Chuyển đổi số mở cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại ở Đắk Lắk

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu, ngành Giáo dục tỉnh Đắk Lắk đang từng bước đổi mới phương pháp quản lý, dạy và học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI). Chuyển đổi số đang tạo ra nhiều thay đổi tích cực, mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại cho giáo viên và học sinh.

Học sinh Trường Tiểu học Thái Phiên, phường Ea Kao (tỉnh Đắk Lắk) hứng thú tham gia tiết học ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy. Ảnh tư liệu: TTXVN

Học sinh Trường Tiểu học Thái Phiên, phường Ea Kao (tỉnh Đắk Lắk) hứng thú tham gia tiết học ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy. Ảnh tư liệu: TTXVN

Đưa chuyển đổi số vào trường học

Thời gian qua, chuyển đổi số đã trở thành một phần quan trọng trong hoạt động dạy và học ở Trường Tiểu học Thái Phiên, phường Ea Kao (tỉnh Đắk Lắk), nơi có hơn 66% học sinh là người dân tộc thiểu số Ê Đê.

Theo bà Trần Thị Tuyết, Hiệu trưởng nhà trường, những năm qua, nhà trường thường xuyên tổ chức tập huấn cho giáo viên, nhân viên về kỹ năng ứng dụng công nghệ trong giảng dạy; khuyến khích giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép các kỹ thuật hiện đại và ứng dụng AI để bài giảng sinh động, hấp dẫn hơn. Các nền tảng số như fanpage, Zalo, Facebook cũng được sử dụng để kết nối với phụ huynh, lan tỏa tinh thần chuyển đổi số trong giáo dục.

Những sản phẩm học tập, video hoạt động của cô và trò cũng được chia sẻ tới phụ huynh nhằm giúp gia đình hiểu rõ hơn hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ trong trường học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục hiện nay mang lại hiệu quả rất lớn, đặc biệt góp phần nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số. Đây là mục tiêu hàng đầu mà nhà trường hướng tới.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, cô H’Nao H’Đơk nhận thấy, AI giúp tiết học trở nên hấp dẫn hơn đối với học sinh nhỏ tuổi. Thay vì chỉ sử dụng hình ảnh tĩnh, giáo viên có thể dùng các công cụ để tạo nhân vật chuyển động, tăng tương tác trong bài giảng. Điều này giúp học sinh dễ hiểu bài, mạnh dạn tham gia hoạt động học tập hơn.

Nhiều cơ sở giáo dục tại Đắk Lắk đang đẩy mạnh xây dựng mô hình trường học thông minh. Tại Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Hoàng Việt (phường Tân An), nhà trường đã triển khai đồng bộ các nền tảng số như Microsoft Teams, Canvas LMS và từng bước ứng dụng AI trong xây dựng học liệu, hỗ trợ học sinh học tập.

Em Lê Hoàng Thảo An, học sinh lớp 8A6 cho biết, việc ứng dụng AI giúp tiết học trở nên sôi động hơn, học sinh dễ tiếp cận kiến thức và chủ động tìm hiểu bài tập.

Theo ông Trần Đức Huyên, Hiệu trưởng Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Hoàng Việt, chuyển đổi số không chỉ thay đổi công nghệ mà quan trọng hơn là chuyển đổi con người. Nhà trường cũng triển khai mô hình lớp học đảo ngược, học sinh tự nghiên cứu bài trước ở nhà, sau đó thảo luận, làm việc nhóm trên lớp.

AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thể thay thế vai trò của giáo viên hay năng lực tư duy của học sinh. Nhà trường xây dựng hai hệ thống bài tập, trong đó, một hệ thống học sinh có thể tham khảo với sự hỗ trợ của AI và một hệ thống kiểm tra trực tiếp trên lớp. Nhà trường đánh giá trên năng lực thực chất chứ không đánh giá trên sản phẩm do AI tạo ra, ông Huyên nhấn mạnh.

