Đưa pháp luật từng bước 'thấm' vào đời sống đồng bào vùng khó

Từng là địa bàn đặc biệt khó khăn, tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp về an ninh trật tự, đến nay xã Hùng Lợi (Tuyên Quang) đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Không chỉ đổi thay trong tư duy phát triển kinh tế, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của đồng bào Mông, Dao cũng từng bước được nâng lên. Đó là kết quả từ sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, công an cơ sở và đội ngũ người có uy tín trong cộng đồng.

tuyen-quang-1205.jpg
Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi (Tuyên Quang) Trần Giang Tuyên cùng cán bộ xã thăm hỏi tình hình lao động sản xuất của các hộ dân thôn Khuôn Nà, xã Hùng Lợi.

Phát huy vai trò người có uy tín

Xã Hùng Lợi có trên 80% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Trước đây, do địa hình chia cắt, giao thông khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến từng thôn, bản gặp nhiều trở ngại. Có thời điểm, địa phương được xem là “vùng trũng” về an ninh trật tự, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh vi phạm pháp luật. Để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, cấp ủy, chính quyền xã đã tăng cường phối hợp với người có uy tín tại các thôn, bản, đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến gần hơn với bà con.

Gần 20 năm làm Bí thư Chi bộ, ông Lầu Văn Thào - người có uy tín thôn Nà Tang, xã Hùng Lợi không nhớ hết đã bao nhiêu lần cùng với cán bộ đi tuyên truyền, vận động các hộ dân. Chỉ biết rằng, từ những buổi đến thăm nhà, những cuộc trò chuyện trong bữa cơm chiều hay buổi đi làm nương cùng bà con, nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết ở Hùng Lợi đã không còn. Đặc biệt, một bộ phận người dân vì nhẹ dạ mà tin theo lời kẻ xấu cũng cam kết từ bỏ, một lòng tin theo Đảng, tin theo Bác Hồ.

Ông Lầu Văn Thào, Bí thư Chi bộ thôn Nà Tang chia sẻ, ông đã tham mưu thành lập mô hình tự quản về an ninh trật tự tại thôn. Ban ngày đồng bào thường lên nương, rẫy nên muốn gặp bà con để tuyên truyền, vận động thì phải đến vào buổi tối. Không ngại khó, ngại khổ, ông đã tích cực cùng với cán bộ xã và lực lượng công an tuyên truyền để họ nhận thấy đó là việc làm trái pháp luật.

Còn với ông Vũ Văn Lập, người có uy tín thôn Toòng cho biết, đội ngũ người uy tín luôn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và lực lượng công an đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật. Qua đó, nhận thức của người dân được nâng lên rõ rệt, nhiều quy định của địa phương được chấp hành nghiêm túc. Những buổi gặp gỡ, tuyên truyền đã trở thành hoạt động thường xuyên tại các thôn, bản. Với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, nhiều hủ tục dần được xóa bỏ, tình trạng nghe theo kẻ xấu xúi giục giảm hẳn. Khi an ninh trật tự được giữ vững, đời sống kinh tế của người dân cũng từng bước được cải thiện.

tuyen-quang3-1205.jpg
Lực lượng Công an xã và Tổ an ninh trật tự thôn Toòng, xã Hùng Lợi (Tuyên Quang) thăm hỏi, tuyên truyền pháp luật tại một hộ gia đình trong thôn.

Theo ông Trần Giang Tuyên, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi, thực tế cho thấy, tiếng nói của người uy tín là “cầu nối” hiệu quả nhất để đưa pháp luật vào cuộc sống. Sự phối hợp chặt chẽ góp phần hòa giải kịp thời các mâu thuẫn phát sinh từ cơ sở, tạo nên sự tin tưởng của người dân, giúp pháp luật từng bước “thấm” vào đời sống. Nhờ đó, những năm gần đây, nhận thức của người dân về pháp luật đất đai, hôn nhân gia đình, bảo vệ rừng được nâng lên rõ rệt; số vụ vi phạm pháp luật giảm qua từng năm.

Công an cơ sở giữ vai trò nòng cốt

Theo Thiếu tá Tướng Văn Ba, Trưởng Công an xã Hùng Lợi (Tuyên Quang), chủ động bám cơ sở, “cùng ăn, cùng ở, cùng làm”, phối hợp chặt chẽ với người có uy tín để tuyên truyền, vận động nhân dân đã trở thành việc làm thường xuyên của lực lượng công an xã. Trong khi người có uy tín am hiểu phong tục, tập quán, gần gũi với bà con, dễ tạo sự đồng thuận thì lực lượng công an xã là nòng cốt trong việc giải thích, hướng dẫn, làm rõ các quy định pháp luật bằng hình thức dễ hiểu, sát thực tế. Đây cũng là lực lượng trực tiếp tham gia giải quyết các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở, kịp thời ngăn chặn vi phạm, hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy định của pháp luật trong đời sống hằng ngày.

Những năm gần đây, gia đình ông Hầu Văn Hồng, thôn Toòng đã tập trung phát triển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống. Ông Hồng cho hay, bà con trong thôn thường xuyên được cán bộ xã, thôn và lực lượng công an đến tuyên truyền, vận động. Qua đó, người dân hiểu rõ hơn về chủ trương, chính sách, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, đoàn kết xây dựng đời sống mới, tập trung phát triển kinh tế để thoát nghèo bền vững.

Tương tự, bà Lý Thị Chợ, thôn Nà Mộ cho biết, ngoài tuyên truyền pháp luật, cán bộ còn hướng dẫn người dân phát triển chăn nuôi, trồng trọt hiệu quả. Nhờ đó, bà con không chỉ tránh xa các tệ nạn xã hội mà còn biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao thu nhập.

tuyen-quang2-1205.jpg
Ông Lầu Văn Thào, Bí thư Chi bộ, người có uy tín thôn Nà Tang, xã Hùng Lợi (Tuyên Quang) thường xuyên ghi chép tình hình cụ thể của từng hộ dân trong thôn.

Ông Trần Giang Tuyên, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Lợi khẳng định, nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững; nhiều vụ việc được giải quyết ngay từ cơ sở, không để phát sinh “điểm nóng”. Thời gian tới, địa phương tiếp tục phát huy vai trò của người có uy tín, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, đa dạng hóa hình thức tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, lồng ghép phổ biến pháp luật với phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới.

Từ một địa bàn tiềm ẩn nhiều phức tạp, Hùng Lợi hôm nay đang từng bước chuyển mình. Khi pháp luật được người dân hiểu, tin và tự giác thực hiện, đó chính là nền tảng vững chắc để địa phương phát triển bền vững, đời sống đồng bào các dân tộc ngày càng được nâng cao./.

Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao
Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông

Có thể bạn quan tâm

Xử phạt, chấn chỉnh các hành vi vi phạm về đất đai tại Lâm Đồng

Xử phạt, chấn chỉnh các hành vi vi phạm về đất đai tại Lâm Đồng

Ngành chức năng, chính quyền các địa phương tỉnh Lâm Đồng đang tăng cường các biện pháp xử lý, xử phạt nhằm chấn chỉnh việc tuân thủ các quy định về đất đai. Đây là việc làm kịp thời trong bối cảnh giá cả nông sản tăng cao, nhiều hộ dân tự ý san gạt, thay đổi hiện trạng đất nhằm chuyển đổi cây trồng, nguy cơ ảnh hưởng tới các hộ sử dụng đất liền kề.

Chuyển đổi số mở cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại ở Đắk Lắk

Chuyển đổi số mở cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại ở Đắk Lắk

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu, ngành Giáo dục tỉnh Đắk Lắk đang từng bước đổi mới phương pháp quản lý, dạy và học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI). Chuyển đổi số đang tạo ra nhiều thay đổi tích cực, mở thêm cơ hội tiếp cận giáo dục hiện đại cho giáo viên và học sinh.

Đánh thức tiềm năng phát triển vùng biên giới phía Bắc Tổ quốc

Đánh thức tiềm năng phát triển vùng biên giới phía Bắc Tổ quốc

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ I xác định rõ 3 trụ cột phát triển gồm: thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Trong đó, thể chế được xác định là yếu tố đột phá, đóng vai trò "mở đường" để khơi thông các nguồn lực phát triển. Thực tế triển khai tại Lào Cai cho thấy, những điều chỉnh về chính sách trong thời gian gần đây đang tạo ra hiệu ứng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương.

Vốn ưu đãi cải thiện nước sạch, nâng chất lượng sống vùng biên

Vốn ưu đãi cải thiện nước sạch, nâng chất lượng sống vùng biên

Nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội đã hiện thực hóa ước mơ có nước sạch và công trình vệ sinh đạt chuẩn cho nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên Đồng Nai. Việc tiếp cận vốn kịp thời không chỉ giúp vơi bớt nỗi lo thiếu nước mùa khô mà còn cải thiện môi trường sống, thắp sáng diện mạo mới cho nông thôn vùng biên.

Thanh Hóa còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ lũ quét, sạt lở

Thanh Hóa còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ lũ quét, sạt lở

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Thanh Hóa: Hoàn thành xóa nhà tạm cho 67 hộ người có công trước ngày 20/7

Thanh Hóa: Hoàn thành xóa nhà tạm cho 67 hộ người có công trước ngày 20/7

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Kế hoạch triển khai hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở cho 67 hộ gia đình thuộc diện người có công trên địa bàn. Tỉnh quyết tâm hoàn thành trước ngày 20/7/2026, góp phần giúp các hộ gia đình ổn định cuộc sống, cải thiện điều kiện sinh hoạt.

Thanh Hóa hỗ trợ khắc phục 35 công trình hư hỏng do ảnh hưởng mưa lũ

Thanh Hóa hỗ trợ khắc phục 35 công trình hư hỏng do ảnh hưởng mưa lũ

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa vừa ban hành Quyết định số 1394/QĐ-UBND ngày 12/5/2026 phê duyệt hỗ trợ 58,9 tỷ đồng từ Quỹ Phòng, chống thiên tai tỉnh để khắc phục, sửa chữa 35 công trình thuộc các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh bị hư hỏng do ảnh hưởng của thiên tai năm 2025.

Nâng cao chất lượng sống vùng đồng bào từ giáo dục, việc làm

Nâng cao chất lượng sống vùng đồng bào từ giáo dục, việc làm

Từ thành công của Đại hội Đại biểu Toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ XI, các đại biểu dân tộc thiểu số kiến nghị, tiếp tục tăng cường quan tâm tới giáo dục, việc làm và chăm sóc sức khỏe nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa.

Ấm lòng bếp ăn bán trú đến với trẻ em vùng khó khăn

Ấm lòng bếp ăn bán trú đến với trẻ em vùng khó khăn

Hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026 với chủ đề “80 năm hành trình nhân ái vì cộng đồng”, sáng 12/5, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Quảng Trị phối hợp với UBND xã Sen Ngư tổ chức khánh thành, bàn giao công trình bếp ăn bán trú tại điểm trường xóm Phường, Trường Mầm non Sen Thủy.

Chuẩn hóa giáo dục dân tộc, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Chuẩn hóa giáo dục dân tộc, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Tỉnh Vĩnh Long tập trung các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, làm nền tảng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và phát triển bền vững nguồn nhân lực địa phương.

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Khám sàng lọc bệnh tim miễn phí cho trẻ em vùng cao

Sáng 10/5, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên, Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh Điện Biên phối hợp với Bệnh viện Tim Hà Nội cùng các đơn vị liên quan tổ chức khám sàng lọc bệnh tim mạch miễn phí cho trẻ em ở tỉnh.

