Để mở rộng thị trường và nâng tầm các đặc sản vùng cao, Lào Cai xác định xây dựng các sản phẩm OCOP (Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm") theo hướng xanh và số hóa, hoàn thiện chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập cho người dân.
OCOP xanh
"OCOP xanh" được Lào Cai xác định là xu hướng phát triển gắn với sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường và khai thác hiệu quả tài nguyên bản địa, tạo sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc vùng cao, vùng sâu.
Những ngày hè oi ả đầu tháng 6, đồng bào dân tộc Dao của thôn Van Hồ, xã Bát Xát, bắt đầu bước vào vụ thu hoạch dưa hấu chính vụ. Nhiều năm nay, tận dụng diện tích đất nhàn rỗi ở những mảnh ruộng trồng lúa 1 vụ, người dân trong thôn tích cực gieo trồng và chăm sóc khoảng 20 ha dưa. Sau nhiều tháng, dưa cho trái ngọt, mang lại nguồn thu nhập đáng kể.
Vụ dưa này, sau khi trừ chi phí, gia đình chị Chảo Tả Mẩy thu về khoảng hơn 20 triệu đồng từ hơn 3 sào dưa hấu. Nhờ chăm sóc tốt nên dưa phát triển ổn định, quả đều, ngọt; năng suất đạt từ 10 - 12 tấn/ha; với giá bán trung bình từ 10 - 15 nghìn đồng/kg. Theo chị Mẩy, cây dưa hấu rất phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây. Thời gian sinh trưởng ngắn, dễ chăm sóc, vốn đầu tư không quá lớn do tận dụng nguồn phân chuồng tại chỗ. Do đó, những năm gần đây, nhiều hộ trong thôn đã mạnh dạn mở rộng diện tích, áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Để nâng cao hiệu quả sản xuất, các hộ dân đã liên kết tham gia Tổ hợp tác trồng dưa hấu Phìn Ngan với gần 30 thành viên. Sản phẩm của Tổ hợp tác trồng dưa hấu Phìn Ngan đã đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao từ năm 2024. Theo Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã Bát Xát, vụ dưa năm nay trên địa bàn xã cơ bản đạt cả về năng suất và chất lượng, thị trường tiêu thụ tốt. Trong quá trình sản xuất, người dân được cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật từ khâu làm đất, chọn giống, chăm sóc đến phòng trừ sâu bệnh. Điều đáng nói, các hộ dân chú trọng đến việc sử dụng phân bón hữu cơ, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Trà Shan tuyết hữu cơ Bản Liền là sản phẩm OCOP 5 sao đầu tiên của Lào Cai (2019) và là niềm tự hào của người Tày nơi đây. Gần 20 năm qua, Hợp tác xã Chè Bản Liền đã liên kết hơn 300 hộ sản xuất, duy trì gần 1.219 ha chè đạt chuẩn hữu cơ, sản phẩm đã đa dạng với 8 - 10 dòng, từ chè xanh, hồng trà, chè nhài, chè bánh đến chè ép… Sự liên kết sản xuất đã giúp thu nhập của người dân từ cây chè đạt trên 150 triệu đồng/năm.
Ông Lương Mạnh Hà, Chủ tịch UBND xã Bản Liền, chia sẻ: “Người dân tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật, tuân thủ quy trình hữu cơ để nâng tầm thương hiệu trà Shan tuyết”. Đặc biệt, bà con tuân thủ tới 25 tiêu chuẩn quốc tế trong canh tác và chế biến. Hiện 90% sản lượng chè được xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ, Canada, góp phần giúp thu nhập của xã viên ổn định, sản lượng xuất khẩu tăng trung bình 10 - 15%/năm.
Với thương hiệu “Giọt vàng vùng cao”, Hợp tác xã Thế Tuấn, xã Chiềng Ken đã cho ra đời gần 30 sản phẩm từ cây dược liệu bản địa như tinh dầu đài bi, hương nhu, tinh dầu quýt, tinh dầu màng tang (hạt tiêu rừng), tinh dầu tía tô, cao tía tô, tinh dầu mắc khén, trà tía tô, sản phẩm chăm sóc da từ lá tía tô… Đây đều là những sản phẩm thiên nhiên tốt cho sức khỏe, lại có sẵn trên địa bàn. Trong số này có 4 sản phẩm được công nhận OCOP 3 sao cấp tỉnh.
Theo Giám đốc Hợp tác xã An Văn Tuấn, lợi thế của hợp tác xã là nguồn nguyên liệu tự nhiên sẵn có. Với khả năng tái sinh bằng hạt và rễ rất tốt nên các loại dược liệu nhân giống nhanh. Nếu khai thác một cách khoa học, đây sẽ là nguồn thu cho người trồng và chăm sóc rừng. Hơn nữa, chi phí đầu tư ban đầu thấp, chỉ cần khoanh nuôi nên các hộ tham gia liên kết đều có thể cùng sản xuất, thu hái.
Số hóa để nâng tầm OCOP
Nếu như chuyển đổi xanh là nền tảng thì chuyển đổi số được tỉnh Lào Cai xác định là khâu đột phá, tạo sức bật để nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm OCOP. Trên thực tế, các hộ nông dân, chủ thể OCOP tại vùng cao Lào Cai hiện không cần chờ thương lái hay vất vả mang hàng ra chợ, giờ đây đã tự tin dùng điện thoại để livestream bán nông sản, đưa sản phẩm dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng hơn.
Sau một thời gian tìm hiểu thị trường và nhu cầu khách hàng, chị Lèo Thị Thúy, chủ cơ sở sản xuất thịt trâu sấy, lợn sấy... tại xã Bát Xát quyết định thường xuyên livestream vào buổi tối vì đó là thời điểm người xem nhiều nhất. Trong quá trình livestream, chị cho khán giả xem tường tận các khâu chế biến, quá trình đảo thịt, sấy thịt tại các lò. Từ đây, nhiều mối khách sỉ đã tìm đến chị tiêu thụ hàng hóa khắp cả nước.
Cơ sở của chị Thúy kinh doanh 11 sản phẩm, trong đó có 4 sản phẩm đạt OCOP 3 sao là: thịt trâu sấy, thịt lợn sấy, lạp xưởng và thịt vai sấy héo. Chị Thúy cho biết, việc chuyển sang bán hàng trên môi trường số thực sự mang lại nhiều tiện ích so với bán hàng truyền thống. 80% hàng hóa của cơ sở được bán trên sàn thương mại điện tử và nền tảng số. Các đơn hàng được người mua chốt nhanh chóng, thuận tiện thông qua mạng xã hội TikTok hoặc livestream.
"Với ưu điểm thanh toán không bị nợ tiền hàng, vốn xoay vòng nhanh, hàng trăm đơn/ngày, trên 80% doanh thu của cơ sở đến từ quá trình bán hàng trên nền tảng số", chị Thúy chia sẻ. Thay vì phụ thuộc vào kênh bán hàng truyền thống, Hợp tác xã Thế Tuấn, xã Chiềng Ken đã livestream mỗi ngày và tự sản xuất các video ngắn giới thiệu sản phẩm và nguồn gốc sản phẩm. Nhờ đó, bên cạnh các gian hàng trên Shopee, Tiki, Lazada, Hợp tác xã đã xây dựng được các trang TikTok, Facebook với lượt tương tác cao, giúp sản phẩm được đông khách hàng biết đến và đặt mua, mang lại sự phát triển ổn định cho hợp tác xã.
Anh An Văn Tuấn, Giám đốc Hợp tác xã Thế Tuấn cho biết, những ngày đầu thực hiện livestream, anh và người dân trong bản gặp không ít khó khăn do tâm lý e ngại, chưa quen với việc giới thiệu sản phẩm trước máy quay. Qua quá trình tương tác với khách hàng, mọi người từng bước xây dựng cách giới thiệu sản phẩm phù hợp, chủ động kết nối khách hàng và dần mở rộng thị trường tiêu thụ.
Hiện Lào Cai có hơn 600 sản phẩm OCOP từ 3 đến 5 sao. Năm 2026, tỉnh Lào Cai xác định tiếp tục đẩy mạnh Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) như một giải pháp trọng tâm để phát triển kinh tế nông thôn. Tỉnh đặt mục tiêu ít nhất 30% chủ thể OCOP xây dựng được chuỗi giá trị theo hướng “OCOP xanh”, gắn với vùng nguyên liệu ổn định và sản xuất bền vững. Ít nhất 50% chủ thể OCOP tham gia vào các kênh bán hàng hiện đại (hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi, sàn giao dịch thương mại điện tử…); 100% sản phẩm OCOP được đưa lên các sàn thương mại điện tử, có gian hàng số và tích hợp thanh toán điện tử.
Để đạt được mục tiêu đề ra, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong truyền thông đa phương tiện về Chương trình OCOP; xây dựng hồ sơ và quản lý dữ liệu sản phẩm OCOP, số hóa quá trình tiếp nhận hồ sơ, chấm điểm, phân hạng sản phẩm; số hóa sản phẩm và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trị OCOP. 100% các sản phẩm đánh giá mới đạt từ 3 sao trở lên được hỗ trợ bổ sung logo OCOP vào bao bì sản phẩm, 80% chủ thể có sản phẩm được chứng nhận OCOP có website riêng phục vụ quảng bá và xúc tiến thương mại điện tử./.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn