Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

trong2-6726.jpg
Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Kho tàng nghệ thuật độc đáo

Đồng bào dân tộc Khmer chiếm khoảng 8% dân số An Giang, sinh sống tập trung tại nhiều địa phương vùng biên giới như: Tri Tôn, Cô Tô, Ô Lâm, Núi Cấm... Qua nhiều thế hệ, cộng đồng Khmer đã gìn giữ một kho tàng nghệ thuật truyền thống phong phú, từ những điệu múa Rom Vong, Rom Saravan; nghệ thuật hát Aday, Chầm Riêng Chà-pây; nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm; dàn nhạc ngũ âm đến sân khấu Dù kê, Dì kê, nghệ thuật Rô băm và hệ thống lễ hội truyền thống như: Chôl Chnăm Thmây, Sen Dolta, Ok Om Bok.

Những loại hình nghệ thuật ấy không chỉ mang giá trị giải trí mà còn lưu giữ lịch sử, tín ngưỡng, phong tục và tri thức dân gian của đồng bào Khmer. Mỗi lễ hội truyền thống chính là “sân khấu tự nhiên” để các giá trị văn hóa Khmer được tái hiện sống động. Từ đó, góp phần tạo nên bản sắc riêng của đồng bào dân tộc Khmer vùng Bảy Núi An Giang, thu hút đông đảo du khách.

Trong kho tàng nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer An Giang, nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm được xem là một trong những loại hình tiêu biểu. Người biểu diễn không chỉ đánh trống mà còn kết hợp các động tác múa, xoay người, nhảy và biểu cảm theo tiết tấu, tạo nên màn trình diễn giàu tính nghệ thuật. Năm 2025, nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm của người Khmer An Giang được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định giá trị đặc sắc của loại hình nghệ thuật này.

Tuy nhiên, để trở thành một nghệ nhân diễn tấu trống Chhay-Dăm không hề dễ dàng. Sư Chau Rine, sư phó chùa Snay Đon Kum (xã Ô Lâm), cho biết: Người diễn tấu trống Chhay-Dăm phải trải qua nhiều tháng, thậm chí nhiều năm khổ luyện mới có thể trình diễn thành thạo. Độ tuổi biểu diễn tốt nhất từ 16 đến 40 tuổi, đòi hỏi sức khỏe, sự dẻo dai và tính kỷ luật cao.

Theo sư Chau Rine, hiện việc bảo tồn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm gặp không ít khó khăn khi số nghệ nhân có khả năng truyền dạy ngày càng ít, trong khi lớp trẻ theo học chưa nhiều. Không ít chùa Khmer phải mời giáo viên từ địa phương khác đến hướng dẫn vì thiếu người am hiểu chuyên môn. Hiện nghề chế tác trống Chhay-Dăm cũng đang đứng trước nguy cơ mai một khi số người biết làm trống ngày càng giảm, hầu như không có lớp kế nghiệp, khiến nhiều đội trống phải mua nhạc cụ từ nơi khác với chi phí rất cao.

Ông Chau Sóc Huân, Phó Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Ô Lâm, cho biết: Công tác bảo tồn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm còn gặp nhiều khó khăn do lực lượng kế thừa ngày càng thiếu, nhiều thanh, thiếu niên chưa mặn mà theo học, trong khi nhạc cụ xuống cấp và kinh phí phục vụ tập luyện, biểu diễn, bảo quản còn hạn chế.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Để bảo tồn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm, ông Chau Sóc Huân, cho biết: Địa phương đang phối hợp với ngành văn hóa và các chùa Khmer mở lớp truyền dạy cho thanh, thiếu niên; hỗ trợ mua sắm nhạc cụ, trang phục; mời nghệ nhân giỏi trực tiếp hướng dẫn; đồng thời thành lập các đội trống phục vụ lễ hội nhằm tạo lực lượng kế cận và duy trì sức sống của nghệ thuật Chhay-Dăm.

Nguy cơ mai một nhiều loại hình nghệ thuật

Cùng với Chhay-Dăm, nhạc ngũ âm loại hình âm nhạc truyền thống gắn liền với các lễ hội, nghi lễ Phật giáo Nam tông và đời sống văn hóa của đồng bào Khmer cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn trong công tác bảo tồn. Mặc dù hầu hết các chùa Khmer ở An Giang như: Tri Tôn, Tịnh Biên, Giang Thành, Hòn Đất, Gò Quao, Vĩnh Thuận... vẫn duy trì dàn nhạc ngũ âm, nhưng đội ngũ nghệ nhân ngày càng già hóa, số người biết chế tác và biểu diễn nhạc cụ giảm dần. Thiếu lớp kế thừa, nhạc cụ xuống cấp và kinh phí bảo quản hạn hẹp khiến nhiều dàn nhạc chỉ còn hoạt động vào các dịp lễ hội lớn.

Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo An Giang: Hiện đội ngũ nghệ nhân Khmer, những người gìn giữ, thực hành và truyền dạy nghệ thuật truyền thống tại An Giang đang giảm cả về số lượng và khả năng hoạt động. Phần lớn nghệ nhân đều đã lớn tuổi, sức khỏe giảm sút, điều kiện kinh tế còn khó khăn, trong khi lớp trẻ ít quan tâm học nghề. Điều này làm gia tăng nguy cơ mai một các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer.

Tại các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống như: Tri Tôn, Tịnh Biên, Giang Thành, Hòn Đất, Định Hòa, Gò Quao và Vĩnh Thuận, mỗi địa phương chỉ còn khoảng 5-10 nghệ nhân thường xuyên thực hành các loại hình như nhạc ngũ âm, trống Chhay-Dăm, Dù kê, Rô băm, Chầm Riêng Chà-pây, hát Aday… Hầu hết nghệ nhân đã lớn tuổi, từ 55 tuổi trở lên và nhiều nghệ nhân đã ngoài 70 tuổi.

Hiện tại các chùa Khmer trên địa bàn An Giang, nhiều nghệ nhân vẫn tâm huyết truyền dạy cho thế hệ trẻ, nhưng việc truyền nghề chủ yếu diễn ra tự phát, chưa có chương trình đào tạo bài bản, giáo trình thống nhất hay cơ chế hỗ trợ phù hợp. Các lớp truyền dạy do ngành văn hóa hoặc địa phương tổ chức chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, chưa tạo được mô hình đào tạo lâu dài.

Bên cạnh đó, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer đang đối mặt với nguy cơ mai một do thiếu lớp nghệ nhân kế cận; cách sử dụng nhạc cụ chưa được truyền dạy đầy đủ, có nguy cơ thất truyền. Một số đoàn Dù kê, Rô băm và dàn nhạc ngũ âm chỉ hoạt động cầm chừng vào dịp lễ hội, thậm chí phải mời nghệ nhân từ địa phương khác đến hỗ trợ. Song song đó, công tác lưu giữ tư liệu cũng còn nhiều hạn chế. Nhiều tài liệu về nghệ thuật truyền thống Khmer vẫn phân tán tại các chùa, nhà dân hoặc do nghệ nhân tự bảo quản nên dễ hư hỏng, thất lạc. Chưa có cơ sở dữ liệu số thống nhất khiến việc bảo tồn, nghiên cứu, truyền dạy và quảng bá các giá trị văn hóa gặp nhiều khó khăn.

Đưa di sản “sống” cùng cộng đồng

Đến nay, cộng đồng Khmer An Giang có năm Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia gồm Hội đua bò Bảy Núi, Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông, Nghệ thuật trình diễn sân khấu Dì kê, Nghề làm đường thốt nốt và Nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm. Đây là những di sản tiêu biểu, phản ánh chiều sâu văn hóa của cộng đồng Khmer Nam Bộ.

Để bảo tồn, khôi phục, gìn giữ và phát huy bền vững các giá trị nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh An Giang, ông Lê Văn Phước, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết: UBND tỉnh đã xây dựng Đề án bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống dân tộc Khmer giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu bảo vệ, gìn giữ và phát huy bền vững các loại hình nghệ thuật truyền thống của đồng bào Khmer. Thời gian tới tỉnh sẽ rà soát, kiểm kê, hệ thống hóa các loại hình nghệ thuật tiêu biểu của đồng bào dân tộc Khmer; ưu tiên bảo vệ khẩn cấp những loại hình, bài bản có nguy cơ mai một; đồng thời chuẩn hóa công tác lưu giữ, tư liệu hóa và truyền dạy trong cộng đồng dân tộc Khmer. Đề án chú trọng phát triển đội ngũ kế thừa thông qua việc tạo điều kiện để nghệ nhân truyền nghề gắn với chùa Khmer, trường học và các thiết chế văn hóa; khuyến khích thanh thiếu niên tham gia học tập, thực hành và biểu diễn nghệ thuật.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Biểu diễn nghệ thuật diễn tấu trống Chhay-Dăm tại chùa Snay Đon Kum, xã Ô Lâm, tỉnh An Giang.

Tỉnh sẽ khôi phục không gian sinh hoạt nghệ thuật tại cộng đồng, duy trì hoạt động biểu diễn gắn với các lễ hội truyền thống, xây dựng các câu lạc bộ nghệ thuật Khmer hoạt động thường xuyên; đồng thời kết nối nghệ thuật truyền thống với phát triển du lịch, truyền thông và các sản phẩm văn hóa nhằm tạo sinh kế cho nghệ nhân.

Đề án cũng đặt mục tiêu đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về giá trị nghệ thuật Khmer, tăng cường giao lưu văn hóa giữa các dân tộc và xây dựng lòng tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc. Đến năm 2030, An Giang phấn đấu hoàn thành bộ hồ sơ kiểm kê các loại hình nghệ thuật Khmer; xây dựng phim tư liệu, bản đồ văn hóa - nghệ thuật Khmer; tổ chức từ 5-7 lớp truyền dạy mỗi năm, hình thành ít nhất 2 câu lạc bộ nghệ thuật Khmer hoạt động thường xuyên. Tỉnh sẽ tổ chức liên hoan nghệ thuật truyền thống Khmer định kỳ 2 năm/lần và xây dựng kho dữ liệu số cùng chuyên trang về nghệ thuật Khmer phục vụ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá.

Điểm mới của đề án là bảo tồn gắn với khai thác giá trị văn hóa phục vụ phát triển kinh tế. Trong đó, tỉnh An Giang sẽ xây dựng các sản phẩm du lịch trải nghiệm gắn với văn hóa Khmer như tham quan chùa Khmer, thưởng thức nghệ thuật Dù kê, nhạc ngũ âm, học múa Rom Vong, trải nghiệm các lễ hội Chôl Chnăm Thmây, Ok Om Bok và khám phá đời sống văn hóa Khmer tại các phum, sóc. Những không gian văn hóa cộng đồng dân tộc Khmer sẽ được kết nối thành các tuyến du lịch đặc trưng, vừa tạo sinh kế cho nghệ nhân, vừa góp phần nâng cao giá trị di sản./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Hương sắc vùng sông nước miền Tây níu chân du khách Thủ đô

Hương sắc vùng sông nước miền Tây níu chân du khách Thủ đô

Ngày 22/8, trong khuôn khổ chuỗi sự kiện “Về miền Tây qua nét văn hóa của đồng bào Khmer”, không gian văn hóa miền Tây tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Đoài Phương, Hà Nội) đã mang đến cho du khách những trải nghiệm đậm hương sắc vùng sông nước Cần Thơ qua chương trình giao lưu “Về miền Tây”.

Tết gắn kết cộng đồng của đồng bào La Chí ở vùng cao Xín Mần

Tết gắn kết cộng đồng của đồng bào La Chí ở vùng cao Xín Mần

Tháng Bảy âm lịch, dù làm ăn xa hay sinh sống ở đâu, người La Chí ở Xín Mần lại hướng về Tết Khu Cù Tê - dịp con cháu sum họp, tưởng nhớ tổ tiên, cầu mong bản làng bình yên, mùa màng tốt tươi. Được tổ chức gắn với Lễ hội đền Hoàng Vần Thùng, ngày Tết cổ truyền ấy đã trở thành điểm hẹn văn hóa, nơi người dân các dân tộc cùng gặp gỡ, giao lưu và vun đắp tình đoàn kết trên vùng biên giới Xín Mần, tỉnh Tuyên Quang.

Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV diễn ra từ ngày 9 - 11/10 tại tỉnh Điện Biên

Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV diễn ra từ ngày 9 - 11/10 tại tỉnh Điện Biên

Ngày 21/8, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Điện Biên tổ chức họp Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV tại tỉnh Điện Biên, năm 2026. Sự kiện có sự tham dự của đông đảo đại biểu, đại diện cho các cơ quan, ban, ngành và các địa phương tham gia trong Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức và tham gia Ngày hội.

Bên trong chính điện chùa Chantarangsay thể hiện những tích truyện về Đức Phật Thích ca.

Giữ hồn văn hóa qua kiến trúc chùa Khmer tại TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh là nơi hội tụ và lưu giữ nhiều công trình tín ngưỡng mang dấu ấn lịch sử của các cộng đồng các dân tộc. Trong đó, Candaransi và Pothiwong là hai ngôi chùa được xem là những trung tâm sinh hoạt văn hóa, tôn giáo của cộng đồng Khmer tại TP Hồ Chí Minh và các địa phương lân cận.

Đồng bào Thu Lao ở thượng nguồn sông Chảy giữ hồn nghề dệt

Đồng bào Thu Lao ở thượng nguồn sông Chảy giữ hồn nghề dệt

Cộng đồng người Thu Lao ở Việt Nam chỉ sinh sống duy nhất tỉnh Lào Cai, thuộc vùng thượng nguồn sông Chảy các xã: Mường Khương, Pha Long, Sín Chéng... Mặc dù dân số rất ít nhưng đồng bào Thu Lao vẫn chú trọng gìn giữ và phát huy các nghề thủ công truyền thống như dệt vải, may trang phục truyền thống để sử dụng trong sinh hoạt, sản xuất hằng ngày và các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh, tạo nên vẻ đẹp đặc sắc riêng có, góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Xây dựng thương hiệu văn hóa - du lịch Tết Độc lập ở vùng đất Tân Trào

Xây dựng thương hiệu văn hóa - du lịch Tết Độc lập ở vùng đất Tân Trào

Ngày Tết Độc lập với người dân Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang là ngày hội thiêng liêng. Cứ vào Tháng Tám hằng năm, Tân Trào lại đón nhiều đoàn khách từ khắp mọi miền đất nước về nguồn. Dưới mái đình, bên cây đa lịch sử, câu chuyện về mùa Thu lịch sử năm 1945 được nhắc lại trong niềm xúc động và tự hào. Tân Trào hôm nay đang nỗ lực dựng thương hiệu văn hóa - du lịch về Tết Độc lập trên quê hương cách mạng.

Triển lãm ảnh 'Giao thoa văn hóa Nam Trung Bộ - Tây Nguyên'

Triển lãm ảnh 'Giao thoa văn hóa Nam Trung Bộ - Tây Nguyên'

Trong khuôn khổ chuỗi sự kiện Hội nghị tổng kết Thỏa thuận hợp tác phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2023 - 2025, ký kết giai đoạn 2026 - 2030 giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh, thành phố vùng Duyên hải Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, từ ngày 14 - 16/8, tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm tỉnh Quảng Ngãi, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Triển lãm ảnh “Giao thoa Văn hóa Nam Trung Bộ - Tây Nguyên” chủ đề “Quảng Ngãi - Kết nối di sản - Hội tụ bản sắc - Lan tỏa giá trị”.

Trao truyền giữ mạch nguồn văn hóa các dân tộc cho thế hệ trẻ

Trao truyền giữ mạch nguồn văn hóa các dân tộc cho thế hệ trẻ

Lâm Đồng là địa phương có không gian văn hóa đa dạng với 49 dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như M’nông, Mạ, K’Ho, Churu, Ê Đê… vẫn lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc. Tuy nhiên, trước những thay đổi nhanh chóng của đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa và giao thoa văn hóa, việc bảo tồn, nhất là trao truyền di sản cho thế hệ trẻ, đang trở thành yêu cầu cấp thiết.