Vận dụng vào thực tiễn

Nhóm học sinh Trường TH-THCS-THPT Hoàng Việt (phường Tân An) ứng dụng AI để nghiên cứu dự án “Xây dựng mô hình FSSD phục hồi số hóa hình ảnh di sản văn hóa và tích hợp bảo tàng ảo tương tác”. Ảnh: Nguyên Dung/TTXVN

Nhóm học sinh Trường TH-THCS-THPT Hoàng Việt (phường Tân An) ứng dụng AI để nghiên cứu dự án “Xây dựng mô hình FSSD phục hồi số hóa hình ảnh di sản văn hóa và tích hợp bảo tàng ảo tương tác”. Ảnh: Nguyên Dung/TTXVN

Không chỉ hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, AI còn được nhiều học sinh Đắk Lắk ứng dụng vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Tiêu biểu là dự án “Xây dựng mô hình FSSD phục hồi số hóa hình ảnh di sản văn hóa và tích hợp bảo tàng ảo tương tác” của hai học sinh Lưu Tiến Thanh và Hoàng Gia Bảo, lớp 11, Trường Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Hoàng Việt giành giải Ba Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia năm học 2025-2026. Xuất phát từ thực trạng nhiều di sản văn hóa bị hư hại, xuống cấp theo thời gian, nhóm học sinh đã nghiên cứu ứng dụng AI để phục hồi hình ảnh dựa trên dữ liệu gốc, đồng thời tích hợp vào không gian bảo tàng ảo 3D để người dùng có thể tương tác trực quan với hiện vật. Đến nay, nhóm đã xây dựng được khoảng 40 hiện vật, trong đó có 25 hiện vật gắn với văn hóa Đắk Lắk.

Em Lưu Tiến Thanh cho biết, dự án với mong muốn AI không làm mất đi giá trị nguyên bản mà hỗ trợ phục hồi di sản chính xác hơn. Sau này mô hình có thể ứng dụng tại các bảo tàng, khu du lịch văn hóa để quảng bá văn hóa địa phương.

Theo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk, đến nay, công tác chuyển đổi số của ngành Giáo dục đã đạt được những kết quả tích cực. Cụ thể, 100% các trường phổ thông trên địa bàn triển khai học bạ số; 100% cán bộ quản lý và giáo viên cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông thực hiện chữ ký số; 100% trường học đã khai thác hiệu quả mạng Internet và hệ thống máy tính... Học sinh được tiếp cận với trí tuệ nhân tạo; rèn luyện kỹ năng số qua các cuộc thi trực tuyến như: Toán VioEdu, Trạng nguyên Tiếng Việt, Olympic tiếng Anh trực tuyến...

Trường TH-THCS-THPT Hoàng Việt (phường Tân An) triển khai mô hình lớp học đảo ngược. Ảnh: Nguyên Dung/TTXVN

Trường TH-THCS-THPT Hoàng Việt (phường Tân An) triển khai mô hình lớp học đảo ngược. Ảnh: Nguyên Dung/TTXVN

Bà Võ Thị Minh Duyên, Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk thông tin, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình triển khai chuyển đổi số trong giáo dục vẫn còn nhiều khó khăn. Trong đó, hạ tầng công nghệ chưa đồng bộ, một số cơ sở giáo dục, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, điều kiện thiết bị, đường truyền internet còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc triển khai các ứng dụng AI trong dạy và học; nhận thức và năng lực sử dụng AI của đội ngũ giáo viên chưa đồng đều; thiếu nguồn học liệu số chất lượng cao và phù hợp...

Ngành Giáo dục Đắk Lắk xác định, đẩy mạnh ứng dụng AI là một giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Ngành sẽ tiếp tục chỉ đạo các nhà trường đưa các công cụ AI vào hỗ trợ xây dựng bài giảng, kiểm tra, đánh giá và từng bước cá nhân hóa việc học cho học sinh; xây dựng và từng bước hoàn thiện kho học liệu số dùng chung, bao gồm ngân hàng câu hỏi, bài giảng điện tử có ứng dụng AI; tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng công nghệ, mở rộng kết nối, đảm bảo mọi học sinh, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, đều có cơ hội tiếp cận các ứng dụng AI trong học tập...

Chuyển đổi số đang từng bước tạo chuyển biến tích cực trong giáo dục tại Đắk Lắk. Dù còn nhiều khó khăn, song với sự chủ động của ngành Giáo dục và các nhà trường, công nghệ số được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, mở ra môi trường giáo dục hiện đại, phù hợp với yêu cầu đổi mới trong thời đại số./.

Dân tộc Ê Đê

Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan... 

Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.

: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.

Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ê Đê
Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Đổi mới về quản trị phát triển giáo dục, dồn lực cho vùng khó khăn

Năm học 2026-2027 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ, thực chất của ngành Giáo dục trong triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Trọng tâm năm học này là đổi mới mạnh mẽ quản trị phát triển giáo dục; cắt giảm tối đa thủ tục hành chính, các cuộc thi mang tính hình thức, hội họp không cần thiết; tập trung nguồn lực tháo gỡ những “điểm nghẽn” của ngành Giáo dục, nhất là tại các địa bàn, vùng còn nhiều khó khăn.

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Nông sản đắt hàng nhờ nhãn hiệu OCOP và truy xuất nguồn gốc

Tỉnh Phú Thọ có nhiều sản vật đặc trưng, mang đậm dấu ấn vùng miền. Trước đây, phần lớn nông sản được sản xuất nhỏ lẻ, chủ yếu phục vụ thị trường trong tỉnh và khu vực lân cận. Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) đã tạo động lực để các địa phương khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế, từng bước đổi mới phương thức sản xuất và tư duy phát triển sản phẩm.

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Vượt khó đưa học sinh vùng cao vào năm học mới

Năm học 2026-2027 đã đến. Ở những địa bàn vùng cao tỉnh Điện Biên, để học sinh có thể đến trường đầy đủ trong ngày khai giảng, các thầy cô giáo đang nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, từ vận động học sinh ra lớp đến chuẩn bị trường lớp, cơ sở vật chất và những điều kiện cần thiết cho một năm học mới.

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Cuộc sống mới của đồng bào dân tộc biên giới Tây Ninh

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhiều lĩnh vực được ghi nhận với những kết quả tích cực, tạo nền tảng vững chắc để hoàn thành các mục tiêu của năm 2026.

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Phát động đợt thi đua cao điểm '80 ngày hành động vì cộng đồng'

Ngày 3/9, tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học Nấm Dẩn (xã Nấm Dẩn, tỉnh Tuyên Quang), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh Tuyên Quang tổ chức Lễ phát động cấp quốc gia đợt thi đua cao điểm “80 ngày hành động vì cộng đồng”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (23/11/1946 - 23/11/2026).

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở TP Hồ Chí Minh khởi sắc

Trong suốt chăng đường xây dựng và phát triển đất nước, TP Hồ Chí Minh đã triển khai nhiều chính sách, cách làm hay, chương trình hỗ trợ linh hoạt, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo Thành phố Hồ Chí Minh, để làm rõ hơn những chuyển biến tích cực trong đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), đặc biệt trong giai đoạn đất nước đang đổi mới, phát triển và hội nhập.

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Tết Độc lập nơi đảo tiền tiêu của Tổ quốc

Nhân 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Hòn Khoai cùng các lực lượng đứng chân trên đảo đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tạo không khí vui tươi, đoàn kết, góp phần giáo dục truyền thống, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trên biển.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài cuối: Hợp tác bén rễ trên những vườn cây

Không có đường biên trực tiếp với Lào, nhưng Đắk Lắk đang triển khai các thỏa thuận hợp tác với Champasak, Attapeu, Salavan và Sekong. Từ đề nghị của Attapeu về chuyên gia và kỹ thuật sầu riêng, một hướng hợp tác mới đang hiện rõ: kết nối vùng nguyên liệu bằng tri thức, hợp tác xã và cơ chế theo dõi đến cùng.

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Hợp tác mở không gian phát triển vùng biên giới - Bài 1: Từ đường biên đến hành lang phát triển

Cùng hướng tới một không gian hợp tác rộng hơn với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia và các tỉnh Nam Lào, hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk đang đứng trước yêu cầu chuyển những bản ghi nhớ cấp tỉnh thành dòng hàng, vùng nguyên liệu, chương trình chuyển giao kỹ thuật và sinh kế cụ thể ở khu vực biên giới. Giá trị của hợp tác vì thế không chỉ được đo bằng số cuộc gặp, mà bằng khả năng mở đường cho từng nhu cầu từ cơ sở đi đến đúng nơi giải quyết.

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Đưa đặc sản từ bản làng vào ‘giỏ hàng’ thường xuyên của người tiêu dùng

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã từng bước hiện diện rõ hơn trên thị trường, nhưng để đứng vững và tạo giá trị gia tăng tương xứng, cần chuyển từ tư duy đưa sản phẩm đi giới thiệu sang xây dựng năng lực để sản phẩm cạnh tranh, tiêu thụ lâu dài.

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Nhiều chính sách đột phá vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Cần Thơ

Trong hành trình phát triển của đất nước, Đảng bộ, chính quyền thành phố Cần Thơ đã thực hiện hàng loạt chương trình, chính sách cụ thể, tạo chuyển biến tích cực trong cộng đồng người dân tộc thiểu số (DTTS). Nhân dịp kỷ niệm 81 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), phóng viên Báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc phỏng vấn ông Lâm Hoàng Mẫu, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo thành phố Cần Thơ để làm rõ hơn về vấn đề này.

Từ giá trị văn hóa đến sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Từ giá trị văn hóa đến sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Đình Tứ, Phó Giám đốc, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Phú Thọ cho biết, để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển, Phú Thọ xác định phải đồng bộ nhiều giải pháp từ đầu tư hạ tầng, lựa chọn sản phẩm đặc trưng, tăng liên kết đến kết nối doanh nghiệp, logistics và du lịch…

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Lai Châu thiếu không gian sinh hoạt chung sau sáp nhập thôn, bản

Sau sáp nhập thôn, bản, quy mô dân cư tăng lên nhưng nhiều nhà văn hóa không còn đáp ứng nhu cầu hội họp, sinh hoạt cộng đồng. Tại xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu, tình trạng thừa nhà văn hóa nhưng thiếu không gian sinh hoạt chung đang đặt ra yêu cầu có giải pháp phù hợp với thực tế sau sáp nhập.

Cây sâm bén rễ, tình quân dân thêm gắn bó nơi biên cương

Cây sâm bén rễ, tình quân dân thêm gắn bó nơi biên cương

Phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh đang được các địa phương khu vực biên giới Lai Châu triển khai bằng nhiều cách làm thiết thực, phù hợp điều kiện thực tế. Trong đó, việc đưa cây Sâm Lai Châu - loại dược liệu quý có giá trị kinh tế cao vào trồng tại khu vực biên giới đang mở ra hướng sinh kế mới cho đồng bào các dân tộc thiểu số.

Đưa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống đồng bào

Đưa giá trị văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao đời sống đồng bào

Theo bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, những giá trị văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa và sản vật đặc hữu của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nếu được nhận diện đúng, tổ chức phù hợp và kết nối với thị trường sẽ trở thành nguồn lực nội sinh, tạo ra sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ có giá trị gia tăng, việc làm và sinh kế bền vững cho cộng đồng.

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Sơn La huy động lực lượng, tăng tốc làm sạch dữ liệu đất đai trước 30/10

Ngày 28/8, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị sơ kết thực hiện Kế hoạch số 2959/KH-BNNMT-BCA của liên Bộ Nông nghiệp và Môi trường - Bộ Công an về tăng cường đẩy mạnh công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và hoàn thành cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai.

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Mở tương lai tươi sáng cho trẻ em vùng biên

Chỉ còn ít ngày nữa, năm học 2026 - 2027 sẽ chính thức bắt đầu. Cùng với niềm vui tựu trường của học sinh trên cả nước, tại các xã biên giới, những ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp đang gấp rút hoàn thiện những công việc cuối cùng để sẵn sàng đón học sinh.

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Công bố các quyết định về bộ máy và cán bộ tại Lai Châu

Sáng 28/8, Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Lai Châu tổ chức Hội nghị công bố các quyết định về công tác tổ chức bộ máy và cán bộ. Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Lai Châu Lê Minh Ngân dự, phát biểu chỉ đạo tại hội nghị.

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

Tối 27/8, Tỉnh ủy Sơn La tổ chức Hội nghị công bố các Quyết định về việc thành lập 2 đảng bộ; đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy thành Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và công bố các Quyết định của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác cán bộ.

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Xã vùng cao biên giới Thu Lũm sẵn sàng hành trình 'Gieo con chữ'

Là xã biên giới xa nhất của tỉnh Lai Châu, địa hình chia cắt, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, Thu Lũm luôn đứng trước không ít thách thức trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Song, bằng sự chủ động và quyết tâm, cấp ủy, chính quyền cùng các nhà trường đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ sắp xếp tổ chức bộ máy, chuẩn bị cơ sở vật chất, rà soát, huy động học sinh đến tranh thủ các nguồn lực hỗ trợ.

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các trường nội trú liên cấp biên giới

Chiều 26/8, UBND tỉnh Sơn La tổ chức Phiên họp thứ năm để xem xét, thảo luận tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026; đồng thời, cho ý kiến đối với một số nội dung thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.