'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

Vụ chè xuân Shan tuyết đang vào chính vụ tại các xã vùng cao, vùng biên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh như: Thanh Thủy, Cao Bồ, Lao Chải (Tuyên Quang). Những năm gần đây, cây chè không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Nguồn sinh kế từ "vàng xanh"

che-280426.jpg
Đồng bào người Dao ở vùng biên Thanh Thủy (Tuyên Quang) phấn khởi hái chè xuân trên dãy Tây Côn Lĩnh.

Những ngày cuối tháng 4, trên vùng chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi, những người đàn ông, phụ nữ các dân tộc như: Dao, Tày… cần mẫn hái từng búp chè Shan tuyết non xanh. Giữa không gian núi rừng, tiếng cười nói rộn ràng, tạo nên bức tranh lao động đầy sức sống nơi vùng cao dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh.

Vụ chè xuân Shan tuyết thường bắt đầu từ khoảng tháng 3 và kéo dài đến hết tháng 5. Đây là thời điểm cây chè sinh trưởng mạnh, cho búp non chất lượng cao, hương vị đậm đà đặc trưng. Vì vậy, vụ xuân được xem là vụ chè quan trọng nhất trong năm, vừa cho sản lượng tốt, vừa mang lại giá trị kinh tế cao.

Cao Bồ là một trong những xã có diện tích chè Shan tuyết lớn, với hơn 820 ha; trong đó trên 757 ha đang cho thu hoạch. Nhiều cây chè hàng trăm năm tuổi đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, tạo nên thương hiệu riêng cho vùng chè. Từ chỗ khai thác tự nhiên, người dân đã chuyển sang chăm sóc, thu hái theo tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng sản phẩm, coi cây chè là nguồn sinh kế chính.

Ông Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch UBND xã Cao Bồ cho biết, những năm gần đây, cây chè Shan tuyết đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét, giúp nhiều hộ dân thoát nghèo, đời sống từng bước ổn định. Địa phương tiếp tục định hướng phát triển chè theo hướng hàng hóa, gắn với xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị.

che2-280426.jpg
Đồng bào người Dao ở vùng biên Thanh Thủy (Tuyên Quang) phấn khởi hái vụ chè xuân trên dãy Tây Côn Lĩnh.

Không chỉ ở Cao Bồ, tại các xã biên giới như: Thanh Thủy, Lao Chải..., cây chè Shan tuyết cũng đang trở thành "cây xóa nghèo". Toàn xã Thanh Thủy hiện có 362,5 ha chè, năng suất bình quân đạt khoảng 95 tạ/ha. Những đồi chè trải dài nơi biên cương không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn góp phần giữ đất, giữ rừng, ổn định dân cư.

Chị Bàn Thị Hom, xã Thanh Thủy chia sẻ: "Gia đình tôi gắn bó với cây chè nhiều năm nay. Trước đây thu nhập bấp bênh, nhưng vài năm gần đây, nhờ chè Shan tuyết được giá, lại có hợp tác xã thu mua ổn định nên cuộc sống đỡ vất vả hơn. Mỗi vụ chè xuân cũng mang lại nguồn thu khá, giúp gia đình trang trải sinh hoạt và từng bước ổn định cuộc sống".

Ông Lê Mạnh Dũng, Chủ tịch UBND xã Thanh Thủy nhấn mạnh: "Chè Shan tuyết là cây trồng chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo bền vững. Nhờ phát triển cây chè, đời sống người dân vùng biên ngày càng được cải thiện, kinh tế dần ổn định hơn. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục gắn phát triển vùng chè với du lịch trải nghiệm, từng bước khai thác giá trị cảnh quan, văn hóa để nâng cao thu nhập cho người dân".

Liên kết sản xuất, nâng cao giá trị chè Shan tuyết

che3-280426.jpg
Chè Shan tuyết cổ thụ được người dân bảo quản kỹ lưỡng để giữ hương vị đậm đà.

Từ sản xuất nhỏ lẻ, những năm gần đây, các xã dưới chân Tây Côn Lĩnh đã đẩy mạnh liên kết trong trồng, chăm sóc và chế biến chè Shan tuyết. Người dân tham gia vào các tổ hợp tác, hợp tác xã được hỗ trợ kỹ thuật, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm.

Ông Nông Khánh Toàn, Chủ tịch UBND xã Lao Chải cho hay, trong thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh cây chè Shan tuyết, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân mở rộng diện tích gắn với nâng cao chất lượng. Đồng thời, tăng cường liên kết sản xuất, thu hút các hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia chế biến, tiêu thụ sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu chè đặc trưng, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế bền vững cho người dân vùng biên.

Các hợp tác xã và cơ sở chế biến chè trên địa bàn đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị sản phẩm. Nhiều sản phẩm chè Shan tuyết được công nhận đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao cấp tỉnh, với sản lượng từ vài trăm kg đến hàng tấn chè khô/năm, từng bước mở rộng thị trường và khẳng định thương hiệu.

che4-280426.jpg
Nhiều đoàn đến tham quan, học tập mô hình sản xuất, chế biến chè ở xã vùng biên Thanh Thủy (Tuyên Quang).

Ông Đặng Văn Háu, đại diện Hợp tác xã Trà Pèng, xã Thanh Thủy chia sẻ: "Khi tham gia hợp tác xã, người dân được hỗ trợ kỹ thuật, sản phẩm làm ra đồng đều, chất lượng cao hơn nên bán được giá tốt. Nhờ đó, thu nhập ổn định, nhiều hộ đã thoát nghèo và có tích lũy".

Mô hình liên kết giữa người dân – hợp tác xã – doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Người dân được hướng dẫn quy trình thu hái, chế biến, sản phẩm được bao tiêu với giá ổn định. Giá chè vì thế ngày càng được nâng cao, phổ biến từ 300.000 - 700.000 đồng/kg; nhiều dòng chè đặc sản có giá trên 1 triệu đồng/kg.

Nghệ nhân Tráng Văn Nhụi, thôn Tham Vè, xã Cao Bồ cho biết, chè Shan tuyết ở đây có hương vị rất riêng. Trước kia chủ yếu bán tươi nên giá trị thấp, nay chú trọng chế biến nên giá trị tăng lên nhiều, người dân yên tâm gắn bó lâu dài.

che6-280426.jpg
Chè xuân Shan tuyết được nghệ nhân ở xã Cao Bồ (Tuyên Quang) sao thủ công.

Từ hiệu quả thực tế, cây chè Shan tuyết đã và đang trở thành sinh kế bền vững cho người dân vùng cao, vùng biên dưới chân Tây Côn Lĩnh. Nhiều hộ có thu nhập hàng chục đến hàng trăm triệu đồng/năm; một số cơ sở đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng. Không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo, cây chè còn góp phần giữ chân người dân bám bản, bám đất, bảo vệ vững chắc vùng biên cương.

Vụ chè xuân vì thế không chỉ là mùa thu hoạch mà còn là mùa của niềm tin và sự đổi thay. Từ những búp chè non, "vàng xanh" đang mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững, giúp các xã dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh ngày càng khởi sắc…/.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích lúa vụ Đông Xuân ở xã Tuyên Lâm nói riêng, nhiều địa phương miền núi tỉnh Quảng Trị nói chung đối mặt nguy cơ thiếu nước, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối vụ.

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Ngày 28/4, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) phối hợp với tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao công trình Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Bằng những cách làm sáng tạo như Chiến dịch “Ngày thứ 7 hành chính lưu động” hay tổ chức các tổ công tác về tận thôn, xóm, chính quyền các địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý, thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ, gần dân và sát dân.

 Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp, nơi gió hun hút thổi qua từng triền đá xám, Mèo Vạc hôm nay đang chuyển mình bằng một nhịp điệu mới - nhịp điệu của hành động, của đổi thay, bắt đầu từ những nghị quyết được cụ thể hóa ngay từ cơ sở. 

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đang triển khai nhiều giải pháp, từ xây dựng kế hoạch ôn tập thống nhất toàn tỉnh, tổ chức thi thử, hỗ trợ học sinh bán trú đến tăng cường phụ đạo miễn phí, tạo mọi điều kiện để các em tự tin bước vào kỳ thi lớp10 - kỳ thi quan trọng đầu tiên trên hành trình học tập.

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 28/4, tỉnh Lạng Sơn tổ chức phát động Tháng công nhân và Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động năm 2026 với chủ đề: “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, “Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả công tác an toàn, vệ sinh lao động trong kỷ nguyên số”.

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh Đồng Tháp đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đưa lao động đi làm việc hợp pháp ở nước ngoài hiệu quả hơn, qua đó góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Hoạt động thương mại biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đang có sự gia tăng đáng kể về lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Trước yêu cầu tạo thuận lợi thương mại và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, lực lượng hải quan đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng thu thuế xuất nhập khẩu bền vững và hiệu quả.

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026, thành phố Cần Thơ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận xã hội, sự năng động, sáng tạo, chủ động tham gia trực tiếp của người dân đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững.

Mang tri thức đến với người dân vùng sâu, vùng xa

Mang tri thức đến với người dân vùng sâu, vùng xa

​Thư viện tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức nhiều đợt đưa sách về vùng sâu, vùng xa; xây dựng tủ sách tại các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới... Hoạt động này giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng dễ dàng tiếp cận tri thức, cập nhật kiến thức khoa học - kỹ thuật, ứng dụng vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần.

Gỡ khó để phát triển bền vững công nghiệp tỉnh Lào Cai

Gỡ khó để phát triển bền vững công nghiệp tỉnh Lào Cai

Sản xuất công nghiệp luôn là lĩnh vực được tỉnh Lào Cai ưu tiên phát triển nhưng bên cạnh những thuận lợi, địa phương cũng đang từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhằm phát triển bền vững lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn.

Quảng Ngãi cần sớm nâng cấp tỉnh lộ 623

Quảng Ngãi cần sớm nâng cấp tỉnh lộ 623

Tuyến tỉnh lộ 623 (trước đây là đường huyện Sơn Liên - Tà Meo) qua địa bàn xã Sơn Tây Thượng, tỉnh Quảng Ngãi là tuyến giao thông huyết mạch kết nối với tuyến tỉnh lộ 676 qua xã Măng Bút. Hiện tại, tuyến đường này đang xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là sau các đợt sạt lở xảy ra vào cuối năm 2025 gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sớm nâng cấp tuyến đường nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến.

Hỗ trợ an sinh, phát triển lâu dài cho các xã vùng biên

Hỗ trợ an sinh, phát triển lâu dài cho các xã vùng biên

Tại nhiều địa bàn biên giới, nơi điều kiện học tập và phát triển còn hạn chế, vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên ngày càng được thể hiện rõ nét. Thông qua các hoạt động tình nguyện, hỗ trợ giáo dục, phát triển kinh tế và chuyển đổi số, lực lượng thanh niên đã góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững tại khu vực này.

Sớm xây dựng cầu mới thay thế cầu treo Khe Hóp đã hư hỏng nặng

Sớm xây dựng cầu mới thay thế cầu treo Khe Hóp đã hư hỏng nặng

Xã Mỏ Vàng, tỉnh Lào Cai sau sáp nhập với xã An Lương có 16 thôn, trong đó có 2 thôn Khe Lóng 2, Khe Lóng 3 với gần 200 hộ dân và hơn 1.000 nhân khẩu đều là đồng bào dân tộc Mông và gần 150 hộ dân thuộc thôn Khe Hóp cùng một số thôn khác có nương đồi, đất đai sản xuất nằm tách biệt với trung tâm xã bởi suối Ngòi Thia.

Chuyển từ thu hút sang kiến tạo, Tuyên Quang mở không gian tăng trưởng mới

Chuyển từ thu hút sang kiến tạo, Tuyên Quang mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng đặt ra cao hơn, Tuyên Quang đang chủ động chuyển mình từ tư duy thu hút đầu tư truyền thống sang cách tiếp cận mới - kiến tạo môi trường phát triển, khơi thông nguồn lực và đồng hành cùng doanh nghiệp. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà trở thành động lực thúc đẩy toàn bộ hệ thống chính trị đổi mới cách nghĩ, cách làm, hướng tới một nền kinh tế năng động, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao hơn.

Đánh thức giá trị trà cổ Hồ Thầu

Đánh thức giá trị trà cổ Hồ Thầu

Sáng sớm ở Hồ Thầu, khi mây còn bảng lảng trôi ngang lưng núi Chiêu Lầu Thi, những tán chè Shan Tuyết cổ thụ đã kịp thức dậy trước con người. Từng giọt sương đọng trên búp non, óng ánh như giữ lại tinh túy của trời đất. Trong không gian tĩnh lặng của đại ngàn, người Dao, người Mông lặng lẽ bước vào rừng, hái chè bằng đôi tay quen thuộc, nâng niu từng búp nhỏ như giữ gìn một phần ký ức của núi.

Chăm lo, nâng cao sức khỏe cho người dân

Chăm lo, nâng cao sức khỏe cho người dân

Nhằm nâng cao nhận thức, phát hiện sớm bệnh tật và từng bước quản lý sức khỏe người dân một cách toàn diện, bền vững, từ ngày 25/4, ngành Y tế tỉnh Điện Biên đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí cho nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh.

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài cuối: Khát vọng đổi mới toàn diện

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài cuối: Khát vọng đổi mới toàn diện

Với mục tiêu đến năm 2030 trở thành xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) đang chuyển mình mạnh mẽ để trở thành điểm sáng về thu hút đầu tư và phát triển du lịch, khẳng định vị thế của một vùng đất không chỉ giàu truyền thống mà còn năng động, đầy triển vọng.

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài 1: Từ 'tọa độ lửa' đến những mầm xanh

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài 1: Từ 'tọa độ lửa' đến những mầm xanh

Từ trong khói lửa của những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, sóc Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) đã đi vào huyền thoại với tiếng chày giã gạo nuôi quân vang vọng khắp núi rừng đại ngàn. Trải qua hơn nửa thế kỷ, những vết tích đau thương của bom đạn năm xưa giờ đây đã được thay thế bằng màu xanh bạt ngàn của cây điều, cao su, sầu riêng… và những ngôi nhà khang trang rực rỡ sắc màu.

Sạt lở bờ sông Pô Kô - nỗi lo trước mùa mưa bão

Sạt lở bờ sông Pô Kô - nỗi lo trước mùa mưa bão

Sông Pô Kô chảy qua địa phận phía Tây tỉnh Quảng Ngãi từ nhiều năm nay đã xảy ra tình trạng sạt lở bên bờ sông, chủ yếu tại địa phận các xã Dục Nông và Đăk Pek. Nhiều vị trí sạt lở đã ăn sâu vào khu vực dân cư, cuốn trôi nhà cửa và diện tích đất canh tác của người dân. Thậm chí, dòng sông sạt lở đã ảnh hưởng đến tuyến Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh). Tình trạng sạt lở kéo dài gây ra nhiều nguy cơ mất an toàn cho người dân và các phương tiện lưu thông.

Nông thôn mới tạo sinh kế bền vững cho người dân

Nông thôn mới tạo sinh kế bền vững cho người dân

Từ nền tảng chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương Tây Ninh đang tạo ra những sinh kế bền vững cho người dân. Không chỉ nâng cấp hạ tầng, các mô hình sản xuất, liên kết chuỗi và kinh tế nông thôn được phát triển, giúp người dân tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, từng bước vươn lên ngay trên chính quê hương.