Vụ chè xuân Shan tuyết đang vào chính vụ tại các xã vùng cao, vùng biên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh như: Thanh Thủy, Cao Bồ, Lao Chải (Tuyên Quang). Những năm gần đây, cây chè không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
Nguồn sinh kế từ "vàng xanh"
Những ngày cuối tháng 4, trên vùng chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi, những người đàn ông, phụ nữ các dân tộc như: Dao, Tày… cần mẫn hái từng búp chè Shan tuyết non xanh. Giữa không gian núi rừng, tiếng cười nói rộn ràng, tạo nên bức tranh lao động đầy sức sống nơi vùng cao dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh.
Vụ chè xuân Shan tuyết thường bắt đầu từ khoảng tháng 3 và kéo dài đến hết tháng 5. Đây là thời điểm cây chè sinh trưởng mạnh, cho búp non chất lượng cao, hương vị đậm đà đặc trưng. Vì vậy, vụ xuân được xem là vụ chè quan trọng nhất trong năm, vừa cho sản lượng tốt, vừa mang lại giá trị kinh tế cao.
Cao Bồ là một trong những xã có diện tích chè Shan tuyết lớn, với hơn 820 ha; trong đó trên 757 ha đang cho thu hoạch. Nhiều cây chè hàng trăm năm tuổi đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, tạo nên thương hiệu riêng cho vùng chè. Từ chỗ khai thác tự nhiên, người dân đã chuyển sang chăm sóc, thu hái theo tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng sản phẩm, coi cây chè là nguồn sinh kế chính.
Ông Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch UBND xã Cao Bồ cho biết, những năm gần đây, cây chè Shan tuyết đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ nét, giúp nhiều hộ dân thoát nghèo, đời sống từng bước ổn định. Địa phương tiếp tục định hướng phát triển chè theo hướng hàng hóa, gắn với xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị.
Không chỉ ở Cao Bồ, tại các xã biên giới như: Thanh Thủy, Lao Chải..., cây chè Shan tuyết cũng đang trở thành "cây xóa nghèo". Toàn xã Thanh Thủy hiện có 362,5 ha chè, năng suất bình quân đạt khoảng 95 tạ/ha. Những đồi chè trải dài nơi biên cương không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn góp phần giữ đất, giữ rừng, ổn định dân cư.
Chị Bàn Thị Hom, xã Thanh Thủy chia sẻ: "Gia đình tôi gắn bó với cây chè nhiều năm nay. Trước đây thu nhập bấp bênh, nhưng vài năm gần đây, nhờ chè Shan tuyết được giá, lại có hợp tác xã thu mua ổn định nên cuộc sống đỡ vất vả hơn. Mỗi vụ chè xuân cũng mang lại nguồn thu khá, giúp gia đình trang trải sinh hoạt và từng bước ổn định cuộc sống".
Ông Lê Mạnh Dũng, Chủ tịch UBND xã Thanh Thủy nhấn mạnh: "Chè Shan tuyết là cây trồng chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo bền vững. Nhờ phát triển cây chè, đời sống người dân vùng biên ngày càng được cải thiện, kinh tế dần ổn định hơn. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục gắn phát triển vùng chè với du lịch trải nghiệm, từng bước khai thác giá trị cảnh quan, văn hóa để nâng cao thu nhập cho người dân".
Liên kết sản xuất, nâng cao giá trị chè Shan tuyết
Từ sản xuất nhỏ lẻ, những năm gần đây, các xã dưới chân Tây Côn Lĩnh đã đẩy mạnh liên kết trong trồng, chăm sóc và chế biến chè Shan tuyết. Người dân tham gia vào các tổ hợp tác, hợp tác xã được hỗ trợ kỹ thuật, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm.
Ông Nông Khánh Toàn, Chủ tịch UBND xã Lao Chải cho hay, trong thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh cây chè Shan tuyết, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân mở rộng diện tích gắn với nâng cao chất lượng. Đồng thời, tăng cường liên kết sản xuất, thu hút các hợp tác xã, doanh nghiệp tham gia chế biến, tiêu thụ sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu chè đặc trưng, góp phần nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế bền vững cho người dân vùng biên.
Các hợp tác xã và cơ sở chế biến chè trên địa bàn đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị sản phẩm. Nhiều sản phẩm chè Shan tuyết được công nhận đạt tiêu chuẩn OCOP 3 sao cấp tỉnh, với sản lượng từ vài trăm kg đến hàng tấn chè khô/năm, từng bước mở rộng thị trường và khẳng định thương hiệu.
Ông Đặng Văn Háu, đại diện Hợp tác xã Trà Pèng, xã Thanh Thủy chia sẻ: "Khi tham gia hợp tác xã, người dân được hỗ trợ kỹ thuật, sản phẩm làm ra đồng đều, chất lượng cao hơn nên bán được giá tốt. Nhờ đó, thu nhập ổn định, nhiều hộ đã thoát nghèo và có tích lũy".
Mô hình liên kết giữa người dân – hợp tác xã – doanh nghiệp đang phát huy hiệu quả rõ rệt. Người dân được hướng dẫn quy trình thu hái, chế biến, sản phẩm được bao tiêu với giá ổn định. Giá chè vì thế ngày càng được nâng cao, phổ biến từ 300.000 - 700.000 đồng/kg; nhiều dòng chè đặc sản có giá trên 1 triệu đồng/kg.
Nghệ nhân Tráng Văn Nhụi, thôn Tham Vè, xã Cao Bồ cho biết, chè Shan tuyết ở đây có hương vị rất riêng. Trước kia chủ yếu bán tươi nên giá trị thấp, nay chú trọng chế biến nên giá trị tăng lên nhiều, người dân yên tâm gắn bó lâu dài.
Từ hiệu quả thực tế, cây chè Shan tuyết đã và đang trở thành sinh kế bền vững cho người dân vùng cao, vùng biên dưới chân Tây Côn Lĩnh. Nhiều hộ có thu nhập hàng chục đến hàng trăm triệu đồng/năm; một số cơ sở đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng. Không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo, cây chè còn góp phần giữ chân người dân bám bản, bám đất, bảo vệ vững chắc vùng biên cương.
Vụ chè xuân vì thế không chỉ là mùa thu hoạch mà còn là mùa của niềm tin và sự đổi thay. Từ những búp chè non, "vàng xanh" đang mở ra hướng phát triển kinh tế bền vững, giúp các xã dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh ngày càng khởi sắc…/.
Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Tên gọi khác: Mán.
Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).
Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.
Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.
Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.
Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.
Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...
Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.
Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.
Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.
Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.
Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.
Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.
Ở: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.
Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.
Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.
Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.
Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.
Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.
Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.
Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.
Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.
Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.
Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.
Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.
Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.
Theo cema.gov.vn