đam mê khám phá, nơi đây còn là “mạch sống” của cả một thung lũng rộng lớn dưới chân núi Pù Huột, đồng thời góp phần duy trì sự cân bằng sinh thái của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống - một trong những vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.

Phát huy hiệu quả chính sách dân tộc, nâng cao đời sống đồng bào Khmer

Phát huy hiệu quả chính sách dân tộc, nâng cao đời sống đồng bào Khmer

Trong những năm qua, tỉnh An Giang đã triển khai hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương.