Xuân mới đang về trên những bản làng vùng cao tỉnh Tuyên Quang. Khi sắc đào rừng bắt đầu bung nở, hơi ấm mùa Xuân lan tỏa trong từng nếp nhà, niềm vui cũng theo đó nhân lên từ những đổi thay rõ rệt. Đó là những mái nhà mới kiên cố thay thế nhà tạm, nhà dột nát, những vật nuôi sinh kế được trao tận tay hộ nghèo, cận nghèo.
An cư - nền tảng vững chắc cho mùa Xuân đủ đầy
Những ngày cuối năm, căn nhà mới của gia đình chị Thạch Thị Lan, sinh năm 1972, dân tộc Pà Thẻn, thôn Khuôn Điển, xã Tân Trào (Tuyên Quang) rộn ràng hơn hẳn. Chị là một trong số 6 hộ dân của thôn được hỗ trợ xây dựng nhà ở theo Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát năm 2025. Nhìn ngôi nhà khang trang, ít ai nghĩ rằng chỉ cách đây chưa lâu, gia đình chị vẫn phải sinh sống trong căn nhà gỗ cũ, chật hẹp, xuống cấp nghiêm trọng.
Chị Thạch Thị Lan chia sẻ, tháng 4/2025, với nguồn hỗ trợ 60 triệu đồng từ Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát, gia đình vay thêm 100 triệu đồng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để xây nhà mới. Sau hơn 3 tháng thi công, đến đầu tháng 7/2025, căn nhà được hoàn thiện, giúp gia đình 6 nhân khẩu ổn định nơi ở, yên tâm lao động sản xuất.
“Có nhà mới rồi, mình không còn lo mưa gió, sạt lở như trước. Tết này gia đình đón Xuân trong căn nhà khang trang, ấm cúng hơn rất nhiều”, chị Lan cho hay.
Cùng chung niềm vui an cư, gia đình anh Dương Hải Nam, sinh năm 1986, dân tộc Dao, thôn Khuôn Điển, xã Tân Trào (Tuyên Quang) cũng vừa hoàn thiện căn nhà mới để kịp đón Tết Nguyên đán. Trước đây, gia đình anh sống trong căn nhà gỗ ẩm thấp, mục nát theo thời gian. Mặc dù mong muốn xây nhà từ lâu, nhưng do điều kiện kinh tế hạn hẹp nên chưa thể thực hiện.
"Thời điểm xây dựng nhà, anh cũng gặp nhiều khó khăn vì giá vật liệu tăng cao, phải vay mượn thêm mới hoàn thiện được. Bây giờ có được căn nhà mới, đón Tết trong không gian kiên cố, sạch sẽ, gia đình rất phấn khởi. Đây cũng là động lực để chúng tôi tiếp tục cố gắng làm ăn, ổn định cuộc sống lâu dài', anh Nam chia sẻ.
Thôn Khuôn Điển hiện có 99 hộ dân; trong đó trên 90% là đồng bào dân tộc Dao, Tày. Những năm gần đây, ngoài tích cực sản xuất tại địa phương, người dân còn tham gia lao động tại các khu, cụm công nghiệp nên đời sống ngày càng cải thiện. Toàn thôn hiện chỉ còn 2 hộ nghèo.
Theo ông Hoàng Cao Khải, Chủ tịch Ủy ban MTTQ xã Tân Trào (Tuyên Quang), địa phương đã đẩy mạnh vận động nhân dân hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung tay xóa nhà ở tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo”, góp phần hoàn thành Đề án xóa nhà ở tạm, dột nát cho hộ nghèo trên địa bàn xã. Năm 2025, toàn xã đã huy động khoảng 450 ngày công từ các tổ chức chính trị, xã hội hỗ trợ tháo dỡ, san gạt mặt bằng để làm mới 17 nhà ngôi cho hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn. Việc xóa nhà tạm không chỉ giúp người dân có chỗ ở an toàn, ổn định mà còn tạo nền tảng yên tâm lao động, sản xuất, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Trao “cần câu” sinh kế
Dịp cuối năm 2025, nhiều hộ dân tại xã Yên Sơn (Tuyên Quang) phấn khởi khi được hỗ trợ bò sinh sản từ Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững.
Gia đình ông Hà Trung Dũng, dân tộc Dao, thôn Nhùng Dàm, xã Yên Sơn (Tuyên Quang) là một trong những hộ dân được thụ hưởng từ chương trình. Gia đình ông thuộc diện hộ cận nghèo, với 5 nhân khẩu, diện tích ruộng ít, vườn đồi cũng không nhiều, chủ yếu dựa vào làm thuê trong và ngoài thôn. Tháng 11/2025, gia đình ông được nhận bò sinh sản. Chỉ sau ít ngày chăm sóc, bò đã cho bê, mở ra hy vọng về nguồn thu nhập ổn định trong tương lai.
Ông Dũng hồ hởi cho biết: “Cảm ơn Đảng và Nhà nước đã quan tâm, tạo điều kiện cho người dân có "cần câu" để thoát nghèo. Bò được trao đều là con giống khỏe mạnh, được tiêm phòng đầy đủ nên gia đình rất yên tâm. Có bò rồi, chúng tôi càng có thêm động lực chăm chỉ làm ăn, từng bước phát triển kinh tế”.
Theo Trưởng thôn Nhùng Dàm Hà Thế Vững, thôn có 7 hộ được hỗ trợ tổng số 14 con bò, đến nay đã phát triển lên 16 con. Không khí phấn khởi lan tỏa khắp thôn khi bà con tin tưởng rằng, từ những con bò giống hôm nay sẽ hình thành đàn bò sinh sản, tạo sinh kế lâu dài, bền vững.
Còn tại thôn 4, xã Yên Sơn (Tuyên Quang), gia đình ông Nịnh Văn Bộ là một trong 5 hộ được hỗ trợ bò sinh sản dịp cuối năm 2025. Ông Bộ chia sẻ: “Gia đình tôi rất vui mừng khi được hỗ trợ bò. Tôi xác định đây là tài sản quý nên sẽ chăm sóc theo đúng hướng dẫn của cán bộ thú y để bò sinh sản, phát triển đàn, từ đó có thêm thu nhập, cải thiện cuộc sống”.
Sau khi nhận bò, các hộ dân được cán bộ Trạm Thú y khu vực 1 tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh, làm chuồng trại, vệ sinh thú y. Con giống do Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao Tiến Thành chăm sóc, tuyển chọn kỹ lưỡng, tiêm phòng đầy đủ; các hộ dân được kiểm tra, lựa chọn trước khi nhận vật nuôi, bảo đảm phù hợp với điều kiện chăn nuôi tại địa phương.
Ông Lê Văn Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Yên Sơn (Tuyên Quang) cho hay, hoạt động hỗ trợ bò sinh sản nằm trong Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cộng đồng thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2025. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục đồng hành, giám sát, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, phòng bệnh cho các hộ dân; đồng thời đề xuất thêm các mô hình sinh kế hiệu quả, phù hợp điều kiện thực tế.
Tết Nguyên đán đang đến gần, mang theo niềm tin và hy vọng mới. Những mái nhà kiên cố, những con bò sinh sản khỏe mạnh không chỉ là giá trị vật chất, mà còn là điểm tựa tinh thần để người dân vùng cao Tuyên Quang yên tâm an cư, lập nghiệp. Trong sắc Xuân lan tỏa khắp bản làng, niềm tin vào cuộc sống ấm no, đủ đầy hơn đang ngày càng được củng cố, khẳng định tính nhân văn và hiệu quả từ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số./.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Pà Hưng.
Tên gọi khác: Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Ðỏ, Bát tiên tộc...
Dân số: 6.811 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc ngữ hệ Hmông-Dao.
Lịch sử: Theo truyền thuyết, người Pà Thẻn ở vùng Than Lô (Trung Quốc) đến Việt Nam cách đây khoảng 200-300 năm với câu chuyện vượt biển cùng người Dao.
Hoạt động sản xuất: Trước kia người Pà Thẻn sống chủ yếu bằng nương rẫy. Phương thức canh tác là phát đốt rồi chọc lỗ, tra hạt. Cây trồng gồm lúa, ngô và các loại rau, đậu, khoai sọ, khoai môn. Công cụ sản xuất là rìu, cuốc, dao. Do sản xuất phụ thuộc vào thiên nhiên, nhất là những lúc mất mùa, giáp hạt, người Pà Thẻn vẫn phải lên rừng đào củ mài, củ nâu... Vì thế hái lượm còn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế. Nghề dệt của họ có từ lâu đời, sản phẩm dệt được nhiều dân tộc xung quanh ưa thích. Ðàn ông thường đan lát, làm mộc. Người Pà Thẻn chăn nuôi các loại gia súc và gia cầm như: trâu, bò, dê, lợn, gà. Ngoài phục vụ nhu cầu sức kéo, chăn nuôi còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và lễ nghi tôn giáo.
Ăn: Người Pà Thẻn chủ yếu ăn cơm tẻ, ngày hai bữa chính, thích các món ăn luộc hay xào.
Mặc: Bộ trang phục của phụ nữ Pà Thẻn còn giữ được nhiều yếu tố riêng. Bộ trang phục của phụ nữ gồm: áo, váy, khăn trong và khăn ngoài, màu sắc rất sặc sỡ. Một số mô típ trang trí trên quần áo của họ cũng gần giống như của người Dao.
Ở: Hiện họ cư trú tại hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Tuỳ từng nơi, người Pà Thẻn quen ở nhà sàn, nhà nền đất hay nửa sàn nửa nền đất. Hiện nay nhiều nơi đồng bào đã dựng nhà cột kê khang trang, vững chãi.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là cách vận chuyển chính của người Pà Thẻn.
Quan hệ xã hội: Quan hệ xóm giềng giữ vai trò chủ đạo. Thôn xóm hoà thuận, các gia đình thường quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, đổi công cho nhau những lúc thời vụ hay những công việc cần lao động. Trong một bản của ngươi Pà Thẻn có nhiều dòng họ cùng cư trú, trong đó thường có một dòng họ lớn nhất. Người Pà Thẻn có 8 họ gốc và một số họ khác của ngươi Dao (Bàn, Triệu). Mỗi họ chia ra nhiều chi họ gắn với truyền thuyết riêng.
Cưới xin: Gia đình một vợ một chồng bền vững. Việc lấy nhau giữa những người cùng họ bị nghiêm cấm ngặt. Rất hiếm các trường hợp người chồng lấy vợ hai, vợ chồng ít khi ly dị. Việc ngoại tình bị xã hội lên án. Từ khi dạm hỏi cho đến lễ cưới phải qua nhiều nghi lễ. Có hai hình thức ở rể là ở rể tạm thời (tối đa 12 năm) và ở rể đời - sang ở hẳn bên nhà vợ, con mang họ mẹ.
Ma chay: Khi có người chết thì người nhà bắn ba phát súng báo hiệu, sau đó tiến hành khâm liệm. Lễ vật dùng cho đám ma do con đã có chồng đưa đến phúng viếng. Mỗi người viếng một con lợn khoảng 25 kg, nhà nghèo thì chỉ 7 con gà trống. Quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng. Trong quan tài có đổ gạo rang, phủ giấy bản rồi mới đóng chốt hạ huyệt.
Thờ cúng: Người Pà Thẻn tin vào sự tồn tại của các siêu linh, vạn vật có linh hồn. Ma quỷ, thần thánh gồm hai loại: lành dữ. Loại lành gồm các thần ở trên trời, tổ tiên, thổ địa...; loại ma dữ như ma sông, ma suối, ma của người chết bất đắc kỳ tử... chúng thường phá hoại mùa màng, làm hại gia súc.
Chủ yếu là thờ cúng tổ tiên trong nhà. Bàn thờ làm bằng tấm gỗ hình chữ U lộn ngược. Mặt bàn để một bát hương và một bát nước lã. Người Pà Thẻn có nhiều tín ngưỡng liên quan đến nông nghiệp như: cúng trước khi tra hạt, lễ cúng cơm mới. Truyền thuyết về sự xuất hiện của cây lúa là do 3 con vật: chó, mèo, lợn lấy trộm giống lúa trên trời về cho con người, nên khi cúng cơm mới phải cho 3 con vật trên ăn trước. Khi hạn hán lâu, dân bản làm lễ cầu mưa. Các nghi lễ liên quan đến chăn nuôi, săn bắn cũng được chú trọng.
Lễ tết: Người Pà Thẻn ăn tết nguyên đán và các tết như các dân tộc khác ở vùng Ðông Bắc.
Lịch: Vận dụng âm lịch trong sản xuất, đời sống.
Học: Nhiều người biết đọc, viết chữ Nôm Tày, Nùng.
Văn nghệ: Ðời sống văn nghệ phong phú như ca hát, thổi sáo và các trò chơi dân gian.
Theo cema.gov.vn