Gìn giữ nét đẹp văn hóa ở chiến khu cách mạng Việt Hồng

Hàng năm, vào ngày 13-14/7 âm lịch, người dân xã Việt Hồng, tỉnh Lào Cai nô nức hội tụ về Đình Làng Dọc tham dự lễ hội truyền thống nhằm tưởng nhớ các bậc tiền nhân có công khai phá, lập làng, đồng thời gìn giữ, trao truyền giá trị văn hóa đặc sắc được vun đắp qua nhiều thế hệ.

Người dân nô nức tập trung về sân Đình Làng Dọc để vui hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Người dân nô nức tập trung về sân Đình Làng Dọc để vui hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Năm nay, vào 6 giờ ngày 25/8, thời tiết mát mẻ, khắp bản làng và trên các ngả đường, người dân nô nức đổ về khu vực Đình Làng Dọc để vui hội. Đồng bào Tày rạng rỡ trong bộ trang phục truyền thống đi chơi hội; các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức tạo nên không khí vui tươi, sôi nổi và háo hức của người dân.

Làng Dọc xưa có tên gọi là Bản Guộc hay Bản Lọc, theo tiếng Tày có nghĩa là “bản rừng rậm”. Đình Làng Dọc được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX (đời vua Khải Định triều Nguyễn và được vua ban sắc phong). Đình Làng Dọc ngoài thờ thần linh, Thành hoàng làng còn thờ ông tổ họ Phạm và sáu dòng họ khác có công khai khẩn ra vùng đất này từ thế kỷ XVIII.

dinh-lang-doc-3.jpg
Nghi lễ rước kiệu từ Đình trong ra Đình ngoài. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Lễ hội không chỉ mang ý nghĩa sâu sắc về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn khơi dậy tinh thần đoàn kết, thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Đình Làng Dọc có kiến trúc 5 gian, 2 chái, theo kiểu chữ “Đinh”. Gian trước được bố trí cung thờ; cửa chính nằm ở phía Đông. Qua thời gian, di tích đã được trùng tu, tôn tạo vào các năm 2009 và 2019, góp phần bảo tồn không gian sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của cộng đồng.

Phó Chủ tịch UBND xã Việt Hồng Đào Trọng Hai phát biểu khai mạc lễ hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Phó Chủ tịch UBND xã Việt Hồng Đào Trọng Hai phát biểu khai mạc lễ hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Ông Đào Trọng Hai, Phó Chủ tịch UBND xã Việt Hồng thông tin, Lễ hội được tổ chức đều đặn hai kỳ mỗi năm. Kỳ thứ nhất diễn ra vào tháng Giêng âm lịch, gọi là Lễ Hạ điền. Kỳ thứ hai được tổ chức vào tháng Bảy âm lịch, còn gọi là Lễ hội cầu Thần Nông. Lễ hội Đình làng Dọc mang đậm sắc thái văn hóa của người Kinh và người Tày cổ.

Nghi lễ rước kiệu từ Đình trong ra Đình ngoài. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Nghi lễ rước kiệu từ Đình trong ra Đình ngoài. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Lễ hội Đình Làng Dọc gồm phần lễ và phần hội với những nét đặc sắc riêng. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm, linh thiêng với sự kết hợp hài hòa giữa nghi thức tế lễ truyền thống của người Kinh và những điệu múa xòe then đặc trưng của người Tày. Phần lễ thành kính, trang nghiêm, ở phần hội lại diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, lưu giữ những phong tục, tập quán mang sắc thái văn hóa của cộng đồng người Kinh và người Tày.

Điểm đặc biệt của Lễ hội Đình Làng Dọc là sự kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng dân gian với sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trở thành nơi kết nối các thế hệ, củng cố tình làng nghĩa xóm và bồi đắp niềm tự hào về quê hương. Những năm gần đây, cùng với việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích, Lễ hội được địa phương chú trọng tổ chức theo hướng trang trọng, an toàn, tiết kiệm, phù hợp với đời sống văn hóa hiện nay và đang trở thành một nét đẹp tiêu biểu trong đời sống văn hóa của xã Việt Hồng. Việc bảo tồn và phát huy lễ hội gắn với bảo vệ di tích sẽ góp phần làm giàu bản sắc văn hóa địa phương, tạo thêm điểm nhấn để giới thiệu vùng đất, con người Việt Hồng đến du khách.

Ông Nguyễn Hồng Quang, bản Chao, xã Việt Hồng chia sẻ, với người Tày nơi đây, Lễ hội Đình Làng Dọc là lễ hội quan trọng, được chờ đợi nhất trong năm. Đây là dịp để đồng bào các dân tộc giao lưu, gặp gỡ anh, em, bạn bè, người thân.

​

Người dân nô nức tập trung về sân Đình Làng Dọc để vui hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Người dân nô nức tập trung về sân Đình Làng Dọc để vui hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Chị Phạm Thị Thu Huế, bản Vần, xã Việt Hồng nói, dù lấy chồng ở xa nhưng hàng năm chị đều dành thời gian để trở về với gia đình và dự Lễ hội Đình Làng Dọc, giúp chị cũng như các bạn trẻ nhớ về cội nguồn và thêm tự hào về quê hương cách mạng.

Cùng với các di tích lịch sử cấp quốc gia như nhà ông Trần Đình Khánh, Gốc Vải Đình Trung, Hang Dơi và điểm du lịch cộng đồng bản Vần, đình Làng Dọc trở thành địa điểm du lịch tâm linh thu hút du khách đến tham quan mỗi khi đặt chân đến mảnh đất chiến khu cách mạng Việt Hồng. Anh Đỗ Xuân Thắng, du khách đến từ tỉnh Phú Thọ chia sẻ, đây là lần đầu tiên đến với Việt Hồng, được hòa cùng với văn hóa ăn rằm Tháng Bảy của người Tày và tham gia lễ hội là một trải nghiệm đáng nhớ.

Trò chơi bịt mắt bắt vịt được tổ chức tại lễ hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Trò chơi bịt mắt bắt vịt được tổ chức tại lễ hội. Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN

Ông Hoàng Mạnh Hà, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Việt Hồng thông tin, Lễ hội Đình Làng Dọc giữ không chỉ góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc mà còn giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào quê hương cho thế hệ trẻ nhằm tưởng nhớ những người có công khai phá, dựng làng giúp thế hệ hôm nay hiểu hơn về lịch sử hình thành và nâng cao ý thức gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống. Thông quá đó, địa phương quảng bá hình ảnh Việt Hồng - vùng đất giàu truyền thống cách mạng trong quần thể Di tích lịch sử quốc gia Chiến khu Vần đến du khách gần xa./.

Tuấn Anh - Đinh Thùy/TTXVN
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Khám phá lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường tại Lào Cai

Sáng 22/10, Lễ hội đền Đôi Cô Cam Đường năm 2026 với chủ đề “Đền Đôi Cô Cam Đường - Kết nối cội nguồn, dựng xây quê hương” do phường Cam Đường, tỉnh Lào Cai tổ chức đã chính thức được khai hội thu hút đông đảo du khách thập phương đến chiêm bái. Lễ hội là sự kiện văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa, phát huy giá trị di tích, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và quảng bá hình ảnh phường Cam Đường đến với du khách trong và ngoài tỉnh.

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gìn giữ nghệ thuật múa dân gian của người Cống

Gắn với lao động sản xuất, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật múa dân gian của người Cống ở Điện Biên vừa lưu giữ những giá trị văn hóa đặc trưng, vừa phản ánh đời sống của một dân tộc rất ít người. Việc nghệ thuật múa của người Cống được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể mở thêm cơ hội bảo tồn, trao truyền các điệu múa truyền thống, nhất là cho thế hệ trẻ.

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Gìn giữ nét đẹp văn hóa Lễ Cơm mới đền Đông Cuông

Hằng năm, vào ngày Mão tháng Chín âm lịch, chính quyền và nhân dân xã Đông Cuông, tỉnh Lào Cai tổ chức Lễ hội Cơm mới đền Đông Cuông nhằm tổng kết một năm lao động, sản xuất, bày tỏ lòng tri ân với Mẫu Thượng Ngàn, các đấng thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Năm 2026, ngày Đinh Mão (11/9 âm lịch), tức ngày 20/10 dương lịch là ngày chính lễ với nhiều nghi thức truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa của người Tày Khao.

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Độc đáo lễ cúng hồn trâu của người Lự

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Lự năm 2026 với chủ đề “Sắc màu văn hóa dân tộc Lự”, UBND xã Khun Há (Lai Châu) tổ chức tái hiện lễ hội Sú Khon Khoài, với điểm nhấn là nghi thức cúng hồn trâu.

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Khai mạc Lễ hội Mường Lò năm 2026

Tối 16/10, tại tỉnh Lào Cai, Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026 với chủ đề “Tinh hoa Xòe Thái - Sắc màu Tây Bắc” được khai mạc, với điểm nhấn là màn biểu diễn đại Xòe có sự góp mặt của 2.026 người.

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Để bản sắc trở thành sức hút của điểm đến

Từ những sản phẩm dệt lanh qua đôi bàn tay phụ nữ dân tộc Mông, xã Lùng Tám (tỉnh Tuyên Quang) đang tìm hướng kết nối nghề truyền thống với hoạt động trải nghiệm, giới thiệu văn hóa và tiêu thụ sản phẩm.

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Đồi Cổ Thạch: Dấu tích xưa giữa miền biển bình yên

Nằm ở thôn Phú Hạnh, xã Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, đồi Cổ Thạch thu hút du khách bởi cảnh quan núi biển giao hòa, con đường đá được người dân truyền lại là có từ hàng trăm năm trước cùng rừng duối lâu năm.

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Về 'Ta lêu' nghe tâm tình người H’rê

Giữa núi rừng Ba Vì, tỉnh Quảng Ngãi, một quán cà phê mang tên “Ta lêu” đang mở ra không gian giao lưu văn hóa độc đáo, nơi những làn điệu dân ca H’rê đến gần hơn với giới trẻ và du khách.

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Văn hóa là sức mạnh mềm quốc gia trong kỷ nguyên mới

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định phát triển nguồn lực con người và phát triển văn hóa được đặt trong nhóm nhiệm vụ trọng tâm, nhằm biến văn hóa thành nền tảng tỉnh thần, sức mạnh nội sinh và động lực to lớn cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Bảo tồn, phát huy giá trị di sản gốm Chăm

Ngày 29/11/2022, Nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Sau gần 4 năm, vấn đề đặt ra không còn chỉ là quảng bá danh hiệu, mà là phải lượng hóa được sức sống thực sự của nghề, nhận diện những nguy cơ và chứng minh hiệu quả của các giải pháp bảo vệ.

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Sẵn sàng cho Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò rực rỡ, văn minh

Từ ngày 15 - 21/10, tại Nghĩa Lộ (tỉnh Lào Cai) sẽ diễn ra Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò năm 2026. Đêm khai mạc vào tối 16/10 với chương trình nghệ thuật đặc sắc “Xòe Thái - Trọn một vòng yêu” được kỳ vọng là điểm nhấn hội tụ sắc màu Tây Bắc. 

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Cao Bằng quảng bá làng nghề truyền thống tới du khách

Được tổ chức vào các ngày cuối tuần tại phố đi bộ Kim Đồng, Tuần trải nghiệm làng nghề truyền thống “Bàn tay người Cao Bằng” mang đến cho người dân và du khách cơ hội khám phá, trải nghiệm trực tiếp các nét văn hóa độc đáo cùng kỹ thuật chế tác thủ công tinh xảo.

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Triển lãm 'Sắc màu văn hóa Chăm', trải nghiệm tour di sản tại Lâm Đồng

Chào mừng Lễ hội Katê 2026, chuỗi hoạt động văn hóa dân gian Chăm vừa khai mạc ngày 11/10 tại Lâm Đồng với hơn 1.500 hiện vật gốc cùng các màn trình diễn nghề truyền thống. Đặc biệt, đây là lần đầu tiên địa phương đưa vào vận hành tour tham quan kết nối Đền thờ Pô Nít và làng gốm Bình Đức.

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Thái qua Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu

Ngày 11/10, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 được tổ chức tại xã Phong Thổ (tỉnh Lai Châu). Đây là hoạt động văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của đồng bào Thái, gắn với đời sống lao động sản xuất, nền văn minh lúa nước và những phong tục tốt đẹp được gìn giữ.