Mở hướng thoát nghèo từ mô hình nuôi cấy mô thực vật

Tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán nhưng lựa chọn gắn bó với lĩnh vực nuôi cấy mô thực vật, anh La Minh Phúc, dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) đã từng bước xây dựng cơ sở nuôi cấy mô của riêng mình. Hành trình chuyển hướng nghề nghiệp của anh là câu chuyện về sự kiên trì, dám thử sức với lĩnh vực mới, góp phần quan trọng cung ứng giống cây trồng chất lượng cho địa phương.

la-minh-phuc100926.jpg
Lãnh đạo xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) thăm cơ sở nuôi cấy mô thực vật của anh La Minh Phúc, người dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê.

Anh La Minh Phúc, sinh năm 1990, người dân tộc Dao hiện làm chủ một vườn ươm nuôi cấy mô cây giống rộng hơn 60 m2.

Sau khi tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán, anh Phúc lại gắn bó với nghề nuôi cấy mô sau khi vào làm việc tại phòng nuôi cấy mô của Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy ở Phù Ninh (Phú Thọ). Công việc tại đây giúp anh có điều kiện tiếp cận trực tiếp với kỹ thuật nuôi cấy mô, từ pha chế môi trường, nhân giống trong ống nghiệm đến theo dõi đặc tính sinh trưởng của từng loại cây. Qua thời gian làm việc, anh dần tích lũy kinh nghiệm, nắm vững kỹ thuật nhân giống các loại cây lâm nghiệp như: bạch đàn, keo lai...

Sau gần 10 năm gắn bó với nghề, nhận thấy nhu cầu sử dụng cây giống ngày càng tăng, năm 2021, anh Phúc quyết định trở về quê đầu tư xây dựng cơ sở nuôi cấy mô.

la-minh-phuc2-100926.jpg
Lãnh đạo xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) khảo sát thực tế quy trình nhân giống keo lai mô của anh La Minh Phúc thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê.

Anh La Minh Phúc cho biết, dù đã có nhiều năm kinh nghiệm, nhưng việc xây dựng cơ sở sản xuất riêng vẫn đòi hỏi anh phải tự nghiên cứu, tính toán từng khâu và công đoạn. Thời gian đầu, anh đầu tư quy mô nhỏ, với mục đích chủ yếu để chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất của gia đình, số còn lại mới cung cấp ra thị trường. Khi nhu cầu tăng lên, anh mạnh dạn vay vốn đầu tư, hoàn thiện phòng nuôi cấy với các thiết bị như: hệ thống phòng cấy vô trùng, nồi hấp, cân phân tích, cân kỹ thuật, tủ bảo quản hóa chất... Để tiết giảm chi phí, anh chủ động cải tiến một số thiết bị, tận dụng ống nghiệm đã qua sử dụng; đồng thời tự xử lý, khử trùng trước khi đưa vào quy trình sản xuất.

Hiện cơ sở của anh chủ yếu sản xuất giống keo và bạch đàn. Nhờ tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật, cây giống có tỷ lệ sinh trưởng cao, chất lượng ổn định, được khách hàng tin tưởng lựa chọn. Hàng tháng cơ sở cung ứng ra thị trường hơn 70.000 cây giống, phục vụ nhu cầu của người dân trong tỉnh và một số địa phương lân cận.

la-minh-phuc3-100926.jpg
Lãnh đạo xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) thăm khu vực thực hành nuôi cấy keo lai mô tại cơ sở của anh La Minh Phúc, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê.

Ông Hà Hồng Quân, thôn Nhùng Dàm, xã Yên Sơn (Tuyên Quang) cho hay, ông đã mua cây giống của anh La Minh Phúc khoảng 2 năm nay. Cây giống khỏe, đồng đều, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng tốt sau khi trồng. Ông yên tâm bởi cây giống đúng chủng loại, có nguồn gốc rõ ràng. Đặc biệt trong quá trình sử dụng, anh Phúc còn hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc và tư vấn khi gia đình gặp khó khăn. Nhờ chất lượng cây giống, diện tích rừng trồng của gia đình phát triển tốt, giảm công trồng dặm và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Không chỉ mang lại nguồn thu khoảng 600 triệu đồng/năm, cơ sở nuôi cấy mô của anh La Minh Phúc còn tạo việc làm thường xuyên cho một số lao động địa phương với mức thu nhập từ 7 - 8 triệu đồng/tháng.

Gắn bó với cơ sở của anh Phúc hơn 3 năm, chị Hoàng Thị Hồng Thúy, thôn Tân Hồ, xã Nhữ Khê cho biết, trước đây chị làm công nhân tại tỉnh Vĩnh Phúc cũ, thu nhập không ổn định, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Từ khi làm việc tại cơ sở nuôi cấy mô, chị có thu nhập khoảng 7 triệu đồng/tháng, công việc ổn định, lại gần nhà nên có điều kiện chăm sóc gia đình.

Bên cạnh phát triển kinh tế gia đình và tạo việc làm cho lao động địa phương, anh Phúc còn thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ kỹ thuật cho những đoàn viên, thanh niên có nhu cầu phát triển kinh tế từ sản xuất cây giống.

la-minh-phuc4-100926.jpg
Cơ sở nuôi cấy mô thực vật của anh La Minh Phúc, dân tộc Dao, thôn Gò Chè, xã Nhữ Khê (Tuyên Quang) tạo việc làm thường xuyên cho lao động địa phương.

Đánh giá về mô hình, ông Trần Văn Tuyên, Phó Chủ tịch UBND xã Nhữ Khê chia sẻ: "Cơ sở nuôi cấy mô của anh La Minh Phúc là một trong những mô hình phát triển kinh tế hiệu quả trên địa bàn. Không chỉ mang lại thu nhập ổn định cho gia đình, mô hình còn tạo việc làm thường xuyên cho lao động địa phương, cung cấp nguồn cây giống chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng của người dân".

Ông Trần Văn Tuyên cho biết thêm, với kinh nghiệm thực tiễn và sự chủ động trong ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất, mô hình của anh Phúc là hướng phát triển phù hợp, thúc đẩy phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp tại địa phương.

Từ những kinh nghiệm tích lũy sau nhiều năm gắn bó với lĩnh vực nuôi cấy mô, anh La Minh Phúc đã từng bước xây dựng cơ sở sản xuất hiệu quả ngay trên quê hương mình. Hành trình của chàng thanh niên người dân tộc Dao ở thôn Gò Chè không chỉ góp phần tạo việc làm, cung cấp nguồn cây giống chất lượng cho người dân mà còn cho thấy tinh thần chủ động, sáng tạo của lớp thanh niên người dân tộc thiểu số trong thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương./.

Bài, ảnh: Hoàng Hải/TTXVN
Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Gỡ khó cho hành trình đến lớp ở Lượng Minh

Nằm cạnh khe suối, ở khu vực trũng thấp, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Lượng Minh, xã Lượng Minh, tỉnh Nghệ An thường xuyên đối mặt nguy cơ ngập lụt mỗi khi mưa lớn.

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Quảng Trị: Mưa lũ gây thiệt hại, nhiều bản làng bị cô lập

Chiều 10/10, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự tỉnh Quảng Trị cho biết, mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở nhiều tuyến giao thông, chia cắt một số bản làng tại các xã miền núi, đồng thời gây thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và công trình thủy lợi. Đặc biệt, một phụ nữ ở xã Dân Hóa bị nước lũ cuốn trôi, hiện các lực lượng chức năng đang khẩn trương tổ chức tìm kiếm.

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Quảng Trị: Mưa lũ diễn biến phức tạp, nhiều khu vực bị ngập

Ngày 10/10, mưa lớn kéo dài khiến tình hình lũ trên các sông ở tỉnh Quảng Trị tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiều ngầm tràn, tuyến đường bị ngập sâu, ảnh hưởng đến giao thông và đời sống người dân. Trước nguy cơ mất an toàn do mưa lũ, chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang tăng cường kiểm tra, cảnh báo, triển khai các biện pháp ứng phó nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, củng cố thế trận lòng dân miền núi

Ngày 9/10, tại bản Eo Bù - Chút Mút, xã Kim Ngân, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức chương trình “Thời sự về bản” quý III/2026, kết hợp tuyên truyền, chăm lo đời sống và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân địa phương.

Luyện đua ghe ngo mini mừng lễ Sen Đôn-ta

Luyện đua ghe ngo mini mừng lễ Sen Đôn-ta

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón lễ Sen Đôn-ta của đồng bào Khmer tại xã Hồ Thị Kỷ (tỉnh Cà Mau) càng thêm rộn ràng. Cùng với việc sửa sang nhà cửa, người dân còn háo hức tập luyện cho giải đua ghe ngo mini - nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer.

Lâm Đồng: Sạt lở kéo dài, 28 hộ dân thấp thỏm lo âu

Lâm Đồng: Sạt lở kéo dài, 28 hộ dân thấp thỏm lo âu

Gần 1 năm sau khi xảy ra sạt lở tại khu dân cư ven Quốc lộ 27 (đoạn thuộc thôn Lạc Xuân, xã D’ran, Lâm Đồng), hàng chục hộ dân vẫn thấp thỏm lo âu khi hiện tượng sạt trượt đất đá từ quả đồi cao hàng chục mét vẫn tiếp diễn, nhất là sau những trận mưa vừa qua.

Tiếp thêm động lực cho đồng bào Khmer nỗ lực vươn lên

Tiếp thêm động lực cho đồng bào Khmer nỗ lực vươn lên

Nhân dịp lễ Sene Dolta năm 2026 của đồng bào Khmer, các đoàn công tác của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau đã đến thăm, chúc mừng các vị chức sắc, sư sãi, người có uy tín và đồng bào tại nhiều địa phương trong tỉnh.

Khẩn trương khống chế dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Khẩn trương khống chế dịch bệnh viêm da nổi cục trên trâu, bò

Trước diễn biến dịch bệnh viêm da nổi cục trên đàn trâu, bò, tỉnh Tuyên Quang yêu cầu các địa phương nhanh chóng thực hiện các biện pháp phòng, chống, nhất là bố trí kinh phí mua vaccine phòng bệnh, tổ chức tiêm phòng cho đàn trâu, bò, bảo đảm tỷ lệ đạt hơn 80% tổng đàn theo quy định.

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Đưa quy định pháp luật đến gần hơn với bà con Chăm Islam

Để đồng bào Chăm Islam dễ hiểu và thực hiện đúng pháp luật, Ban Quản trị thánh đường tại phường Bình Tiên, TP Hồ Chí Minh lồng ghép những tình huống đời thường vào các buổi sinh hoạt tôn giáo. Qua cách trao đổi gần gũi, bà con biết nhận diện lừa đảo và phòng tránh vi phạm.

Động lực thay đổi diện mạo nông thôn

Động lực thay đổi diện mạo nông thôn

Tại Tuyên Quang, việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có vai trò quan trọng và là động lực cốt lõi để thay đổi diện mạo nông thôn.

Mở rộng nhịp cầu giao thương Việt - Trung

Mở rộng nhịp cầu giao thương Việt - Trung

Từ những sản phẩm chè Shan tuyết, dược liệu, nông sản chế biến đến các sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) mang đặc trưng miền núi, nhiều hàng hóa thế mạnh của Tuyên Quang đang đứng trước cơ hội tiếp cận rộng hơn với thị trường Trung Quốc.

Lâm Đồng: Huy động lực lượng bảo vệ hơn 1,1 triệu ha rừng

Lâm Đồng: Huy động lực lượng bảo vệ hơn 1,1 triệu ha rừng

Ngày 8/10, ông Lê Thanh Sơn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng cho biết đã chỉ đạo các đơn vị liên quan triển khai Quy chế phối hợp huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh và chủ động tăng cường công tác bảo vệ rừng.

Mưa lớn gây ngập, chia cắt nhiều khu dân cư ở Quảng Ngãi

Mưa lớn gây ngập, chia cắt nhiều khu dân cư ở Quảng Ngãi

Mưa lớn kéo dài khiến nhiều tuyến đường dẫn vào khu dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ngập sâu, giao thông gián đoạn, một số nơi chia cắt cục bộ. Trước tình hình trên, các địa phương đang huy động lực lượng, phương tiện khơi thông dòng chảy, kiểm soát giao thông và hỗ trợ người dân chủ động ứng phó.

Củng cố 'thế trận lòng dân' nơi biên cương

Củng cố 'thế trận lòng dân' nơi biên cương

Là địa bàn chiến lược nơi phên dậu Đông Bắc của Tổ quốc, thành phố Quảng Ninh vừa là "lá chắn" quốc phòng, an ninh, vừa là cực tăng trưởng kinh tế năng động. Đứng trước yêu cầu phát triển mới, thành phố xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; gắn liền với tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực quản trị và củng cố niềm tin nhân dân để tạo dựng "thế trận lòng dân" vững chắc.

Đảm bảo các công trình đáp ứng thực chất nhu cầu học tập của học sinh vùng biên

Đảm bảo các công trình đáp ứng thực chất nhu cầu học tập của học sinh vùng biên

Tại các trường phổ thông nội trú liên cấp vùng biên giới, một số hạng mục vẫn đang tiếp tục thi công, hoàn thiện trong khi các học sinh đã học tập, ăn ở tại trường. Trước tình hình đó, tỉnh Gia Lai yêu cầu khẩn trương xử lý những bất cập về nước sinh hoạt, vệ sinh, an toàn công trường và chất lượng công trình, không để quá trình thi công ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt của học sinh.