Kỹ thuật nuôi ếch

Kỹ thuật nuôi ếch

1. KỸ THUẬT SẢN XUẤT ẾCH GIỐNG

a. Nuôi vỗ ếch bố mẹ

* Nơi nuôi vỗ:

- Chọn ao có độ sâu 40 - 50 cm có nguồn nước sạch và hang trú ẩn, bờ có bóng mát. Thả bèo tây hoặc rau muống chiếm 1/2 diện tích mặt ao.

- Vệ sinh, tẩy trùng ao trước khi đua vào nuôi vỗ.

* Lựa chọn ếch bố mẹ:

Nên chọn ếch tốt 2 - 3 tuổi từ ao ếch thịt để thu được nhiều trứng, trứng to, nở con mập mạp.

* Mật độ nuôi vỗ:

- Nếu có điều kiện nên nuôi riêng ếch đực và cái khoảng 1 tháng trước khi cho đẻ.

- Ếch đực 3 - 5 con/m2; ếch cái 3 - 4 con/m2;

- Trong thời gian cho đẻ, mật độ: 1 - 5 cặp/m2.

* Chế độ nuôi vỗ:

Thức ăn công nghiệp có độ đạm 25% hoặc thức ăn tự chế (40% cá xay + 60% bột ngũ cốc). Lượng thức ăn cho ăn bằng 3 - 4% trọng lượng đàn ếch.

b. Cho ếch đẻ

Cho ếch đẻ tự nhiên trong ao. Đầu tháng 3 âm lịch, ếch cái phát dục có bụng phình to và mềm. 3 - 4 ngày sau khi có tiếng kêu thưa thớt của ếch đực, ếch cái sẵn sàng đẻ trứng. Nếu nuôi riêng đực - cái thì tối hôm đó, phải đưa ếch đực vào thả chung với ếch cái.

Ếch đẻ ban đêm, sáng sớm đi vớt trứng ngay bằng cách dùng đĩa hoặc chậu vớt nguyên cả màng trứng rồi đổ nhẹ vào chậu to, xô có chứa sẵn nước sạch. Tránh làm vỡ màng nhầy. Không để các mảng trứng chồng lên nhau dày đặc và vón cục, trứng sẽ ung.

c. Kỹ thuật ấp trứng và nuôi nòng nọc

* Ương trong ao: Chỉ vớt ếch bố mẹ sang ao khác, để nguyên các ổ trứng trong ao, ương cho nở tự nhiên. Sau khoảng 24 giờ, trứng nở thành nòng nọc. Nòng nọc ăn phù du động vật trong ao; sau khi nở 3 - 4 ngày, cho nòng nọc ăn thêm 200 - 300g bột mỳ, bột gạo/1 vạn con/ngày, hoặc dùng thức ăn viên độ đạm 40%. Mật độ ương khoảng 2.000 trứng/m2; tỷ lệ nở trung bình 50%; sau 15 ngày có thể san thưa nòng nọc, đem nuôi ở ao, bể khác.

* Ương trong giai, bể: Dùng giai bằng lưới nilông kích cỡ 1 x 0,8 x 0,3m. Mật độ 1 - 2 vạn trứng/m2.

Ở nhiệt độ 22 - 26°C, trứng sẽ nở ra nòng nọc chỉ sau 22 giờ. Khi noãn hoàng tiêu hết, nòng nọc mới tự đi kiếm ăn. Mật độ ương 15.000 - 20.000 trứng/m2.

d. Kỹ thuật nuôi nòng nọc lên ếch con

* Cho nòng nọc ăn: Sau khi nở 3 - 4 ngày, vớt phù du động vật từ ao về cho ăn hoặc cho ăn bằng lòng đỏ trứng (4 quả/1 vạn nòng nọc/2 bữa sáng, chiều) bóp nhuyễn, rắc đều quanh bể. Trung bình từ nòng nọc lên ếch giống đạt tỷ lệ sống 50%.

* San thưa: Sau 8 ngày nuôi ở bể, san thưa với mật độ 500 - 1.000 con/m2.

* Thức ăn bổ sung gồm: 20 - 30% đạm động vật trộn với 70 - 80% bột ngũ cốc. Khẩu phần ăn/ngày: 0,5 - 1 kg/1 vạn con. Tuỳ nhiệt độ, nòng nọc biến thái thành ếch con trong khoảng 21 - 25 ngày.

đ. Kỹ thuật nuôi ếch con lên ếch giống

* Từ ngày 8 - 14: Mật độ 2.000 - 3.000 con/m2. Thức ăn: 30% tôm, tép, cá xay nhỏ trộn với 70% mì sợi, bún khô ngâm nước, cắt đoạn hoặc cơm nguội; ngày cho ăn 2 lần; khẩu phần ăn trong ngày bằng 8 - 10% trọng lượng ếch (khoảng 1 kg thức ăn/1.000 con/ngày);

* Từ ngày 15 - 21: Mật độ 500 - 1.000 con/m2. Điều chỉnh thức ăn cho phù hợp;

* Từ ngày 22 - 30: Điều chỉnh thức ăn. Khi ếch rụng đuôi, cho ếch ăn thức ăn viên 40% đạm, lượng thức ăn 7- 10% trọng lượng thân ếch.

2. KỸ THUẬT NUÔI ẾCH THỊT

a. Nuôi ếch trong ao

* Chuẩn bị ao

Mức nước 0,20 – 1,0 m. Ao có bố trí hệ thống sàn ăn, bè nổi cho ếch lên ăn mồi, nghỉ ngơi. Có hệ thống kênh cấp thoát nước, hệ thống lưới che chắn, bảo vệ ếch.

* Giống và mùa vụ

- Mùa vụ thả từ tháng 4 đến tháng 9.

- Trước khi nuôi nên tắm ếch giống trong nước muối 3%.

- Chọn ếch giống 45 ngày tuổi, cỡ đồng đều (3 - 6 cm/con), khoẻ mạnh, màu sắc đậm, không nhiễm bệnh hay bị dị tật, quen ăn thức ăn chế biến.

- Mật độ nuôi 40 - 60 con/m2 hoặc 80 - 100 con/m2 (tuỳ vào trình độ nuôi).

* Thức ăn và cho ăn

- Chủ yếu là thức ăn công nghiệp hoặc chế biến sẵn (độ đạm > 30%). Khầu phần ăn trong ngày bằng 8 - 10% trọng lượng ếch trong ao.

- Cho ăn: Tháng đầu cho ăn 3 - 4 lần/ngày, khi lớn cho ăn 2 lần/ngày (sáng và chiều).

Những vùng có sẵn tôm, cá, cua đồng, giun đất, trứng vịt loại thì có thể dùng thức ăn tự chế để hạ giá thành. Trộn những loại thức ăn thô trên với cám gạo, cho vào máy nghiền thức ăn, phơi khô trong bóng râm (không phơi trực tiếp dưới ánh sáng nắng mặt trời).

Nếu dùng thức ăn viên, rải trực tiếp xuống ao. Nếu dùng thúc ăn chế biến, để lên sàn ăn.

Nếu dùng thức ăn tươi sống, phải rửa sạch hoặc khử trùng trước khi cho ăn. Không thay đổi thức ăn hàng ngày đột ngột, vì ếch sẽ không ăn cho dù nó đang đói.

* Chăm sóc

- Thay nước: tháng đầu: 2 - 3 ngày thay nước 1 lần, mực nước luôn duy trì 20 - 30 cm. Từ tháng thứ 2 trở đi: thay nước hàng ngày, mực nước có thể giảm xuống còn 10 - 15 cm. Nên thay nước vào buổi sáng. Nếu dùng nước giếng khoan, nên trữ lại ít nhất 1 ngày mới sử dụng.

- Chăm sóc, quản lý ao: Thường xuyên bổ sung vitamin, thuốc bổ, men tiêu hoá vào khẩu phần ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho ếch.

Mỗi tuần cho ếch tắm bằng thuốc sát trùng (thuốc tím, lodine)/lần.

Định kỳ 2 tuần cân ếch để có cơ sở điều chỉnh chế độ cho ăn và chăm sóc. Đồng thời phân loại ếch theo trọng lượng để tách nuôi riêng, tránh trường hợp cắn hoặc ăn thịt lẫn nhau.

* Thu hoạch

Ếch đạt 200g/con sau 3 - 3,5 tháng nuôi. Có thể thu toàn bộ.

b. Nuôi ếch thịt trong giai hoặc trong bể

* Chuẩn bị giai hoặc bể

- Chuẩn bị giai: Giai có kích thước 2x3m, hoặc 4x5m, hoặc 5x10m, cao 1 - 1,2 m, làm bằng lưới nilông may kín 5 mặt và phía trên có nắp đậy để tránh ếch nhảy ra ngoài và đề phòng dịch hại.

- Mực nước trong giai khoảng 20 - 30 cm.

- Tạo giá thể cho ếch lên cạn cư trú (bè tre, lục bình). Tổng diện tích giá thể chiếm 2/3 - 3/4 diện tích giai.

- Chuẩn bị bể xi măng: Bể phải đảm bảo độ cao để ếch không nhảy được ra ngoài và tránh kẻ thù xâm nhập, xung quanh thành bể phải giăng lưới. Diện tích bể khoảng 10m2, dưới đáy phải có ống thoát nước để tiện cho việc thay nước. Xây gờ 20 cm quanh phía trong bể, cao hơn mặt nước từ 5 - 10 cm để lấy nơi cho ếch nằm trên cạn.

* Giống và mùa vụ

Giống như nuôi trong ao, chỉ khác mật độ 100 con/m2, mực nước 7 - 10 cm (ngập 2/3 thân ếch).

* Thức ăn và cho ăn

Giống như khi tiến hành nuôi trong ao. Chỉ khác khẩu phần ăn trong ngày ở giai đoạn mới thả giống bằng 5 - 7% trọng lượng ếch; tháng tiếp theo là 2 - 3%.

* Chăm sóc

Ếch là loại động vật sống lưỡng cư, chúng thay da hàng ngày nên dễ làm cho nước trong bể nhanh bị bẩn. Vì vậy nên thay nước thường xuyên, 2 ngày/ lần trước khi ăn.

Nhằm tránh tình trạng ếch phân đàn, nên định kỳ lọc và phân cỡ để tránh hiện tượng cắn lẫn nhau. Cứ 3 ngày tiến hành phân đàn 1 lần. Theo dõi khả năng ăn của ếch để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp.

Định kỳ 15 ngày dùng thuốc tím 3 g/m3 xử lý bể nuôi, ngâm ếch 5 - 10 phút. Phòng ngừa địch hại như ếch mẹo, chuột, kiến,...

Sau khi nuôi 3 - 4 tháng, ếch đạt trọng lượng 150 - 300 g/con có thể tiến hành thu hoạch.

3. Thu hoạch và vận chuyển

a. Thu hoạch

- Thu nòng nọc bằng lưới cá hương;

- Thu ếch con bằng lưới nilông mắt nhỏ;

- Thu ếch thịt bằng lưới then 2 hoặc 3.

Thời gian thu vào sáng sớm hay chiều mát. Trước khi thu hoạch, ngừng cho ăn để ếch bài tiết hết phân, gớm ếch lại với mật độ dày để quen dần trước khi vận chuyển.

Dụng cụ thu ếch phải trơn, nhẵn, bắt nhẹ nhàng, tránh xây xát.

b. Vận chuyển

- Chọn ngày trời mát, nhiệt độ không khí dưới 30°C;

- Nòng nọc vận chuyển bằng thùng, xô, chậu có nước sạch, mật độ 80 - 100 con/lít; bằng túi PE có bơm ôxy: 600 - 800 con/lít;

- Ếch con vận chuyển báng sọt, rổ tre, lồng (có lót nilông) hoặc thùng, chậu, túi vải trong có 1 ít rong, bèo;

- Ếch thịt vận chuyển dụng cụ lớn hơn, thiết kế nhiều tầng, không chồng đè lên nhau, thoáng và giữ được độ ẩm bão hoà.

Theo www.khuyennongvn.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Gần đây, nhiều nông dân ở tỉnh An Giang đã khai thác tốt các thế mạnh, nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương để phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thu nhập, việc làm cho nhiều công nhân lao động, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Chỉ trong vòng vài ngày, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk liên tiếp xảy ra 3 vụ đuối nước, khiến 5 trẻ em từ 9 - 14 tuổi tử vong. Những mất mát dồn dập không chỉ để lại nỗi đau không thể bù đắp cho các gia đình mà còn đặt ra cảnh báo cấp thiết về nguy cơ đuối nước đang hiện hữu, đặc biệt trong thời điểm nắng nóng.

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, tỉnh Gia Lai đang chuyển hướng mạnh từ phát triển sản lượng sang chuẩn hóa chất lượng thông qua việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp căn cơ giúp nông sản địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Trong hai ngày 8 - 9/4/2026, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức thành công Hội thi tiếng Mông trong Bộ đội Biên phòng khu vực 2 năm 2026. Hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Quốc phòng và Bộ đội Biên phòng về tăng cường học tập ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số trong toàn lực lượng.

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Xác định thế mạnh của từng vùng, địa phương trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời gian qua, xã Châu Quế (tỉnh Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản xuất. Từ đó, xã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Với hiệu quả kinh tế từ nuôi dê thương phẩm, Hội Nông dân xã Thọ Phong (Quảng Ngãi) đã thành lập Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi dê, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế bền vững. Mô hình nuôi dê tại Thọ Phong không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn khẳng định sức mạnh liên kết, giúp nông dân cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Sản phẩm nhung hươu ở Hà Tĩnh từ lâu trở thành thương hiệu đặc sắc. Tại vùng nuôi hươu sao các xã miền núi Hương Sơn, Quang Diệm, Sơn Giang..., không khí thu hoạch nhung hươu diễn ra nhộn nhịp. Khác với trước đây, hiện nay nhờ ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ chế biến sâu, đặc sản “tứ đại danh dược” này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho người dân mà còn dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng cả nước.

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Chắp cánh ước mơ cho trẻ em vùng biên

Giữa đại ngàn núi rừng, hai ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã A Lưới 3, A Lưới 4 (thành phố Huế) đang dần hình thành với quy mô khang trang, hiện đại. Đây là hai trong những công trình được Đảng, Nhà nước đầu tư xây dựng ở các xã vùng biên gồm: A Lưới 1, A Lưới 2, A Lưới 3, A Lưới 4, A Lưới 5.

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Khoa học kỹ thuật nâng giá trị cây thanh trà Vĩnh Long

Phường Đông Thành, tỉnh Vĩnh Long là vùng trồng đặc sản thanh trà của địa phương với hai loại chủ yếu là ngọt và chua - loại trái cây từng được xác lập Kỷ lục Việt Nam với 135 món ẩm thực độc đáo được chế biến từ nguyên liệu này.

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Nhà nông xây dựng thương hiệu hồ tiêu sạch hữu cơ

Với quyết tâm xây dựng vị thế cho hạt tiêu sạch, nhà nông ở tỉnh Đồng Nai đã chuyển dịch mạnh mẽ từ sản xuất truyền thống sang canh tác theo hướng hữu cơ vi sinh. Chính sự thay đổi từ tư duy đến hành động chính tại mỗi nông hộ trồng hồ tiêu đang góp phần nâng tầm giá trị nông sản địa phương, đồng thời mở ra hướng đi làm giàu bền vững.

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Mang tri thức, thắp lên hy vọng ở miền biên viễn

Giữa núi rừng biên giới, Bộ đội Biên phòng đóng quân nơi bản Piêng Vai, xã Mỹ Lý (tỉnh Nghệ An) đang rất nỗ lực mang ánh sáng tri thức đến với bà con. Trong lớp học xóa mù chữ do Đồn Biên phòng Mỹ Lý tổ chức, những người phụ nữ Mông lần đầu tiên cầm bút, tập ghép vần, viết tên mình.

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Chuyện nuôi ngựa thoát nghèo ở vùng biên Lạng Sơn

Hơn 10 năm qua, nhờ chăn nuôi ngựa bạch, gia đình ông Phùng Văn Lén ở thôn Vinh Tiên, xã Thống Nhất, tỉnh Lạng Sơn đã có của ăn của để. Thu nhập hằng năm ổn định, cao gấp nhiều lần so với làm kinh tế đồi rừng, giúp gia đình ông xây được nhà kiên cố và mua sắm đầy đủ trang thiết bị phục vụ đời sống, sinh hoạt.

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Phát triển vùng trồng hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn

Trong bối cảnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, việc hình thành các vùng sản xuất chuyên canh hoa, cây cảnh gắn với du lịch nông thôn đang mở ra hướng đi mới cho nhiều địa phương. Tại Hưng Yên, hướng đi này bước đầu cho thấy hiệu quả kinh tế và xã hội rõ rệt.

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Nuôi ong bạc hà thời công nghệ số trên Cao nguyên đá Đồng Văn

Trên Cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), nghề nuôi ong bạc hà từ lâu đã gắn bó với đời sống của người dân vùng cao, trở thành sinh kế quan trọng dựa vào điều kiện tự nhiên đặc thù. Trong bối cảnh hiện nay, cùng với quá trình chuyển đổi số trong nông nghiệp, nghề nuôi ong truyền thống đang được nâng tầm nhờ ứng dụng công nghệ 4.0, góp phần bảo tồn giá trị bản địa, nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định thương hiệu mật ong bạc hà Cao nguyên đá Đồng Văn.

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Nuôi lươn trong hồ xi măng giúp nông dân thu tiền tỷ

Tại xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau, mô hình nuôi lươn không bùn trong hồ xi măng phát triển mạnh. Mô nình này được đánh giá là dễ thực hiện, ít tốn diện tích đất, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều hộ nuôi qui mô lớn, đạt lợi nhuận tiền tỷ mỗi năm.

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Trên vùng đất khô cằn - nơi từng chỉ trồng lúa, ngô với năng suất thấp, cuộc sống của nhiều hộ dân ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ, nay là xã Yên Trị, tỉnh Phú Thọ đã đổi thay nhờ mạnh dạn từ bỏ lối canh tác cũ, chuyển sang trồng bưởi Diễn. Những quả vàng óng, ngọt lành không chỉ là trái ngọt từ bàn tay cần cù của người nông dân, mà còn là biểu tượng cho hành trình thoát nghèo, vươn ra biển lớn.

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Từ một con bò cái sinh sản - tưởng như chỉ là một khoản hỗ trợ đơn lẻ. Nhưng với cách làm bài bản, trách nhiệm và có cơ chế quay vòng rõ ràng, nhiều hộ nghèo đã có thêm “cần câu cơm” bền vững để thoát nghèo.