Đồng bào Khmer tỉnh Cà Mau có trên 32.000 hộ với gần 140.000 nhân khẩu, chiếm gần 6,5% dân số, đời sống người dân ngày càng có bước phát triển rõ nét. Họ an tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Tại ấp Sóc Đồn, xã Hưng Hội, nơi có trên 700 hộ gia đình, trong đó hơn 70% là đồng bào Khmer. Những năm qua, nhờ thụ hưởng các chính sách đặc thù dành cho vùng đồng bào dân tộc Khmer, cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh và sản xuất ở ấp Sóc Đồn được đầu tư khá hoàn chỉnh, diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc.
Ông Thách Son, ấp Sóc Đồn chia sẻ: Gia đình ông được tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng nông nghiệp để đầu tư mô hình sản xuất. Ngoài trông lúa, ông xây dựng và phát triển mô hình vườn, ao, chuồng. Đất vườn, ông trồng các loại rau, thu nhập mỗi ngày không chỉ giúp gia đình đủ trang trải cuộc sống, tích lũy, phát triển mô hình chăn nuôi lợn, nuôi cá nước ngọt. Với mô hình sản xuất cây – con tổng hợp cùng với sản xuất lúa 2 vụ, gia đình ông thu được lợi nhuận trên 300 triệu đồng/năm. Cuộc sống gia đình ngày càng khá giả, dựng được nhà khang trang, mua sắm đầy đủ các vật dụng. Ông và bà con Khmer trong ấp đều rất phấn khởi trước sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước. Ông mong Nhà nước sẽ tiếp tục có thêm nhiều chính sách ưu đãi cho vùng đồng bào dân tộc, giúp bà còn phát triển kinh tế gia đình, để đời sống ngày càng khấm khá hơn.
Đồng bào Khmer ấp Sóc Đồn, xã Hưng Hội, tỉnh Cà Mau sử dụng cơ giới hóa trong thu hoạch lúa đông xuân 2026.
Không riêng Hưng Hội, đời sống của đồng bào người Khmer ở những địa phương khác cũng ngày càng được cải thiện. Xã Vĩnh Phước có hơn 600 hộ dân tộc Khmer sinh sống. Cấp ủy, chính quyền địa phương xã thường xuyên gặp gỡ, thăm hỏi chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và kịp thời phối hợp giải quyết những vướng mắc từ cơ sở. Thông qua các buổi sinh hoạt cộng đồng, diễn đàn lắng nghe ý kiến nhân dân, công tác tuyên truyền, vận động đã được triển khai linh hoạt, giúp đồng bào hiểu rõ về chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Từng là hộ có hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhờ được thụ hưởng từ các chương trình, chính sách cộng với nỗ lực cá nhân, đến nay gia đình ông Danh Trường ở ấp Bình Lễ, xã Vĩnh Phước đã ổn định. Ông Trường chia sẻ, gia đình sống chủ yếu dựa vào 5 công ruộng và nghề dặm lúa mướn. Thu nhập bấp bên lại phải nuôi 3 con đang tuổi ăn tuổi lớn nên cuộc sống cứ thiếu trước, hụt sau. Năm 2020, căn nhà lá của gia đình bị dông lốc làm đổ sập, chính quyền địa phương hỗ trợ xây dựng cho gia đình ông căn nhà tình thương, tạo điều kiện tiếp cận vốn vay ưu đãi đầu tư phát triển sản xuất thông qua mô hình nuôi chồn hương và gà vịt, lợi nhuận hàng năm trên 100 triệu đồng. Nhờ sự trợ lực kịp thời của chính quyền địa phương, cuộc sống gia đình ông đã bớt khó khăn, từng bước vươn lên.
Ông Trần Hoàng Lĩnh, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã Vĩnh Phước thông tin, đồng bào Khmer ở xã chiếm 7,11% dân số. Nhờ triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc nên số hộ nghèo đồng bào dân tộc Khmer trong xã giảm nhanh; hộ khá, giàu ngày càng tăng, nhiều hộ còn trở thành tấm gương sáng trong lao động sản xuất và tích cực tham gia các phong trào do địa phương phát động. Toàn xã còn 14 hộ nghèo và 11 hộ cận nghèo là hộ dân tộc Khmer. Xã Vĩnh Phước đang từng bước khẳng định hiệu quả trong công tác dân tộc, góp phần xây dựng một cộng đồng đoàn kết- phát triển, xây dựng quê hương Vĩnh Phước ngày càng đổi mới.
Nông dân Khmer phường Vĩnh Trạch, tỉnh Cà Mau chăm sóc rau màu trong mùa nắng nóng.
Ông Nguyễn Nhân Đức, Chủ tịch UBND xã Hồng Dân chia sẻ: Không chỉ đời sống ngày càng nâng lên, điều đáng phấn khởi là tư duy phát triển kinh tế gia đình của đồng bào đã chuyến biến tích tích cự. Bà con mạnh dạng ứng dựng kỹ thuật mới; thay đổi giống cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện đất đai, nhu cầu thị trường. Địa phương mở lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, hỗ trợ con giống, tạo điều kiện tiếp cận các nguồn vay ưu đãi….
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Ngô Vũ Thăng nêu rõ, tỉnh đã phê duyệt Đề án hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình chính sách khó khăn và hộ dân tộc thiểu số giai đoạn 2025 – 2027 với kinh phí hơn 622 tỷ đồng nhằm hỗ trợ 4.031 hộ nghèo, 6.574 hộ cận nghèo và 1.544 hộ gia đình chính sách khó khăn, trong đó hơn 1.200 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số. Các hình thức hỗ trợ gồm: cung cấp giống, thức ăn chăn nuôi, kỹ thuật sản xuất; đào tạo nghề, giải quyết việc làm; hỗ trợ công cụ, phương tiện sản xuất; đất sản xuất và vốn sản xuất, kinh doanh. Tỉnh phấn đấu đến hết năm 2027, ít nhất 70% hộ nghèo, cận nghèo và hộ dân tộc thiểu số được hỗ trợ thoát nghèo bền vững.
Đồng bào Khmer sử dựng cơ giới trong cải tạo đất trồng rau màu.
UBND tỉnh Cà Mau giao sở Dân tộc và Tôn giáo, tập trung triển khai đồng bộ, hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng cường phối hợp với cơ quan, đơn vị liên quan thực hiện tốt nội dung thuộc lĩnh vực được phân công trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, bảo đảm đúng đối tượng, đúng mục tiêu, chất lượng, tiến độ, kịp thời đến người thụ hưởng, góp phần ổn định và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn