Lợi ích kép từ mô hình trồng lúa chất lượng cao, giảm phát thải ở Trà Vinh

Nông dân tỉnh Trà Vinh đang vào vụ thu hoạch lúa Đông Xuân 2024–2025; trong đó các diện tích sản xuất theo Đề án “Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” tiếp tục cho thấy hiệu quả vượt trội so với phương thức canh tác truyền thống. Không chỉ giúp người dân tăng thu nhập, mô hình còn góp phần quan trọng vào việc giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường, thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh, bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp.

potal-de-an-1-trieu-hec-ta-lua-chuyen-canh-chat-luong-cao-va-phat-thai-thap-o-tra-vinh-7978667.jpg
Hợp tác xã Nông nghiệp Phước Hảo, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, thu hoạch lúa trong mô hình. Ảnh: Thanh Hòa - TTXVN

Giảm chi phí, tăng lợi nhuận

Tại huyện Châu Thành, gia đình ông Nghị Mân, thành viên Hợp tác xã Phát Tài vừa thu hoạch 4 ha lúa giống OM 5451; trong đó, 2 ha được canh tác theo mô hình của đề án. Kết quả, năng suất lúa trong mô hình đạt 8 tấn/ha, cao hơn ruộng ngoài mô hình trên 1 tấn/ha. Với giá bán 6.200 đồng/kg, gia đình ông đạt lợi nhuận gần 40 triệu/ha, cao hơn khoảng 10 triệu đồng/ha so với canh tác truyền thống.

Theo ông Mân, đây là vụ thứ 3 liên tiếp gia đình ông áp dụng mô hình sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải và đều đạt hiệu quả vượt trội. Vụ Hè Thu tới, ông dự kiến mở rộng thêm diện tích canh tác theo mô hình này.

Tương tự, gia đình ông Nguyễn Văn Phúc, thành viên Hợp tác xã nông nghiệp Phước Hảo đang thu hoạch 3 ha lúa giống ST24 theo mô hình của đề án, với năng suất đạt 8 tấn/ha, cao hơn 1,5 tấn/ha so với vụ trước. Ông Phúc chia sẻ, khi tham gia đề án, ông được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và ngành nông nghiệp địa phương hướng dẫn toàn bộ quy trình sản xuất lúa chất lượng cao giảm phát thải, biện pháp xử lý rơm rạ sau thu hoạch, phương pháp sạ cụm để giảm lượng giống gieo sạ, cách phòng trừ sâu bệnh…

“Lúa trong mô hình phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, năng suất cao; chi phí giảm khoảng 30% nhờ giảm lượng giống gieo sạ, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, hợp tác xã còn thu mua với giá cao hơn từ 15–20% so với thị trường, nên vụ Đông Xuân này gia đình tôi lãi 49 triệu đồng/ha, cao hơn 7 triệu đồng so với cách làm cũ,” ông Phúc cho biết.

Hợp tác xã nông nghiệp Phước Hảo và Hợp tác xã nông nghiệp Phát Tài, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là 2 trong 7 hợp tác xã ở 5 tỉnh, thành gồm Cần Thơ, Kiên Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng và Trà Vinh được Trung ương chọn triển khai thí điểm mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải từ vụ Hè Thu 2024 để nhân rộng ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Theo ông Phùng Duy Truyền, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Phước Hảo, vụ Đông Xuân năm nay là vụ thứ 3 liên tiếp hợp tác xã sản xuất thí điểm thành công, mang lại hiệu quả rõ rệt về kinh tế lẫn môi trường. Nhờ áp dụng kỹ thuật đồng bộ, năng suất lúa trong mô hình đạt khoảng 7,5 tấn/ha, cao hơn từ 5-10% so với ngoài mô hình. Sau khi trừ toàn bộ chi phí, lợi nhuận bình quân các thành viên tham gia đề án đạt 48,5 triệu đồng/ha, tăng từ 15–25% so với cách làm truyền thống.

“Chúng tôi chỉ sử dụng từ 60–70 kg giống/ha, giảm được 90–100 kg/ha so với tập quán canh tác trước đây. Đồng thời, lượng phân bón hóa học và số lần phun thuốc bảo vệ thực vật cũng được cắt giảm đáng kể, giúp hạ thấp chi phí sản xuất”, ông Truyền cho biết.

Lợi ích kép

Vụ lúa Đông Xuân 2024-2025, tỉnh Trà Vinh có 16 mô hình trồng lúa theo Đề án "Phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030", trên tổng hơn 883 ha; trong đó, 2 mô hình điểm 98,4 ha tại 2 hợp tác xã nông nghiệp Phát Tài và Phước Hảo; còn lại là huyện Càng Long gần 70 ha, huyện Cầu Kè trên 105 ha, huyện Tiểu Cần 210 ha, huyện Châu Thành 215 ha, huyện Cầu Ngang 70 ha và huyện Trà Cú 115 ha.

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Trà Vinh Lê Văn Đông cho biết, vụ Đông Xuân 2024-2025 là vụ sản xuất thứ 3 liên tiếp tỉnh Trà Vinh tham gia đề án và cả 3 vụ đều mang lại hiệu quả cao cho nông dân. Đây là mô hình canh tác mới, không chỉ góp phần cải thiện thu nhập cho người dân mà còn thúc đẩy mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhờ giảm lượng giống sử dụng khoảng 60% (giảm 90-100kg/ha so tập quán canh tác trước đây), giảm phân bón hoá học 20-30% và giảm số lần phun thuốc bảo vệ thực vật 2 lần/vụ nên chi phí sản xuất trong mô hình giảm từ 3- 4 triệu đồng/ha. Năng suất lúa trong mô hình đạt 6,7-7,5 tấn/ha, tăng khoảng 5-7% so với ngoài mô hình. Vì vậy, nông dân tham gia mô hình đạt lợi nhuận tăng thêm từ 20-30% (tương đương tăng 6,5-7,8 triệu đồng/ha). Đặc biệt, mô hình giảm lượng khí phát thải đến 40-50% so với tập quán canh tác cũ, góp phần bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững.

Điều quan trọng hơn là đến nay người dân địa phương đã dần thay đổi tư duy, nhận thức về việc sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, mạnh dạn áp dụng phương thức canh tác mới, đẩy mạnh sản xuất theo chuỗi giá trị. Theo kế hoạch, năm 2025, tỉnh Trà Vinh nhân rộng mô hình lên 10.550 ha áp dụng quy trình canh tác của đề án, đến cuối năm 2030 đạt 30.736 ha.

Thời gian qua, ngành nông nghiệp địa phương luôn đồng hành cùng nông dân trong quá trình triển khai đề án. Ngay từ khi đề án được phê duyệt, ngành nông nghiệp đã tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng và triển khai các kế hoạch theo từng giai đoạn và từng năm. Qua đó, các địa phương có cơ sở để tổ chức thực hiện một cách chủ động, quyết liệt, đảm bảo bám sát mục tiêu và tiến độ đề ra.

Từ 2 mô hình điểm của Trung ương, ngành đã phối hợp triển khai thêm nhiều mô hình điểm trên địa bàn để nhân rộng; thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn kỹ thuật theo Đề án để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nông dân.

Bên cạnh đó, ngành cũng tranh thủ các nguồn lực tập trung đầu tư nâng cấp hệ thống hạ tầng, đặc biệt là giao thông nội đồng và thủy lợi nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Dù đạt được những kết quả bước đầu tích cực, nhưng theo ông Lê Văn Đông, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, giảm phát thải vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Tại Trà Vinh, quy mô sản xuất lúa vẫn chủ yếu nhỏ lẻ, phân tán. Các vùng chuyên canh quy mô lớn còn hạn chế, thiếu sự liên kết hiệu quả giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Dù toàn tỉnh hiện có khoảng 20% diện tích sản xuất lúa tham gia vào các loại hình kinh tế hợp tác, tuy nhiên phần lớn hoạt động còn “lỏng lẻo”, hiệu quả thấp.

Việc thiếu vắng các doanh nghiệp đóng vai trò đầu tàu trong đầu tư và bao tiêu sản phẩm khiến chuỗi giá trị sản xuất lúa theo Đề án chưa khẳng định đúng giá trị thực của sản phẩm. Thêm một rào cản lớn là hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất còn thiếu và yếu, chưa đồng bộ. Nhiều khu vực chưa đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật để áp dụng quy trình sản xuất lúa chất lượng cao và phát thải thấp. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả canh tác và khả năng nhân rộng mô hình.

Bên cạnh đó, do thiếu vốn sản xuất nên các hợp tác xã còn hạn chế trong đầu tư máy móc hiện đại, nhất là thiết bị để gieo sạ, hệ thống kho chứa quy mô lớn phục vụ bảo quản, chế biến lúa gạo…

Để phát triển và mở rộng diện tích chuyên canh lúa chất lượng cao theo hướng giảm phát thải, ông Lê Văn Đông cho rằng địa phương cần tập trung quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với xây dựng mã số vùng trồng tại các khu vực tham gia đề án.