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Giữ hồn Dao Thanh Y nơi vùng cao Quảng La

Thôn Bằng Cả, xã Quảng La là nơi có trên 97% dân số là đồng bào Dao Thanh Y. Cộng đồng nơi đây được hình thành từ khoảng 300 năm trước và đến nay vẫn lưu giữ được nhiều nét văn hóa bản địa đặc sắc.

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Từ những 'chứng nhân lịch sử' đến sản phẩm du lịch đặc sắc

Trải dài từ những dấu tích văn hóa hàng nghìn năm trước đến các căn cứ cách mạng ghi dấu những thời khắc lịch sử của dân tộc, hệ thống di tích ở Tây Ninh đang được bảo tồn, phát huy giá trị, góp phần gìn giữ, lan tỏa bản sắc văn hóa địa phương; đồng thời trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy phát triển du lịch bền vững.

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Khi văn hóa trở thành nguồn lực kinh tế

Từ những nếp nhà trình tường dưới chân Cột cờ quốc gia Lũng Cú, ruộng bậc thang Hoàng Su Phì đến tiếng then, làn điệu cọi, nghề dệt lanh và những lễ hội truyền thống, kho tàng văn hóa đa dạng đang mở ra dư địa phát triển mới cho Tuyên Quang.

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Độc đáo nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh tại Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết

Sáng 2/8, trong khuôn khổ Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết năm 2026, nghi lễ rước Lệnh Ông Sanh được tổ chức trang trọng, thu hút đông đảo người dân, ngư dân và du khách tham gia. Đây là nghi thức tiêu biểu của lễ hội, phản ánh tín ngưỡng thờ Cá Ông và đời sống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân vùng biển Lâm Đồng.

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Khẳng định vị thế quê hương cội nguồn cách mạng trong lịch sử dân tộc

Nhân dịp kỷ niệm 81 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), tỉnh Cao Bằng sẽ tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và chương trình nghệ thuật quy mô lớn với chủ đề “Các hoạt động, sự kiện Phường Thục Phán năm 2026 - Hội tụ bản sắc, kết nối tương lai”.

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Đánh thức giá trị di sản để phát triển du lịch

Triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tỉnh Phú Thọ đang đẩy mạnh khai thác các giá trị văn hóa đặc sắc của vùng Đất Tổ gắn với phát triển du lịch. Từ nền tảng các di sản văn hóa và tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa phương từng bước xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Kết nối di sản với du lịch và công nghiệp văn hóa

Sau khi hợp nhất, Lâm Đồng sở hữu không gian văn hóa đa dạng hàng đầu cả nước với hệ thống di sản phong phú của 49 dân tộc. Đây là lợi thế để địa phương thúc đẩy bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, từng bước đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa (Lâm Đồng)

Tối 25/7, tại phường Bắc Gia Nghĩa, UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa và Khu liên hợp Bảo tàng - Thư viện - Công viên. Đây là hai công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa, chỉnh trang đô thị, tạo thêm không gian sinh hoạt cộng đồng, văn hóa và du lịch cho khu vực phía Tây của tỉnh.

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Đà Nẵng giới thiệu 'Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng'

Chiều 24/7, tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm phối hợp với Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng khai mạc triển lãm chuyên đề "Dấu ấn văn hóa Chăm ở Lâm Đồng", giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của văn hóa Chăm thông qua hệ thống hiện vật, hình ảnh và tư liệu khoa học đang được lưu giữ, nghiên cứu tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Phát hiện nhiều tư liệu quý giá 'giải mã' Thành cổ Châu Sa

Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Nỗ lực giữ vững danh hiệu Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông

Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định dự kiến diễn ra vào tháng 7/2027. Đây là dấu mốc quan trọng nhằm giữ vững danh hiệu quốc tế, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị di sản địa chất, văn hóa và đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch bền vững.

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Tâm huyết khôi phục giá trị truyền thống của dân tộc Mường

Giữa nhịp sống hiện đại với nhiều thay đổi, một số giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Mường đang dần ít hiện diện trong đời sống. Từ sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chị Bùi Thị Linh (Bông Klăng), ở phường Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ đã dành nhiều tâm huyết cho việc khôi phục, giới thiệu những nét đẹp văn hóa Mường đến với cộng đồng.

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.