Nhân kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026), chiều 29/8, tại thôn Hào Lý, Ủy ban nhân dân xã Sa Loong tỉnh Quảng Ngãi tổ chức Ngày hội làng Mường, mừng Tết Độc lập năm 2026.
Người Mường ở thôn Hào Lý, xã Sa Loong đón khách đến mừng Ngày hội làng Mường.
Tại Ngày hội, người dân và du khách được thưởng thức những tiết mục văn nghệ đặc trưng của đồng bào dân tộc Mường, từ những điệu múa truyền thống đến hiện đại. Những điệu múa sạp được các thiếu nữ Mường biểu diễn đã mang đến một Ngày hội làng Mường độc đáo, giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Các hoạt động giao lưu, trò chơi dân gian như ném còn, bóng đá giữa thôn Hào Lý với các thôn khác trong xã cũng được tổ chức, tạo không khí vui tươi và gắn kết giữa các cộng đồng dân tộc ở vùng biên Sa Loong.
Người Mường ở Hào Lý biểu diễn múa sạp.
Tại Ngày hội, ông Bùi Văn Hiến, Trưởng thôn Hào Lý đã cùng người dân ôn lại lịch sử 81 năm Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân và mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Giao lưu thể thao tại Ngày hội làng Mường.
Vì vậy, Tết Độc lập không chỉ là ngày hội lớn của non sông, mà còn là dịp để mỗi người con Hào Lý nói riêng, xã biên giới Sa Loong nói chung cùng ôn lại truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và những hi sinh to lớn của các thế hệ cha ông đã đem lại cuộc sống hòa bình, độc lập và ấm no hôm nay. Bên cạnh đó, Tết Độc lập còn là dịp để gặp gỡ, giao lưu, thắt chặt tình đoàn kết cộng đồng; cùng nhau gìn giữ, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Phần thi ném còn tại Ngày hội làng Mường.
“Với tinh thần đoàn kết, vui tươi, an toàn, tiết kiệm và giàu bản sắc, Ngày hội người Mường thực sự trở thành một nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng ý nghĩa, để lại những kỷ niệm đẹp trong mỗi người dân và du khách. Một mùa Tết Độc lập nữa lại về, đây là dịp để chúng ta cùng nhìn lại chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc, tri ân các thế hệ đi trước và cùng hướng tới tương lai với niềm tin, khát vọng và quyết tâm mới”, ông Bùi Văn Hiến khẳng định.
Các tiết mục múa tại Ngày hội làng Mường.
Em Đinh Thị Kim Khuyên, sinh năm 2010, trú thôn Hào Lý chia sẻ, em rất vui khi được tham gia biểu diễn các tiết mục văn nghệ đặc sắc mang đậm nét văn hóa của dân tộc mình. Thông qua Ngày hội, em mong muốn mọi người trong thôn, trong xã, không chỉ là dân tộc Mường, mà tất cả các dân tộc anh em cùng nhau đoàn kết, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Các tiết mục múa tại Ngày hội làng Mường.
“Em tự hào khi dân tộc mình vẫn giữ gìn được những nét văn hóa truyền thống. Thế hệ trẻ chúng em rất biết ơn Đảng, Bác Hồ, biết ơn sự hi sinh to lớn của các anh hùng, liệt sỹ để chúng em có được cuộc sống trong bình yên, độc lập hôm nay. Chúng em tự hứa với bản thân sẽ cố gắng hơn nữa trong học tập và lao động, cùng chung tay xây dựng quê hương, đất nước ngày càng phát triển”, em Đinh Thị Kim Khuyên nói.
Các tiết mục múa tại Ngày hội làng Mường.
Theo ông Ngô Tấn Quyết, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Sa Loong, Ngày hội làng Mường, mừng Tết Độc Lập là một hoạt động được tổ chức thường xuyên. Đây là dịp bà con người Mường bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; đồng thời, giáo dục các thế hệ trẻ tự hào về văn hóa dân tộc, cùng chung tay vun đắp vùng biên giới Sa Loong đoàn kết, đậm đà bản sắc văn hóa của của 15 dân tộc anh em cùng sinh sống.
Các tiết mục múa tại Ngày hội làng Mường.
“Các tiết mục biểu diễn, trò chơi dân gian cùng với những nét văn hóa đặc trưng của người Mường sẽ là nền tảng để chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch phát triển du lịch cộng đồng. Bên cạnh đó, xã cũng xây dựng phiên chợ nông sản gắn với ngày hội, giúp bà con nhân dân không chỉ của thôn Hào Lý, mà còn của các thôn khác, dân tộc khác kết nối và tiêu thụ sản phẩm nông sản. Qua đó, xây dựng vùng biên giới Sa Loong ngày càng ổn định, phát triển cả về kinh tế lẫn văn hóa”, ông Ngô Tấn Quyết nhấn mạnh.
Các tiết mục múa tại Ngày hội làng Mường.
Thôn Hào Lý, xã Sa Loong, tỉnh Quảng Ngãi có 145 hộ dân với hơn 600 nhân khẩu; trong đó có 90% là người dân tộc Mường từ tỉnh Hòa Bình vào làm ăn, sinh sống từ năm 1991. Trong nhiều năm qua, những nét văn hóa độc đáo của dân tộc đang dần được tái hiện, bảo tồn và phát triển; trong đó, Tết Độc Lập là một nét văn hóa đặc trưng đã và đang được các thế hệ người Mường tại Hào Lý gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ./.
Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).
Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.
Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...
Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.
Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).
Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.
Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.
Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.
Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.
Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.
Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.
Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.
Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.
Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.
Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.
Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.
Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.
Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.
Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.
Theo cema.gov.vn