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Quỹ Hỗ trợ nông dân - Điểm tựa giúp hội viên phát triển kinh tế bền vững

Trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp còn nhiều khó khăn do biến đổi khí hậu, giá vật tư tăng cao và đầu ra nông sản thiếu ổn định, nguồn vốn từ Quỹ Hỗ trợ nông dân đang trở thành “đòn bẩy” quan trọng giúp nhiều hội viên nông dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mạnh dạn đầu tư sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và từng bước vươn lên làm giàu bền vững.

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Lan tỏa hàng Việt trên 'chợ số'

Đưa hàng Việt lên "chợ số" (thương mại điện tử) là chiến lược trọng tâm, kết hợp livestream, ứng dụng số và hỗ trợ của Chính phủ để nâng cao sức cạnh tranh. Nhiều doanh nghiệp đã tận dụng và coi các nền tảng “chợ số” là xu hướng thời đại để lan tỏa hàng Việt.

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

Trong bối cảnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách được xác định là động lực tăng trưởng, tỉnh Điện Biên tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính. Cơ chế “Luồng xanh” được triển khai nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Đẩy nhanh tiến độ thi công các trường học vùng biên

Đẩy nhanh tiến độ thi công các trường học vùng biên

Tỉnh Cao Bằng đang khẩn trương xây dựng 11 trường học tại các xã biên giới với quyết tâm hoàn thành trong năm 2026. Những công trình giáo dục này được kỳ vọng mở ra cơ hội học tập tốt hơn cho học sinh vùng cao, tạo nền tảng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và góp phần giữ vững thế trận quốc phòng - an ninh nơi phên dậu Tổ quốc.

80 năm công tác dân tộc: Hành trình kiến tạo niềm tin và khơi dậy sức mạnh nội sinh

80 năm công tác dân tộc: Hành trình kiến tạo niềm tin và khơi dậy sức mạnh nội sinh

Ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58/SL thành lập Nha Dân tộc thiểu số - cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về công tác dân tộc. Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngay từ những ngày đầu lập nước. Trải qua 80 năm hình thành, phát triển, công tác dân tộc không ngừng được hoàn thiện cả về tư duy và thể chế, trở thành một trong những trụ cột quan trọng góp phần bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.

Phú Thọ: Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Phú Thọ: Thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động hơn

Tỉnh Phú Thọ đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh kinh tế chuyển dịch mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Kết quả từ đầu năm 2026 đến nay cho thấy đây không chỉ là xu hướng tất yếu mà đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xã hội của địa phương.

Ngày đêm xây dựng trường nơi phên giậu Tổ quốc

Ngày đêm xây dựng trường nơi phên giậu Tổ quốc

Những ngày tháng tư, tại các xã biên giới Phiêng Khoài, Xuân Nha, Lóng Sập của tỉnh Sơn La, những công trường xây dựng các Trường nội trú liên cấp Tiểu học - Trung học cơ sở đang ngày đêm vang vọng tiếng máy xúc, tiếng đổ bê tông, tiếng hàn cắt thép… Các đơn vị thi công đang chạy đua với thời gian, quyết tâm về đích trong chiến dịch 100 ngày đêm xây dựng 13 điểm trường khu vực biên giới của tỉnh.

7 dự án trường nội trú biên giới ở Gia Lai gặp khó do thiếu nguồn lao động

7 dự án trường nội trú biên giới ở Gia Lai gặp khó do thiếu nguồn lao động

Mặc dù đã hoàn thiện thiết kế bản vẽ, đầy đủ mặt bằng thi công nhưng 7 dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới của tỉnh Gia Lai lại chưa đảm bảo tiến độ đề ra. Nguyên nhân là do các dự án này đều nằm xa trung tâm, điều kiện sinh hoạt khó khăn nên rất khó thu hút nguồn lao động, nhất là lao động có tay nghề - yếu tố quyết định tiến độ các công trình vùng biên.

Giúp người dân biên giới giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh

Giúp người dân biên giới giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về "một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân", ngành Y tế tỉnh Cao Bằng đã cụ thể hóa, triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; đặc biệt là công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.