Câu lạc bộ múa dân tộc xã Nha Bích (thành phố Đồng Nai) ra đời năm 2021, đến nay đã thu hút 35 thành viên, chia thành nhóm múa đương đại và nhóm múa dân tộc. Đây là lực lượng nòng cốt đoàn kết, tập hợp thanh niên là người đồng bào dân tộc thiểu số xã Nha Bích.
Chị Thạch Thị Kiều Oanh (dân tộc Khmer), Chủ nhiệm Câu lạc bộ múa dân tộc xã Nha Bích cho biết: Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các điệu múa đặc sắc góp phần đẩy mạnh phong trào văn nghệ phục vụ các sự kiện của địa phương, Đoàn Thanh niên, tạo sợi dây kết nối các bạn trẻ. Thông qua các hoạt động, thành viên của câu lạc bộ được chia sẻ, học hỏi và cùng nhau vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
Ngay từ khi mới thành lập, Ban Chủ nhiệm đã chủ động xây dựng đề án với mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình triển khai rõ ràng theo từng giai đoạn để câu lạc bộ đi vào hoạt động hiệu quả. Đơn vị xây dựng lịch tập luyện định kỳ, khéo léo lựa chọn các điệu múa vừa phù hợp, đậm bản sắc văn hóa địa phương. Công tác truyền thông được đẩy mạnh qua hệ thống loa phát thanh, mạng xã hội và các buổi sinh hoạt cộng đồng để lan tỏa mô hình. Ban Chủ nhiệm chủ động phối hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, già làng, người có uy tín để mở rộng lực lượng và nâng cao hiệu quả hoạt động. Mỗi khi rảnh rỗi, chị Thạch Thị Kiều Oanh cùng các thành viên trong đội lại say sưa tập luyện. Niềm đam mê với vũ điệu đã lớn lên cùng chị mỗi mùa lễ hội, ngày Tết của đồng bào. Không muốn để di sản của cha ông mai một nên chị cùng các thành viên đã thành lập nhóm múa này như một sân chơi thỏa mãn đam mê, tạo sợi dây kết nối cộng đồng, lan tỏa tình yêu di sản văn hóa dân tộc qua các thế hệ. Chị nói, mỗi người trẻ biết múa, biết trân trọng cội nguồn chính là một hạt nhân tiếp nối, giúp bản sắc Khmer được tiếp tục phát huy. Chị luôn mong muốn những vũ điệu Khmer sẽ còn vang mãi và bay xa hơn nữa, thế nên, việc truyền lửa cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ cấp thiết nhất hiện nay.
Chị Lâm Thị Mỹ Lệ là một thành viên của câu lạc bộ múa, luôn xem mỗi buổi sinh hoạt cuối tuần là khoảng thời gian để kết nối thế hệ. Chị cùng các chị em khác cố gắng học từng điệu múa, mặc trang phục dân tộc khi biểu diễn, chị thấy rất vui và càng thêm tự hào và mong mouons giữ gìn bản sắc dân. Chị chủ động cùng Ban chủ nhiệm tìm kiếm, vận động thêm nhiều bạn trẻ tham gia câu lạc bộ, góp một phần công sức để tiếng nhạc, điệu múa và nét đẹp văn hóa độc đáo của dân tộc được duy trì qua nhiều thế hệ.
Ông Thạch Bình, người có uy tín tại xã Nha Bích luôn tâm huyết, không quản ngại khó khăn “đi từng ngõ, gõ từng nhà” để vận động bà con và thế hệ trẻ trong ấp ý thức giữ gìn phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc mình. Ông chia sẻ: Những điệu múa Khmer chính là dòng chảy tâm hồn của cha ông, cần phải được các thế hệ nối tiếp nhau gìn giữ, phát huy. Bản thân ông luôn tự hào khi được góp sức lan tỏa nét đẹp của từng điệu múa, phong tục truyền thống độc đáo. Ông cũng mong muốn phong trào gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa không chỉ dừng lại ở Nha Bích, mà ngày càng lan tỏa mạnh mẽ sang các địa phương khác.
Bí thư Đoàn xã Nha Bích Lâm Thanh Tú thông tin, thời gian qua, Câu lạc bộ múa dân tộc xã Nha Bích đã gìn giữ, khôi phục nhiều điệu múa của đồng bào người Khmer, S’tiêng... tạo môi trường sinh hoạt văn hóa lành mạnh và giàu bản sắc. Các buổi biểu diễn góp phần nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên về tầm quan trọng của việc gìn giữ di sản văn hóa truyền thống, kết nối các thế hệ, góp phần xây dựng đời sống văn hóa tại cơ sở ngày càng phong phú. Câu lạc bộ còn hỗ trợ vận động nguồn lực trong chương trình tiếp bước em đến trường; phối hợp trao tặng thẻ bảo hiểm y tế, trao tặng học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số…
Để tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, xã Nha Bích đã đẩy mạnh tuyên truyền, tập trung vào việc nâng cao nhận thức của người dân, nhất là thế hệ trẻ về ý nghĩa, giá trị của văn hóa truyền thống dân tộc Khmer. Địa phương cũng vận động các nghệ nhân, người có uy tín và thành viên câu lạc bộ tích cực tham gia truyền dạy các điệu múa dân gian cho thanh thiếu niên. UBND xã Nha Bích luôn tạo điều kiện để Câu lạc bộ múa Khmer tham gia biểu diễn tại các sự kiện, lễ hội địa phương nhằm lan tỏa những giá trị nghệ thuật đặc sắc đến cộng đồng. Đặc biệt, xã đã ban hành kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Địa phương chú trọng mở các lớp truyền dạy di sản, phục dựng lễ hội truyền thống, triển khai đồng bộ nhiều hoạt động giới thiệu, quảng bá nét đẹp văn hóa độc đáo này. Thời gian tới, xã Nha Bích sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các ngành, đoàn thể nhằm phát huy tối đa vai trò của già làng, người có uy tín, nghệ nhân và các câu lạc bộ trong tuyên truyền, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, làm phong phú đời sống văn hóa cơ sở, đồng thời thúc đẩy phát triển du lịch tại địa phương.../.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn