Tây Ninh là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, với cộng đồng dân cư đa dạng về dân tộc, tôn giáo. Bằng những chính sách thiết thực, đồng bộ, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào từng bước được nâng lên, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng quê hương ngày càng phát triển.
Chăm lo sinh kế, giáo dục và gìn giữ bản sắc
Toàn tỉnh hiện có 17 dân tộc thiểu số với gần 13.600 hộ, khoảng 36.000 người sinh sống từ khu vực biên giới đến nội địa. Đặc biệt, đồng bào các dân tộc là bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, có nhiều đóng góp tích cực vào xây dựng và bảo vệ quê hương.
Giai đoạn 2026-2030, Tây Ninh xác định có 17 ấp, khu phố tại 11 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhằm tạo điều kiện để đồng bào phát triển toàn diện, nhanh và bền vững, tỉnh tập trung triển khai Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, hướng tới cải thiện đời sống, nâng cao sinh kế và giảm nghèo bền vững.
Các chính sách tập trung vào giáo dục, đào tạo nghề, y tế, văn hóa, an sinh xã hội; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động là người dân tộc thiểu số. Tỉnh cũng chú trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào.
Tây Ninh phấn đấu đến năm 2030 giảm số hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn dưới 10 hộ; 100% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã có ấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới; 50% người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động được đào tạo nghề phù hợp, có thu nhập ổn định. Tỉnh đặt mục tiêu 100% xã, ấp vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đủ cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đời sống người dân. Đến năm 2045, tỉnh hướng tới cơ bản không còn hộ nghèo, người dân được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản.
Chăm lo đời sống đồng bào không chỉ dừng ở hỗ trợ trước mắt mà hướng tới tạo cơ hội để người dân tự vươn lên. Tây Ninh hiện có 74 trường trung học phổ thông và 21 cơ sở giáo dục nghề nghiệp; có 910 học sinh dân tộc thiểu số học trung học phổ thông và 23 học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và Trường Cao đẳng Sư phạm…
Niềm vui hiện rõ trên gương mặt những học sinh dân tộc thiểu số trong những ngày đầu năm học mới. Với em Náp Nam, học sinh lớp 6A2, niềm vui ấy càng đặc biệt khi lần đầu bước vào Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Tây Ninh. Là người dân tộc Khmer, những ngày đầu làm quen với môi trường học tập, sinh hoạt mới, em không tránh khỏi bỡ ngỡ. Tuy nhiên, sự quan tâm, động viên của thầy cô cùng tình cảm, sẻ chia của bạn bè đã giúp Náp Nam nhanh chóng hòa nhập, tự tin hơn trong học tập và cuộc sống nội trú. Từ mái trường này, em có thêm điều kiện học tập, rèn luyện, nuôi dưỡng ước mơ và viết tiếp hành trình tương lai.
Câu chuyện của Náp Nam cũng là hình ảnh cho thấy những chính sách chăm lo đồng bào dân tộc thiểu số đang được cụ thể hóa bằng những cơ hội thiết thực trong cuộc sống. Thực tế, từ những con đường vùng biên ngày càng khang trang, cơ hội học tập rộng mở đến sinh kế được quan tâm và bản sắc văn hóa được gìn giữ, đời sống đồng bào đang từng bước đổi thay. Qua đó, không chỉ diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng khởi sắc mà niềm tin, khát vọng vươn lên của thế hệ trẻ cũng được vun đắp, góp phần xây dựng Tây Ninh ngày càng phát triển.
Những người giữ nhịp đoàn kết nơi vùng biên
Tây Ninh hiện có 19 xã biên giới giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 369 km. Cùng với đầu tư hạ tầng, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, những năm qua, tỉnh chú trọng phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng. Đây là lực lượng góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với đồng bào, củng cố tinh thần đoàn kết và xây dựng cộng đồng ngày càng ổn định.
Tại xã Long Chữ, một trong 19 xã biên giới của tỉnh, ông Hà Duy Khuyền, 74 tuổi, người có uy tín trong đồng bào dân tộc Thái tại ấp Phước Trung là một trong những người tích cực góp sức xây dựng cộng đồng.
Ông Khuyền cho biết, gia đình ông cùng đồng bào dân tộc Thái bắt đầu di dân, sinh sống tại địa phương từ năm 1993. Được sự giúp đỡ của đồng bào người Kinh và chính quyền địa phương, cộng đồng từng bước ổn định cuộc sống, con em được tạo điều kiện đến trường, kinh tế gia đình ngày càng phát triển. Với vai trò người có uy tín, ông Khuyền gương mẫu giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Thái, từ tiếng nói, chữ viết, trang phục đến các điệu xòe Thái, khắp Thái. Ông phối hợp với cấp ủy, chính quyền tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước bằng cả tiếng phổ thông và tiếng Thái để bà con dễ hiểu, dễ thực hiện. Thông qua mô hình “Tăng cường gắn kết thân thiện, hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào dân tộc, tôn giáo”, ông thường xuyên gặp gỡ, vận động các hộ gia đình dân tộc, tín đồ tôn giáo sống hòa thuận; chia sẻ kinh nghiệm trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc và hỗ trợ ngày công cho những hộ khó khăn.
Ông còn “đi từng ngõ, gõ từng nhà” để nắm bắt tâm tư, tham gia hòa giải mâu thuẫn, góp phần giữ gìn bình yên khu dân cư. Đặc biệt, ông tích cực duy trì các đội múa xòe Thái, vận động các nhà hảo tâm hỗ trợ hơn 14,5 triệu đồng mua một bộ cồng chiêng phục vụ hoạt động văn hóa, văn nghệ của cộng đồng, góp phần gìn giữ và lan tỏa bản sắc văn hóa dân tộc. Công tác khuyến học, khuyến tài cũng được ông quan tâm vận động. Đến nay, hơn 80% thanh niên dân tộc Thái trong cộng đồng xã Long Chữ có trình độ học vấn, nghề nghiệp phù hợp và việc làm ổn định, tích cực tham gia sản xuất và nâng cao mức sống gia đình.
Tại ấp Chăm, xã Tân Thành, bà Thị A Mi Na, 67 tuổi, Chi hội phó Chi hội Người cao tuổi ấp Chăm, người có uy tín trong đồng bào Chăm, nhiều năm qua luôn là cầu nối giữa chính quyền và bà con. Từng là cán bộ hưu trí, được đồng bào tín nhiệm bầu là người có uy tín, bà tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động bà con phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và tham gia phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”.
Không chỉ vận động bằng lời nói, bà Mi Na đã hiến 120 m² đất để mở đường, tạo thuận lợi cho người dân đi lại. Những đóng góp bền bỉ của bà trong nhiều năm qua được tỉnh và địa phương ghi nhận. Từ những việc làm cụ thể của ông Khuyền, bà Mi Na có thể thấy vai trò quan trọng của người có uy tín trong kết nối cộng đồng, đưa chính sách vào cuộc sống; đồng thời khơi dậy tinh thần đoàn kết, tương trợ trong đồng bào dân tộc thiểu số.
Cùng với phát huy vai trò người có uy tín, Tây Ninh cho thấy sự hiệu quả khi triển khai nhiều chính sách thiết thực về giáo dục, y tế, bình đẳng giới và bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số. Theo UBND tỉnh Tây Ninh, các địa phương đang chú trọng xóa mù chữ, phổ cập giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; ưu tiên phụ nữ, trẻ em gái dân tộc thiểu số, bảo đảm tỷ lệ biết chữ cân bằng giữa nam và nữ. Chính sách cử tuyển đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số được thực hiện gắn với nhu cầu và khả năng bố trí việc làm tại địa phương. Việc dạy song hành tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số cũng được thực hiện phù hợp với nhu cầu, năng lực và năng khiếu của từng nhóm đối tượng. Đặc biệt, tỉnh ưu tiên giải quyết các vấn đề sức khỏe của đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm chính sách bảo hiểm y tế, nâng cấp hệ thống y tế và phát triển đội ngũ cán bộ y tế cơ sở. Công tác tuyên truyền về dân số, kế hoạch hóa gia đình, tiêm chủng, dinh dưỡng, an toàn vệ sinh thực phẩm và các vấn đề về hôn nhân, gia đình tiếp tục được chú trọng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn