Lắng nghe ý kiến của đồng bào các dân tộc thiểu số Đồng bằng sông Cửu Long​

Ngày 24/12, tại phường Rạch Giá, tỉnh An Giang, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam tổ chức Hội nghị tiếp xúc với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

dan-toc-thieu-so-1-4830.jpg
Ông Hoàng Công Thuỷ, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, phát biểu khai mạc Hội nghị.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hoàng Công Thủy nhấn mạnh, hội nghị là dịp để MTTQ Việt Nam lắng nghe tiếng nói từ cơ sở, nhân dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số. Qua đó, MTTQ Việt Nam tổng hợp, phản ánh các ý kiến, tâm tư, nguyện vọng và sáng kiến của đồng bào dân tộc thiểu số đến Đảng, Nhà nước, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; hoàn thiện các chính sách trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

Hòa thượng Danh Đổng, Chủ tịch Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh An Giang, Trụ trì chùa Cà Nhung (xã Định Hòa), phát biểu.

Hòa thượng Danh Đổng, Chủ tịch Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh An Giang, Trụ trì chùa Cà Nhung (xã Định Hòa), phát biểu.

Hội nghị ghi nhận hàng chục lượt ý kiến tham luận, tập trung vào nhiều nội dung quan trọng. Đồng bào kiến nghị xây dựng các chính sách về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2035; nêu sáng kiến nhằm bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số tại tỉnh; phát huy nguồn lực trong nhân dân để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, đổi mới, sáng tạo và ứng dụng khoa học công nghệ trong mọi lĩnh vực tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Các ý kiến cũng nêu việc cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức và phương thức vận hành chính quyền địa phương hai cấp gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân; đề xuất hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm cho phụ nữ Khmer; tăng cường truyền thông, giáo dục sức khỏe bằng tiếng dân tộc thiểu số; hỗ trợ bảo hiểm y tế và chính sách an sinh trong đồng bào dân tộc thiểu số...

Các đại biểu dự Hội nghị.

Các đại biểu dự Hội nghị.

Ông Hoàng Công Thủy đánh giá cao các ý kiến tham luận tâm huyết, trách nhiệm, xuất phát từ thực tiễn đời sống của đồng bào các dân tộc trong vùng. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ghi nhận đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của đại biểu; chỉ đạo các ban chuyên môn tổng hợp, xây dựng báo cáo gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời gian tới, bảo đảm phúc đáp kịp thời nguyện vọng của đồng bào các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Ông Hoàng Công Thủy đề nghị cấp ủy Đảng, chính quyền và toàn thể đồng bào các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo; tiếp tục chủ động thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2026 - 2035.

Bà Trần Thị Thanh Hương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang, phát biểu.

Bà Trần Thị Thanh Hương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh An Giang, phát biểu.

Ủy ban MTTQ Việt Nam các tỉnh trong vùng chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền nắm bắt tâm tư, tình cảm, phản ánh, kiến nghị của đồng bào; tăng cường giám sát, phản biện xã hội, đặc biệt là giám sát cộng đồng đối với việc thực hiện các chính sách của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đồng bào dân tộc thiểu số…

Ông Thạch Anh Kiệt, người có uy tín trong cộng đồng người Hoa ở phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp, phát biểu ý kiến.

Ông Thạch Anh Kiệt, người có uy tín trong cộng đồng người Hoa ở phường Mỹ Tho, tỉnh Đồng Tháp, phát biểu ý kiến.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện gồm các tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cà Mau, An Giang; dân số khoảng 20,3 triệu người (chiếm hơn 20% dân số cả nước), với 44 dân tộc cùng sinh sống. Trong đó, có 43 dân tộc thiểu số, với dân số hơn 1,3 triệu người (chiếm 7,58% so với dân số toàn vùng), chủ yếu là dân tộc Khmer, Hoa, Chăm… Đồng bào các dân tộc sinh sống thành cộng đồng, đan xen với dân tộc Kinh.

Trong năm 2025, tình hình sản xuất, đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi các tỉnh trong vùng cơ bản ổn định. Cấp ủy, chính quyền các địa phương chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân tộc trên cơ sở bám sát các nghị quyết, quy định của Trung ương; chủ động, linh hoạt trong xây dựng các nghị quyết, chương trình, kế hoạch dựa vào điều kiện thực tế ở địa phương; tích cực thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719).

Các đại biểu dự Hội nghị.

Các đại biểu dự Hội nghị.

Kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, đường, trường học, trạm y tế tiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng, vấn đề thiếu đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được giải quyết; nhiều vấn đề tiêu cực xã hội được đẩy lùi; chất lượng nguồn nhân lực từng bước được cải thiện. Đồng bào dân tộc thiểu số từng bước tiếp cận những thành tựu khoa học kỹ thuật; được đào tạo thành công nhân kỹ thuật, cán bộ khoa học, doanh nhân và nhà quản lý; tình hình chính trị, xã hội cơ bản ổn định đã góp phần giữ vững khối đại đoàn kết các dân tộc.

Các địa phương tiếp tục phát huy vai trò của người có uy tín tiêu biểu, các ủy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp và tổ hòa giải ở cơ sở trong việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào; kịp thời giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh, không để các thế lực xấu lợi dụng, kích động, tạo “điểm nóng”./.

Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm
Dân tộc Hoa

Tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu.

Nhóm địa phương: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ...

Dân số: 823.071 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng).

Lịch sử: Người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX.

Hoạt động sản xuất: Người Hoa ở vùng nông thôn chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn họ làm nghề dịch vụ, buôn bán... Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như nghề gốm (Quảng Ninh, Sông Bé, Ðồng Nai), làm giấy súc, làm nhang (Thành phố Hồ Chí Minh)... Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, người Hoa luôn coi trọng chữ "tín".

Ăn: Lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu... Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.

Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng". Các loại trà sâm, hoa cúc... là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Những dịp hội hè, lễ, tết nam giới cũng quen dùng rượu. Thuốc lá được nhiều người hút, kể cả phụ nữ, nhất kà những người phụ nữ có tuổi.

Mặc: Những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo "sườn xám" may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Màu sắc trang phục của họ, nhất là các thiếu nữ thích màu hồng hoặc màu đỏ, cùng với các sắc màu đậm. Ðàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức, đặc biệt là vòng tay (bằng đồng, vàng, đá, ngọc...), bông tai, dây chuyền... Ðàn ông thích bịt răng vàng và xem như một lối trang sức.

: Những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm. Làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị họ thường sống tập trung trong các khu phố riêng.

Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hay trình đất, lợp ngói máng hay là quế, lá tre, phên lứa...

Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.

Quan hệ xã hội: Xã hội phân hoá giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao.

Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ. Những hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có các hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.

Gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Hiện nay, phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn (tuổi cưới trung bình là 28, 30) và số con ít nhất (trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con).

Lễ tết: Trong một năm có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Ðoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.

Tết Nguyên đán vào những năm cũ chuyển sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng (tết Nguyên tiêu). Lễ Nguyên tiêu là đặc trưng lễ tết của người Hoa, mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hoá truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.

Thờ cúng: Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, thờ cúng các vị thần phù hộ (thần bếp, thổ địa, thần tài...) và một số vị thánh và bồ tát (Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm...)

Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Ðó cũng là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ.

Học: Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông.

Văn nghệ: Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch... với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt...), chập choã... Hát "sơn ca" (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các "nhạc xã".

Múa lân, sư tử, rồng... là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn, ngày lễ tết.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Hoa
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành 4 trường nội trú vùng biên trước 25/8

Quảng Ngãi tăng tốc hoàn thành 4 trường nội trú vùng biên trước 25/8

Ngày 10/8, ông Hồ Văn Niên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy cùng đoàn công tác tỉnh Quảng Ngãi đã đi kiểm tra, nắm tình hình, tiến độ xây dựng 4 Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền Rờ Kơi, Mô Rai, Sa Loong và Dục Nông.

Giữ nghề dệt lanh, nối dài mạch nguồn văn hóa Mông

Giữ nghề dệt lanh, nối dài mạch nguồn văn hóa Mông

Trải qua nhiều thế hệ, nghề dệt lanh đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của đồng bào Mông ở xã Lùng Tám, tỉnh Tuyên Quang. Từ cây lanh trên nương, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ Mông, những sợi lanh được se, dệt, nhuộm, thêu thành những tấm vải mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

Chuyển từ tư duy triển khai nhiệm vụ sang kiến tạo giá trị

Chuyển từ tư duy triển khai nhiệm vụ sang kiến tạo giá trị

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", Phú Thọ đang từng bước đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực phát triển mới. Từ chính quyền số, cải cách hành chính, kinh tế số đến triển khai Đề án 06 của Chính phủ, nhiều kết quả bước đầu đã tạo chuyển biến rõ nét. Tuy nhiên, để chuyển đổi số trở thành nền tảng tăng trưởng nhanh, bền vững, Phú Thọ cần tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nhân lực và cơ chế.

Đồng Tháp: Nhộn nhịp thu hoạch lúa Hè Thu ở khu vực biên giới

Đồng Tháp: Nhộn nhịp thu hoạch lúa Hè Thu ở khu vực biên giới

Hiện nay, trên các cánh đồng ở những địa phương khu vực biên giới của tỉnh Đồng Tháp như: xã Thường Phước, Tân Hồng và phường Hồng Ngự, Thường Lạc đang nhộn nhịp bước vào vụ thu hoạch lúa Hè Thu. Vụ lúa năm nay, năng suất lúa đạt khá, tình hình tiêu thụ thuận lợi với giá cao hơn vụ lúa trước đó nên bà con nông dân phấn khởi.

Tiếp thêm điểm tựa cho các nạn nhân da cam

Tiếp thêm điểm tựa cho các nạn nhân da cam

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng nhiều nạn nhân chất độc da cam/dioxin tại tỉnh Lào Cai vẫn đang phải gánh chịu nhiều đau đớn về bệnh tật, thiếu thốn vật chất, trong đó nhiều người đang sinh sống trong những ngôi nhà cũ nát, xuống cấp. Thấu hiểu mất mát ấy, tỉnh Lào Cai triển khai nhiều giải pháp, huy động các nguồn lực giúp đỡ nạn nhân da cam có mái ấm an toàn, giúp họ từng bước vượt qua nghịch cảnh, ổn định cuộc sống.

Dân bản Na Ngân khắc phục tuyến đường độc đạo bị sạt lở do mưa lớn

Dân bản Na Ngân khắc phục tuyến đường độc đạo bị sạt lở do mưa lớn

Bản Na Ngân, xã Nga My, tỉnh Nghệ An có hơn 150 hộ dân với gần 740 nhân khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Thái. Bản nằm trong một thung lũng, bốn bề là núi đá và rừng già Pù Huống, cách trung tâm xã khoảng 20 km theo tuyến đường đất độc đạo vắt lưng chừng núi, một bên là vách đá, một bên là vực sâu và dòng suối Nậm Ngân. Mưa lớn kéo dài từ chiều 6/8 đã làm nhiều vị trí trên tuyến đường bị sạt lở, đất đá và cây rừng gãy đổ chắn ngang, khiến giao thông bị ách tắc, việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn nguy hiểm.

Hỗ trợ nước sạch cho học sinh mầm non vùng thiên tai

Hỗ trợ nước sạch cho học sinh mầm non vùng thiên tai

Ngày 9/8, Cơ quan Điều phối và Hợp tác Thổ Nhĩ Kỳ (TIKA) phối hợp với Trung tâm Phát triển Bền vững SUSDEC tổ chức bàn giao 12 công trình nước sạch cho các trường mầm non chịu ảnh hưởng bởi thiên tai tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị.

Mở rộng dạy tiếng Khmer cho đồng bào vùng biên giới

Mở rộng dạy tiếng Khmer cho đồng bào vùng biên giới

Tây Ninh sẽ từng bước mở rộng dạy học tiếng Khmer tại các cơ sở giáo dục thuộc các xã biên giới và khu vực có đông đồng bào dân tộc Khmer trong giai đoạn 2026-2030, trên cơ sở nhu cầu tự nguyện của học sinh, sự đồng thuận của cha mẹ học sinh và điều kiện bảo đảm của từng địa bàn.

Mưa lớn gây ngập cục bộ, chia cắt một số khu vực miền núi Quảng Trị

Mưa lớn gây ngập cục bộ, chia cắt một số khu vực miền núi Quảng Trị

Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và gió mạnh trên biển, từ đêm 8 đến sáng 9/8, khu vực miền núi tỉnh Quảng Trị xuất hiện mưa to đến rất to. Mưa lớn làm nước tại các sông, suối dâng cao, nhiều cầu tràn, ngầm tràn bị ngập, một số khu vực dân cư thấp trũng ngập cục bộ, giao thông tại một số điểm tạm thời bị chia cắt.

Người dân vùng lũ Mường Than vững tin xây dựng cuộc sống mới

Người dân vùng lũ Mường Than vững tin xây dựng cuộc sống mới

24 căn nhà mới đã đón người dân vào ở, 20 căn nhà đang khẩn trương xây, tiếp tục bố trí tái định cư cho hơn 250 hộ dân bị ảnh hưởng bởi lũ quét ở xã Mường Than (Lai Châu). Những cố gắng không ngừng nghỉ trong thời gian ngắn của cả hệ thống chính trị vì mục tiêu “còn nhân dân là còn tất cả”.

Quảng Ngãi: Tìm hướng 'hồi sinh' công trình nước sạch 1,8 tỷ đồng

Quảng Ngãi: Tìm hướng 'hồi sinh' công trình nước sạch 1,8 tỷ đồng

Được kỳ vọng cung cấp nước sạch cho khoảng 300 hộ dân, công trình cấp nước tập trung tại xã Bình Minh, tỉnh Quảng Ngãi lại rơi vào cảnh ngừng hoạt động do nhiều bất cập trong vận hành. Địa phương đang nghiên cứu phương án quản lý, sửa chữa để khai thác hiệu quả công trình, tránh lãng phí nguồn lực đầu tư.

Tiếp sức cho đồng bào khó khăn vùng biên cương Tổ quốc

Tiếp sức cho đồng bào khó khăn vùng biên cương Tổ quốc

Trong các ngày 7 và 8/8, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng (DSEZA) đã phối hợp với Cơ quan Thường trú khu vực miền Trung - Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV Miền Trung) và các đơn vị đồng hành tổ chức chương trình từ thiện, tiếp sức cho đồng bào nghèo tại xã biên giới Hùng Sơn (thành phố Đà Nẵng).

Đắk Lắk mở không gian phát triển mới từ rừng

Đắk Lắk mở không gian phát triển mới từ rừng

Tỉnh Đắk Lắk hiện có khoảng 743.171 ha đất có rừng, hệ sinh thái trải rộng từ rừng khộp, rừng thường xanh trên cao nguyên đến rừng núi thấp và vùng duyên hải, trong đó rừng tự nhiên hơn 530.868 ha, rừng trồng hơn 212.303 ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,06%. 

Nghệ An: Sạt lở nghiêm trọng, tỉnh lộ 543D tạm thời tê liệt

Nghệ An: Sạt lở nghiêm trọng, tỉnh lộ 543D tạm thời tê liệt

Mưa lớn liên tục trong nhiều ngày qua tại Nghệ An đã khiến đất đá từ mái taluy sạt lở, sụt trượt tràn xuống nhiều tuyến đường. Đặc biệt, tỉnh lộ 543D, đoạn qua địa bàn xã Mường Típ đã tạm thời bị tê liệt do nhiều điểm sạt lở với khối lượng đất đá lớn từ mái taluy dương đổ xuống, chắn ngang mặt đường, khiến giao thông bị chia cắt.

Nghệ An: Lũ cuốn trôi cầu tạm trên sông Nậm Nơn khiến 3 bản ở xã Mỹ Lý bị chia cắt

Nghệ An: Lũ cuốn trôi cầu tạm trên sông Nậm Nơn khiến 3 bản ở xã Mỹ Lý bị chia cắt

Thông tin từ UBND xã Mỹ Lý (Nghệ An) cho biết, từ ngày 3 đến ngày 7/8, trên địa bàn xã biên giới Mỹ Lý liên tục có mưa. Bên cạnh đó, lưu lượng nước từ thượng nguồn sông Nậm Nơn đổ về lớn đã cuốn trôi chiếc cầu tạm, khiến 3 bản Yên Hòa, Piêng Pèn và Nhọt Lợt (xã Mỹ Lý), nằm giáp biên giới Việt Nam - Lào, tạm thời bị chia cắt.

Tuyên Quang: Doanh nghiệp tăng, khu vực cá thể vẫn chiếm chủ đạo

Tuyên Quang: Doanh nghiệp tăng, khu vực cá thể vẫn chiếm chủ đạo

Kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 phác họa bức tranh tương đối toàn diện về các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang. Nổi bật là số doanh nghiệp và doanh thu tiếp tục tăng, khu vực dịch vụ giữ vai trò chủ đạo, trong khi các cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể vẫn chiếm hơn 90% tổng số đơn vị điều tra.

Mùa trái chín 'mở lối' cho du lịch nông nghiệp La Dạ

Mùa trái chín 'mở lối' cho du lịch nông nghiệp La Dạ

Những ngày này, xã La Dạ, tỉnh Lâm Đồng khoác lên mình sắc màu rực rỡ của mùa trái chín. Hàng trăm ha sầu riêng ở các thôn Đa Tro, La Dày, Đa Kim… đồng loạt vào vụ thu hoạch cùng những vườn bơ, măng cụt, mắc ca trĩu quả, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, trải nghiệm. Không khí càng thêm sôi động khi địa phương lần đầu tổ chức Lễ hội Trái cây xã La Dạ năm 2026 với chủ đề “Hương sắc La Dạ - Trái ngọt vươn xa”.

Sơ tán nhiều hộ dân tại Thanh Hóa do nứt núi

Sơ tán nhiều hộ dân tại Thanh Hóa do nứt núi

Tối 7/8, bà Vi Thị Trọng, Chủ tịch UBND xã Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa cho biết, do mưa lớn trong những ngày qua đã gây ra sạt lở đất tại một số tuyến đường. Mưa lớn cũng đã làm quả núi thuộc khu vực bản Thanh Sơn bị nứt ở taluy dương, vết nứt này kéo dài khoảng 100 mét, có vị trí rộng khoảng 0,8 cm. Đây là khu vực có 17 hộ dân và Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Quan Sơn.

Gỡ nút thắt cho y tế cơ sở tại Điện Biên

Gỡ nút thắt cho y tế cơ sở tại Điện Biên

Tại tỉnh Điện Biên, chương trình khám bệnh, chữa bệnh và tư vấn sức khỏe miễn phí đang giúp hàng trăm nghìn người dân được kiểm tra sức khỏe ngay tại địa phương. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực, hệ thống y tế cơ sở vẫn đối mặt với không ít khó khăn do thiếu trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh.

Kịp thời hỗ trợ các hộ dân bị cháy nhà tại xóm Chăm

Kịp thời hỗ trợ các hộ dân bị cháy nhà tại xóm Chăm

Chiều 7/8, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hậu (tỉnh An Giang) Huỳnh Hồ Thanh Huy cho biết, chính quyền địa phương đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ ban đầu 16 triệu đồng cho các hộ dân có nhà bị cháy tại xóm Chăm, ấp La Ma, giúp bà con vượt qua khó khăn, sớm ổn định cuộc sống.

Lún, nứt cục bộ tại Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa 'đã được tính toán trước'

Lún, nứt cục bộ tại Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa 'đã được tính toán trước'

Ngày 7/8, ông Hà Sỹ Sơn, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng, chủ đầu tư dự án Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa cho biết, sau khi dự án được đưa vào sử dụng, ngày 25/7 vừa qua, một số vị trí đã xuất hiện tình trạng lún, nứt cục bộ trên bề mặt, làm gãy vỡ đá lát nền tại một số vị trí trong khu vực.

Sơn La: Tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ tại Muổi Nọi

Sơn La: Tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ tại Muổi Nọi

Ngày 7/8, Đoàn công tác của Thiếu tướng Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Sơn La đã đi kiểm tra tình hình thiệt hại do mưa lũ và công tác khắc phục hậu quả tại xã Muổi Nọi, một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đợt mưa lớn kéo dài những ngày qua.

Điểm tựa giảm nghèo cho người dân vùng cao

Điểm tựa giảm nghèo cho người dân vùng cao

Giảm nghèo bền vững không chỉ là hỗ trợ trước mắt mà còn tạo sinh kế để người dân chủ động vươn lên. Tại Điện Biên, cùng với các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn tín dụng chính sách và nhiều mô hình hỗ trợ sản xuất đang trở thành điểm tựa giúp hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo từng bước ổn định cuộc sống.