Tỉnh cần ưu tiên đầu tư, nâng cấp đồng bộ hạ tầng vùng sản xuất, đặc biệt là hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu, hạ tầng giao thông phục vụ vận chuyển hàng hóa và cơ giới hóa đồng bộ để thuận lợi trong áp dụng quy trình kỹ thuật trong quá trình sản xuất.

Ngành nông nghiệp sẽ phối hợp với các ngành liên quan, các địa phương tập trung củng cố, nâng chất, thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp đủ năng lực tham gia Đề án. Bởi đây là lực lượng nòng cốt để tổ chức sản xuất theo hướng tập trung, đồng bộ và dễ dàng áp dụng tiến bộ kỹ thuật cũng như thực hiện liên kết chuỗi. Ngành cũng tích cực kêu gọi doanh nghiệp đầu tư, bao tiêu sản phẩm; khuyến khích các hợp tác xã mạnh dạn đầu tư máy móc, thiết bị, kho chứa, nhà sấy, nhà máy chế biến… nhằm nâng cao năng lực sản xuất, bảo quản và chế biến lúa gạo.

Để hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, ngành chức năng đang triển khai các cơ chế, chính sách của Trung ương và địa phương về đầu tư cho sản xuất, kinh doanh lúa gạo. Đồng thời, Trà Vinh đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ xây dựng thương hiệu lúa gạo carbon thấp, kêu gọi doanh nghiệp tham gia đầu tư, bao tiêu sản phẩm và cấp mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ, xuất khẩu...

Thanh Hòa

(TTXVN)

Có thể bạn quan tâm

Kiểm soát, ngăn dịch tả lợn châu Phi từ biên giới

Kiểm soát, ngăn dịch tả lợn châu Phi từ biên giới

Dịch tả lợn châu Phi vẫn xuất hiện rải rác tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và có nguy cơ lan rộng, ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi địa phương. Trước thực tế đó, Chi cục Chăn nuôi, Thủy sản và Thú y tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch, không để dịch bệnh lan rộng...

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài cuối: Biến thách thức thành động lực tăng trưởng mới

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài cuối: Biến thách thức thành động lực tăng trưởng mới

Sau một năm tập trung xử lý khối lượng công việc liên quan đến tổ chức bộ máy, tỉnh Phú Thọ đang bước sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu ổn định nền hành chính, nhanh chóng biến không gian kinh tế mở rộng thành lợi thế cạnh tranh mới. Tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, công nghiệp và cải cách môi trường đầu tư đang trở thành những trụ cột quan trọng để tỉnh khẳng định vị thế mới trên bản đồ kinh tế phía Bắc.

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài 1: Kiến tạo mô hình quản trị hiện đại

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài 1: Kiến tạo mô hình quản trị hiện đại

Sau một năm hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình thành tỉnh Phú Thọ mới, địa phương đang dần vượt qua giai đoạn nhiều thách thức nhất để bước vào quá trình vận hành ổn định. Đằng sau kết quả bước đầu ấy là khối lượng công việc lớn chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi nỗ lực đặc biệt lớn của cả hệ thống chính trị trong việc tái thiết bộ máy, thống nhất quản trị và tạo nền tảng cho một cực tăng trưởng mới ở phía Bắc.

Học tập suốt đời - nền tảng nâng cao chỉ số hạnh phúc

Học tập suốt đời - nền tảng nâng cao chỉ số hạnh phúc

Học tập giúp nông dân làm chủ công nghệ mới để tăng năng suất, công nhân nâng cao tay nghề để bảo đảm thu nhập, giúp người cao tuổi sống vui, sống khỏe, trí tuệ minh mẫn. Học tập suốt đời chính là gốc rễ của cuộc sống hạnh phúc thực chất và vững bền.

100% thôn, làng ở Quảng Ngãi có sóng điện thoại và Internet

100% thôn, làng ở Quảng Ngãi có sóng điện thoại và Internet

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Đắk Lắk khẩn trương khắc phục các tuyến đường trước mùa mưa bão

Đắk Lắk khẩn trương khắc phục các tuyến đường trước mùa mưa bão

Nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bị hư hỏng do mưa lũ gây ra đang được các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ sửa chữa, khắc phục. Không chỉ nỗ lực để sớm đưa vào sử dụng tránh tình trạng “thiên tai chồng thiên tai”, các tuyến đường này còn “chạy đua” hoàn thành, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn cho người dân và các phương tiện vận tải.

Tuần tra song phương trên biên giới Việt - Lào

Tuần tra song phương trên biên giới Việt - Lào

Ngày 25/6, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị) phối hợp với Đại đội Biên phòng 320 và Đại đội Biên phòng 321 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Savannakhet (Lào) tổ chức tuần tra song phương trên đoạn biên giới từ mốc quốc giới 593 đến mốc 594; từ mốc 597 đến mốc 598.

Bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Là địa phương có trên 60% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Lào Cai xác định đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao hiệu quả công tác quản lý, vận động nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Tạo sức bật cho thương hiệu chè Tủa Chùa, Điện Biên

Tạo sức bật cho thương hiệu chè Tủa Chùa, Điện Biên

Gắn bó với đời sống của đồng bào dân tộc từ nhiều thế hệ, chè Tủa Chùa (Điện Biên) không chỉ là sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa vùng cao; giờ đây còn là cây trồng chủ lực, tạo nguồn thu nhập ổn định và góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Đắk Lắk khởi công loạt nhà máy sản xuất công nghiệp giá trị gia tăng cao

Đắk Lắk khởi công loạt nhà máy sản xuất công nghiệp giá trị gia tăng cao

Sáng 25/6, tại Khu công nghiệp Hòa Hiệp 1 (phường Hòa Hiệp, tỉnh Đắk Lắk), Ban Quản lý Khu kinh tế Phú Yên tổ chức Lễ khởi công 3 dự án sản xuất công nghiệp mới gồm: Nhà máy sản xuất phân bón Agrilong - Green World, Nhà máy chế biến thực phẩm đóng hộp Bá Hải, Nhà máy sản xuất sơ mi rơ-moóc và phụ tùng Kotinochi Phú Yên... Đây là các dự án đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư của đơn vị: Công ty CP Hoàng Long Vina, Công ty CP Bá Hải và Công ty CP Kotinochi.

Chuyển đổi số tạo động lực nâng tầm sản phẩm OCOP

Chuyển đổi số tạo động lực nâng tầm sản phẩm OCOP

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đang trở thành động lực quan trọng để các xã Lạc Lương và Yên Trị, tỉnh Phú Thọ (trước đây là vùng Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ) mở ra cơ hội phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế nâng cao giá trị sản phẩm đặc trưng và sức cạnh tranh trong chuyển đổi số và hội nhập kinh tế.

Hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến trước 20/7

Hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến trước 20/7

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung toàn lực, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp xã nhằm đẩy nhanh tiến độ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Cao Bằng cấp phát hơn 1.560 tấn gạo hỗ trợ người dân

Cao Bằng cấp phát hơn 1.560 tấn gạo hỗ trợ người dân

Từ ngày 17-30/6, các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng triển khai cấp phát 1.568 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để hỗ trợ người dân trong thời kỳ giáp hạt năm 2026. Đối tượng thụ hưởng là các hộ nghèo, hộ cận nghèo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn, với mức hỗ trợ 15 kg gạo/người.

Phát triển kinh tế tầm thấp: Mở đường cho một lĩnh vực mới

Phát triển kinh tế tầm thấp: Mở đường cho một lĩnh vực mới

Với địa hình chia cắt, nhiều khu vực cách xa trung tâm hàng chục km, Điện Biên từ lâu đối mặt với bài toán chi phí vận chuyển cao và khả năng tiếp cận dịch vụ còn hạn chế ở vùng sâu, vùng xa. Đây cũng là lý do tỉnh được lựa chọn để triển khai một mô hình thử nghiệm mới: Phát triển kinh tế tầm thấp bằng phương tiện bay không người lái (UAV).

Biên cương vững chãi từ những cụm dân cư

Biên cương vững chãi từ những cụm dân cư

Từ chủ trương mang tính chiến lược của Đảng, Nhà nước, các cụm, điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới trên địa bàn Tây Ninh đang phát huy hiệu quả rõ nét.

Người uy tín - điểm tựa của bản làng nơi biên giới

Người uy tín - điểm tựa của bản làng nơi biên giới

Ngày 23/6, UBND tỉnh Lai Châu tổ chức Chương trình “Điểm tựa của bản làng” năm 2026 nhằm tôn vinh và tri ân trưởng bản, người có uy tín tiêu biểu khu vực biên giới của tỉnh. Hoạt động thể hiện sự ghi nhận đối với những cá nhân đã và đang đóng góp quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Khai mạc Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc 2026

Khai mạc Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc 2026

Tối 22/6, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tỉnh Tây Ninh (phường Tân Ninh), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh phối hợp Cục Thể dục Thể thao Việt Nam tổ chức Lễ khai mạc Giải vô địch Kun Khmer các đội mạnh toàn quốc năm 2026.