Trong khuôn khổ Lễ hội Tân Trào “Tết Độc lập” năm 2026, nghi lễ đám cưới truyền thống của đồng bào dân tộc Tày được tái hiện tại Làng Văn hóa Tân Lập, xã Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
Từ lời hát Quan làng, tục chăng dây đón khách, nghi thức xin dâu đến hành trình đưa cô dâu về nhà chồng bằng mảng trên hồ Nà Nưa, mỗi chi tiết đều góp phần giới thiệu một nét văn hóa đặc sắc được đồng bào Tày gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Qua cửa tơ hồng, lên nhà sàn xin dâu
Từ sáng sớm, đoàn nhà trai đã tập trung đông đủ trong trang phục truyền thống để chuẩn bị sang nhà gái xin dâu. Đi đầu là chú rể Trương Văn Chiến, thôn Tân Lập, xã Tân Trào, mặc áo chàm, trước ngực kết bông hoa đỏ nổi bật. Bá mè (các bậc cha mẹ, cô dì chú bác) nhà trai Hoàng Thị Yến thay mặt gia đình dẫn đoàn và thực hiện các nghi thức trong lễ đón dâu.
Theo sau là những người gánh lễ vật bằng đòn tre, đôi sọt đan thủ công, những chiếc lồng đựng gà cùng nhiều gói quà được trang trí bằng giấy hồng và nơ đỏ.
Đoàn đón dâu nối dài trên con đường nhỏ giữa cánh đồng và những nếp nhà sàn của người Tày. Nam giới gánh những lễ vật nặng, phụ nữ mang theo các đôi sọt đan bằng tre, trong đó đựng quà cưới và những vật dụng dành tặng cô dâu. Từng đôi gánh được sắp xếp ngay ngắn, trang trí trang trọng, thể hiện sự chu đáo của nhà trai và lòng thành đối với gia đình nhà gái. Không khí vừa trang nghiêm, vừa rộn ràng bởi đây không chỉ là ngày vui của đôi trẻ mà còn là dịp gặp gỡ, gắn kết giữa hai gia đình, họ hàng và cộng đồng.Khi đến cổng nhà gái, đoàn nhà trai chưa thể bước vào ngay. Một dải lụa hồng được chăng ngang lối đi như một thử thách dành cho những người đến xin dâu. Muốn cánh cổng mở ra, đại diện nhà trai phải cất lời hát Quan làng, trình bày lý do, xin phép gia đình và họ hàng nhà gái cho đoàn vào thực hiện các nghi thức đón dâu.
Phía nhà gái cũng dùng lời hát để hỏi chuyện, thử tài ứng đối và nhắc nhở nhà trai về phép tắc trong hôn nhân.Những câu hát khi trang trọng, khi dí dỏm, gần gũi, nối tiếp nhau như một cuộc trò chuyện bằng thơ giữa hai họ. Người hát không chỉ cần thuộc lời mà còn phải hiểu phong tục, biết lựa chọn cách nói phù hợp với từng hoàn cảnh. Qua lời hát, nhà trai bày tỏ sự trân trọng đối với nhà gái, xin được đón cô dâu về làm thành viên mới trong gia đình; nhà gái gửi gắm niềm tin, tình cảm cùng những lời căn dặn dành cho chú rể và họ hàng bên chồng.
Đoàn đưa dâu bằng mảng trên hồ Nà Nưa trong lễ cưới truyền thống của đồng bào Tày ở Tân Trào (Tuyên Quang).
Khi lời thưa gửi đã trọn vẹn, dải lụa hồng mới được mở, đoàn nhà trai chính thức bước qua cổng.Sau thử thách đầu tiên, chú rể thực hiện nghi thức rửa tay trước khi bước lên nhà sàn làm lễ xin dâu. Nước được đựng trong chiếc ống tre, rót qua một chiếc gáo nhỏ. Nghi thức giản dị nhưng thể hiện sự trang trọng, thanh sạch và thái độ thành kính của người đến đón dâu. Tiếp đó, các thành viên trong đoàn lần lượt đưa lễ vật lên nhà sàn. Những đôi sọt, lồng gà, gói quà được đặt đúng vị trí để đại diện hai gia đình kiểm đếm, trao nhận theo phong tục.
Trong không gian nhà sàn, thành viên hai họ đứng thành hai hàng, chào hỏi và giới thiệu thành phần tham dự. Bá mè nhà gái Triệu Thị Lam Hạnh thay mặt gia đình đón đoàn nhà trai, tiếp nhận lễ vật và cùng bá mè nhà trai dẫn dắt các nghi thức.
Trong đám cưới truyền thống của người Tày, người đại diện hai họ giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Họ phải am hiểu phong tục, có khả năng giao tiếp, ứng xử khéo léo và thay mặt gia đình trao đổi những nội dung liên quan đến việc đón, đưa cô dâu.Cô dâu Đàm Thị Hiền, thôn Hoàng Lâu, xã Tân Trào xuất hiện trong bộ trang phục truyền thống của phụ nữ Tày. Áo chàm nền nã kết hợp với khăn đội đầu, vòng bạc và dây xà tích làm nổi bật vẻ đẹp kín đáo, duyên dáng. Cô dâu, chú rể cùng thực hiện nghi thức trước bàn thờ tổ tiên, thể hiện lòng thành kính với các thế hệ đi trước và báo cáo việc kết duyên của đôi trẻ.
Những lời chúc phúc, dặn dò được đại diện hai gia đình gửi gắm với mong muốn đôi vợ chồng trẻ luôn yêu thương, chia sẻ, cùng nhau vun đắp cuộc sống gia đình.Hát Quan làng là một phần không thể thiếu trong đám cưới truyền thống của người Tày. Lời hát được sử dụng trong nhiều chặng của lễ cưới, từ lúc nhà trai đến cổng, xin phép vào nhà, trao lễ vật đến khi xin đón cô dâu. Mỗi câu hát không chỉ giúp nghi lễ thêm trang trọng mà còn chứa đựng những bài học về đạo lý gia đình, cách ứng xử giữa hai họ, tình nghĩa vợ chồng và lòng biết ơn đối với cha mẹ.
Chuyến mảng đưa dâu trên hồ Nà Nưa
Sau khi hoàn thành các nghi thức tại nhà gái, chú rể đón cô dâu rời nhà sàn để bắt đầu hành trình về nhà chồng. Cô dâu bước xuống cầu thang trong sự dìu đỡ của chú rể, phía sau là đại diện hai gia đình cùng đoàn đưa dâu. Những đôi sọt lễ vật, quà cưới và hành trang của cô dâu tiếp tục được gánh theo đoàn. Trong trang phục chàm truyền thống, đoàn người tạo nên một hình ảnh vừa mộc mạc, trang trọng, vừa nổi bật giữa không gian xanh của núi rừng Tân Trào.Điểm độc đáo của chương trình tái hiện là hành trình đưa cô dâu về nhà chồng bằng mảng trên hồ Nà Nưa. Sau khi đi qua những con đường trong làng, cô dâu, chú rể cùng đoàn đưa dâu bước xuống những chiếc mảng kết bằng tre. Lễ vật và hành trang của cô dâu được xếp gọn trên mảng.
Đoàn nhà trai mang lễ vật đến nhà gái trong lễ cưới truyền thống của đồng bào Tày ở Làng văn hóa Tân Lập, xã Tân Trào (Tuyên Quang).
Các thành viên trong đoàn ngồi thành hàng, giữ thăng bằng trong khi người điều khiển dùng sào đưa mảng rời bờ.Trên mặt hồ giữa núi rừng xanh thẳm, cô dâu, chú rể ngồi bên nhau, theo sau là những người thân trong hai gia đình. Màu chàm của trang phục, sắc đỏ của những gói lễ vật, màu vàng nhạt của những chiếc nón và mảng tre hòa vào cảnh sắc hồ Nà Nưa, tạo nên một bức tranh sinh động về đời sống văn hóa của đồng bào Tày.
Tiếng hát Then, âm thanh đàn Tính vang lên giữa mặt hồ như những lời chúc tốt đẹp tiễn cô dâu về nhà chồng.Chuyến mảng đưa dâu không chỉ tạo điểm nhấn cho hoạt động tái hiện mà còn gợi nhắc mối quan hệ gắn bó giữa đời sống đồng bào địa phương với núi rừng, sông suối. Từ mái nhà của cha mẹ đến mái ấm mới, cô dâu luôn có gia đình, họ hàng và cộng đồng đồng hành.
Hành trình ấy vì thế không chỉ là sự dịch chuyển từ nhà gái sang nhà trai mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng trong cuộc đời người phụ nữ, từ người con trong gia đình trở thành người vợ, người con dâu trong một gia đình mới.Đám cưới truyền thống của người Tày không chỉ là ngày vui của đôi trẻ và hai gia đình mà còn là công việc chung của họ hàng, làng xóm. Từ người chuẩn bị lễ vật, người gánh đồ cưới, người hát Quan làng, người đại diện hai họ đến những người tham gia đưa, đón dâu, mỗi thành viên đều đảm nhận một phần việc. Sự tham gia của cộng đồng làm nên không khí đầm ấm, đồng thời phản ánh tinh thần đoàn kết, tương trợ và trách nhiệm giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ.
Đại diện nhà trai hát đối đáp, xin nhà gái mở lối vào thực hiện các nghi thức đón dâu.
Sản phẩm du lịch “Đám cưới người Tày” được Ban Tổ chức Lễ hội Tân Trào “Tết Độc lập” năm 2026 phục dựng, đưa vào khai thác tại địa phương. Hoạt động giúp du khách hiểu thêm về đời sống tinh thần của đồng bào Tày, đồng thời tạo điều kiện để người dân trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ, trình diễn văn hóa và giới thiệu phong tục truyền thống của dân tộc mình.Phó Chủ tịch UBND xã Tân Trào Hoàng Văn Cảnh cho biết, thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trải nghiệm, địa phương mong muốn tạo nên một không gian văn hóa cộng đồng giàu bản sắc, để người dân và du khách không chỉ tham quan các di tích lịch sử mà còn được hòa mình vào đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc.
Việc phục dựng đám cưới truyền thống của người Tày vừa góp phần bảo tồn, trao truyền phong tục tốt đẹp, vừa làm phong phú sản phẩm du lịch, quảng bá hình ảnh đất và người Tân Trào tới du khách.Việc đưa các nghi lễ cưới hỏi truyền thống vào hoạt động trải nghiệm còn góp phần trao truyền di sản cho thế hệ trẻ. Những người cao tuổi có dịp kể lại, hướng dẫn cách thực hiện nghi lễ; người trẻ trực tiếp tham gia hát, chuẩn bị lễ vật, mặc trang phục truyền thống và tìm hiểu ý nghĩa của từng phong tục.
Nhờ đó, các giá trị văn hóa không chỉ được lưu giữ trong ký ức hay tư liệu mà tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng. Giữa vùng đất Tân Trào giàu truyền thống cách mạng, đám cưới người Tày hiện lên mộc mạc mà trang trọng, đậm đà bản sắc.
Qua lời hát Quan làng, dải tơ hồng trước cổng, nghi thức rửa tay, nếp nhà sàn, những đôi sọt lễ vật và chuyến mảng đưa dâu trên hồ Nà Nưa, phong tục xưa không chỉ được nhắc lại mà tiếp tục sống trong đời sống hôm nay. Đó cũng là cách người dân Tân Trào gìn giữ cội nguồn, trao truyền bản sắc và giới thiệu vẻ đẹp quê hương tới du khách gần xa./.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn