Từ cô bé vùng cao đến giấc mơ đại học
Giàng Thị Pà sinh năm 2001 tại thôn Cá Lủng, xã Phố Bảng, tỉnh Tuyên Quang. Lớn lên ở vùng cao còn nhiều khó khăn, em hiểu rằng cơ hội học tập không phải điều dễ dàng với nhiều học sinh cùng trang lứa.
Pà kể rằng khi còn nhỏ, em chưa từng nghĩ đến chuyện học đại học. Khi ấy, suy nghĩ đơn giản chỉ là cố gắng học thật tốt và đi được đến đâu hay đến đó. Bởi ở quê em, những người học lên đại học chưa nhiều và đó vẫn là một điều khá xa vời đối với nhiều đứa trẻ.
Tuy nhiên, trong gia đình Pà, việc học luôn được đặt ở vị trí đặc biệt. Bố là giáo viên, mẹ là cán bộ xã nhưng cả hai đều từng trải qua tuổi thơ nhiều thiếu thốn. Mẹ mồ côi từ nhỏ, còn gia đình bên nội đông anh em nên cuộc sống rất vất vả.
Điều khiến cô gái trẻ luôn khâm phục là nghị lực học tập của bố mẹ. Bố bắt đầu học lớp 1 khi đã 14 tuổi, còn mẹ theo học bổ túc từ năm 17 tuổi. Những câu chuyện ấy trở thành bài học sống động về giá trị của tri thức và sự kiên trì để em noi theo.
Lớn lên trong môi trường mà mọi người đều tin rằng học tập có thể mở ra tương lai tốt đẹp hơn, Pà dần hình thành niềm yêu thích với việc học. Một trong những dấu mốc đáng nhớ nhất là giải Nhì môn Tiếng Anh tại kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện năm 2013. Thành tích ấy giúp em nhận ra khả năng và niềm đam mê của mình với ngoại ngữ.
Bước chân vào giảng đường đại học, Pà lựa chọn ngành Quản trị dịch vụ Du lịch và Lữ hành. Khi đó, du lịch tại quê hương đang phát triển mạnh mẽ, ngày càng có nhiều du khách tìm đến khám phá cảnh sắc thiên nhiên và văn hóa bản địa. Mong muốn được góp phần quảng bá quê hương thôi thúc em theo đuổi ngành học này.
Không chỉ muốn hiểu về du lịch, Pà còn mong có thể giao tiếp và giới thiệu quê hương với bạn bè quốc tế. Vì vậy, sau khi hoàn thành một nửa chương trình học ngành Du lịch, em quyết định đăng ký học thêm ngành Ngôn ngữ Anh.
Để theo đuổi việc học, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân và sự động viên từ gia đình, Pà còn nhận được sự hỗ trợ từ các chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong thời gian học đại học, em được giảm 70% học phí theo chính sách của Nhà nước. Sự hỗ trợ này đã góp phần giảm bớt gánh nặng kinh tế cho gia đình, giúp em có thêm điều kiện để tập trung học tập và theo đuổi ước mơ giảng đường.
Những năm tháng đại học không hề dễ dàng. Từ một học sinh vùng cao bước vào môi trường mới, Pà từng cảm thấy mình thiếu hụt nhiều kỹ năng và kiến thức nền tảng so với bạn bè. Có những lúc tự ti vì thấy người khác năng động, tự tin hơn mình. Nhưng thay vì chùn bước, em chọn cách học hỏi nhiều hơn, chủ động hơn và kiên trì hoàn thiện bản thân từng ngày.
Nỗ lực ấy đã được đền đáp khi Pà hoàn thành chương trình đào tạo ở cả hai ngành Quản trị dịch vụ Du lịch và Lữ hành và Ngôn ngữ Anh. Trong đó, cô tốt nghiệp loại Giỏi ngành Du lịch và đạt danh hiệu Sinh viên 5 tốt cấp trường.
Mang tri thức về xây dựng quê hương
Không chỉ dành thời gian cho việc học, những năm tháng sinh viên của Pà còn gắn với nhiều hoạt động thiện nguyện.
Em tham gia Câu lạc bộ Hoa Đá, nơi hỗ trợ sinh viên khuyết tật và những hoàn cảnh khó khăn, đồng thời là thành viên tích cực của Câu lạc bộ Sinh viên Mông tình nguyện với nhiều chương trình hướng về đồng bào người Mông ở các địa phương vùng cao còn nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, Pà còn tự kết nối với bạn bè và các mạnh thường quân để quyên góp quần áo, sách vở, đồ dùng học tập và đồ chơi cho trẻ em vùng cao. Mỗi lần trở về quê, em lại mang theo những món quà nhỏ gửi đến các em học sinh khó khăn.
Những chuyến đi thiện nguyện giúp Pà hiểu hơn về cuộc sống của người dân vùng cao còn nhiều khó khăn và nhận ra rằng sự sẻ chia không nhất thiết phải bắt đầu từ những điều lớn lao. Đôi khi chỉ một lời động viên, một cuốn sách hay một bộ quần áo được trao đúng lúc cũng có thể mang lại niềm vui cho người nhận.
Sau khi tốt nghiệp, thay vì lựa chọn ở lại thành phố với nhiều cơ hội việc làm hơn, Pà quyết định trở về quê hương công tác. Với em, đó là cách để đóng góp cho nơi mình đã sinh ra và lớn lên.
Hiện nay, Giàng Thị Pà đang là giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh tại Trường THPT Yên Minh (Tuyên Quang). Được đứng trên bục giảng, truyền đạt kiến thức cho học sinh vùng cao cũng chính là cách để em thực hiện mong muốn gắn bó và cống hiến cho quê hương.
Là người từng trải qua những khó khăn của học sinh vùng cao, Pà hiểu rằng nhiều em nhỏ vẫn thiếu điều kiện tiếp cận với môi trường học tập chất lượng. Chính vì vậy, bên cạnh công việc chuyên môn, em còn tham gia giảng dạy tiếng Anh miễn phí cho học sinh vùng cao.
Khi nhận lời đồng hành cùng lớp học tiếng Anh trực tuyến miễn phí Pà không suy nghĩ quá nhiều. Điều thôi thúc để làm việc này đơn giản là mong muốn giúp các em có thêm cơ hội tiếp cận ngoại ngữ, có thêm sự tự tin và thêm động lực học tập.
Từ một cô bé người Mông lớn lên giữa vùng cao khó khăn đến cô giáo trẻ về đóng góp cho quê hương, hành trình của Giàng Thị Pà là minh chứng cho nghị lực vươn lên bằng con đường học tập. Câu chuyện của Pà còn truyền cảm hứng cho nhiều học sinh vùng cao nuôi dưỡng ước mơ kiên trì theo đuổi con chữ để mở ra những cơ hội mới cho tương lai.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn