Đắk Lắk vài nét tổng quan

Đắk Lắk vài nét tổng quan
1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý


Tỉnh Đắk Lắk, có diện tích 13.125,37 km2, nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57" đến 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45"  đến 13o25'06" độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km.

-    Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai

-    Phía Đông giáp Phú YênKhánh Hòa

-    Phía Nam giáp Lâm ĐồngĐắk Nông

-    Phía Tây giáp Campuchia.

Địa hình

Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính. Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc.

Khí hậu

Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành 6 tiểu vùng:
- Tiểu vùng bình nguyên Ea Súp chiếm 28,43% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng cao nguyên Buôn Mê Thuột – Ea H’Leo chiếm 16,17% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đồi núi và cao nguyên M’Đrắk chiếm 15,82% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đất ven sông Krông Ana – Sêrêpôk chiếm 14,51% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin chiếm 3,98% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi Rlang Dja chiếm 3,88% diện tích tự nhiên.

Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.

Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

Tài nguyên đất

Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.

- Nhóm đất phù sa (Fuvisols):
Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..

- Nhóm đất Gley (Gleysols):
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông.

- Nhóm đất xám (Acrisols):
Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện.

- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk.

Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc.

- Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính:

Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.

Tài nguyên rừng

Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.

Tài nguyên khoáng sản

Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như sét cao lanh (ở M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.

2. Dân cư
 
Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc, trong đó chủ yếu là các dân tộc:
- Dân tộc Kinh
- Dân tộc Ê Đê
- Dân tộc M'Nông
- Dân tộc Gia Rai
- Dân tộc Tày
- Dân tộc Thái
- Dân tộc Nùng
- Dân tộc Mông
- Dân tộc Dao

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Buôn Ma Thuột là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Ama Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Từ giữa thế kỷ XII, đồng bào dân tộc ở miền Trung Tây Nguyên đã từng đứng dậy đấu tranh chống sự xâm lược của Chiêm Thành. Đến năm 1470, khi Chiêm Thành xâm lấn biên giới phía nam của nước Đại Việt, bị quan quân nhà Lê đánh tan. Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, nhà Lê một mặt tôn trọng đường ranh giới giữa vùng cư trú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với đồng bằng; mặt khác đã có những chính sách nhằm duy trì mối quan hệ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Năm 1540, khi Bùi Tá Hán được triều đình cử làm Tuần Tiết xứ Nam Ngãi, kiêm cả các vùng dân tộc miền núi phía Tây. Ông đã cho di dân lên lập ấp trên miền núi, mở mang buôn bán giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, tiến cử các vị tù, tộc trưởng ở địa phương và tấn phong vua Hỏa Xá và Thủy Xá. Từ đó cho đến các đời vua nhà Nguyễn sau này, địa bàn Tây Nguyên-Daklak được gọi là trấn Man, do triều đình gián tiếp quản lý. Về hành chính, trấn Man chia thành 4 nguyên và 5 đạo và về quân sự, nhà Nguyễn lập ra một số đồn lính, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do thám, nắm tình hình dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược Tây Nguyên, Đắk Lắk. Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh chiếm Buôn Đôn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm toàn bộ cao nguyên Đắk Lắk.

Sau khi chiếm Đắk Lắk, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị, thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk vào năm 1904 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Chúng chia Đắk Lắk làm 5 quận, áp đặt chế độ trực trị, thực hiện chính sách "chia để trị". Nhưng cũng chính từ sự áp bức, bóc lột hà khắc đó, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã liên tục và anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của các vị Tù trưởng. Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong tỉnh liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang; như cuộc khởi nghĩa của Ama Jhao (1890-1904), cuộc đấu tranh của N’Trang Gưh (1900 -1914), cuộc khởi nghĩa của Oi H’Mai (1903 - 1909. Tiêu biểu hơn cả là cuộc nổi dậy của đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa này kéo dài 23 năm (1912-1935) lôi cuốn đồng bào các dân tộc, không chỉ ở cao nguyên Dak Nông, mà cả Tây Nguyên và Cam pu chia hưởng ứng.

Cùng với các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang do các vị tù trưởng lãnh đạo, trong tỉnh cũng đã xuất hiện một số phong trào đấu tranh chính trị hợp pháp của tầng lớp công chức, viên chức, trí thức, học sinh chống chính sách chia để trị của thực dân Pháp, chống chính sách ngu dân, khinh miệt đồng bào các dân tộc bản xứ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do hai giáo chức yêu nước người Ê đê là Y Jút và Y út lãnh đạo (1925 - 1926).

Cũng trong thời kỳ này, do chính sách lập đồn điền khai thác thuộc địa, ở Đắk Lắk đã xuất hiện một tầng lớp công nhân làm thuê cho các đồn điền bót lột và hành hạ. Để chống lại sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, công nhân các đồn điền đã nhiều lần tổ chức các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau. Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh của công nhân thời kỳ này là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Mai ô (Maillot) năm 1927, cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Rossi, CHPI năm 1933, công nhân cầu đường Buôn Hồ 1935 và sau này là công nhân đồn điền CADA...

Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đọan kết thúc, nhất là sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, tình hình phong trào Cách mạng trong tỉnh phát triển sôi nổi. Các tổ chức đòan thể, các Hội quần chúng lần lượt ra đời, lôi cuốn lực lượng công nông, trí thức, thanh niên, phụ nữ tham gia họat động Việt Minh. Ngày 24 tháng 8 năm 1945, sau cuộc khởi nghĩa ở đồn điền CADA, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thắng lợi ở Buôn Ma Thuột: hàng vạn quần chúng đã đồng lọat đứng lên ủng hộ ủy ban khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập chính quyền cách mạng, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.

Sau khi xóa bỏ bộ máy cai trị của thực dân phát xít, đồng bào các dân tộc đã đoàn kết, chung sức chung lòng bắt tay xây dựng chế độ mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ủy ban Việt Minh, nhân dân Đắk Lắk hăng hái tham gia củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, chống giặc đói, giặc dốt, thực hiện các quyền và nghĩa vụ thiêng liêng mà cách mạng đã mang lại.

Ngày 30 tháng 12 năm 1945 quân đội Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai. Quân dân Buôn Ma Thuột và quân dân các dân tộc trong tỉnh đã đứng dậy đấu tranh. Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, gian khổ và ác liệt cuối cùng đã giành được thắng lợi.

Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, với âm mưu xâm chiếm miền Nam chia cắt lâu dài đất nước ta. Cùng với nhân dân cả nước đồng bào các dân tộc Đắk Lắk tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống lại những kẻ thù nguy hiểm hơn, độc ác hơn đó là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.

Trong hơn 20 năm chiến chiếm đóng, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung biết bao tiềm lực quân sự và chính trị, nhằm xây dựng Đắk Lắk thành một địa bàn chiến lược trọng yếu, với nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp ý chí cách mạng của đồng bào các dân tộc Đắk Lắk. Nhưng vượt lên trên mọi hy sinh tổn thất to lớn và nặng nề nhất, quân dân các dân tộc đã kề vai sát cánh bên nhau, bền bĩ đấu tranh, lần lượt đập tan các âm mưu, thủ đọan của kẻ thù, lập nên những chiến công oanh liệt: đồng khởi phá kềm 1960-1961, phá ấp giành dân giải phóng nông thôn 1964-1965, tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu thân 1968, đánh bại chương trình bình định cấp tốc của Mỹ Ngụy 1969-1972. Cuối cùng đã làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột (Ngày 10/03/1975), mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

4. Tiềm năng văn hóa - du lịch

Đắk Lắk là tỉnh trung tâm của vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển KT-XH, trong đó hoạt động du lịch có đủ tiềm năng để đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Với đặc điểm địa lý của một vùng đất cao nguyên quy tụ 47 dân tộc và tài nguyên du lịch đa dạng, Đắk Lắk được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến như một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, cụm thác Gia Long – Dray Sap, cụm du lịch Buôn Đôn, thác Krông Kma, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…

Toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 02 di tích lịch sử văn hoá, 13 di tích kiến trúc nghệ thuật, 8 di tích khảo cổ, 71 di tích thắng cảnh, 25 danh lam thắng cảnh. Có 9 di tích được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích quốc gia, Bảo tàng Đắk Lắk có hơn 8.000 hiện vật văn hoá lịch sử.


Đến Đắk Lắk là đến với vùng đất có nhiều rừng núi, sông hồ và những thác nước hùng vĩ, hòa cùng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – một “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể” của nhân loại. Cùng với nét độc đáo trong văn hóa, Đắk Lắk còn là vùng đất của những lễ hội khá đặc trưng đã được du khách trong và ngoài nước biết đến như: Lễ hội đua voi; Lễ hội văn hóa Cồng Chiêng; Lễ cúng bến nước; Lễ bỏ mả…của đồng bào các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này. Đặc biệt gần đây Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột đã được Chính phủ công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia được tổ chức 02 năm một lần vào tháng 3.
Theo daklak.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Đặc sắc Chương trình nghệ thuật 'Vì bình yên bản làng'

Đặc sắc Chương trình nghệ thuật 'Vì bình yên bản làng'

Tối 16/5, tại bản Chiềng Đi 2, xã Vân Hồ (tỉnh Sơn La), Cục Truyền thông Công an nhân dân phối hợp với Công an tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình giao lưu nghệ thuật truyền hình trực tiếp với chủ đề “Vì bình yên bản làng”.

Phát huy hiệu quả công tác dân vận trong Quân đội

Phát huy hiệu quả công tác dân vận trong Quân đội

Sư đoàn 10 (Quân đoàn 34) đóng chân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và Đắk Lắk. Bên cạnh nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đơn vị thực hiện tốt công tác dân vận tại các nơi đóng quân; qua đó, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng vững chắc thế trận lòng dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Hiến đất mở đường, góp sức xây dựng nông thôn mới

Hiến đất mở đường, góp sức xây dựng nông thôn mới

Sau quá trình vận động, 59 hộ dân ở hai thôn Hải Yên và Kim Môn, xã Chư A Thai, tỉnh Gia Lai đã tự nguyện tháo dỡ cổng ngõ, hàng rào, mái hiên để hiến hơn 3.800 m² đất mở rộng tuyến đường liên thôn dài hơn 1km. Từ sự đồng thuận của người dân, địa phương có thêm nguồn lực hoàn thiện hạ tầng giao thông, phục vụ xây dựng nông thôn mới.

Lớp học chữ đặc biệt nơi đại ngàn Tà Xùa

Lớp học chữ đặc biệt nơi đại ngàn Tà Xùa

Giữa cánh rừng đặc dụng của xã Tà Xùa, tỉnh Sơn La, đường vào bản Làng Sáng nhiều đoạn chỉ vừa một xe máy chạy qua. Tối tối, nơi bản xa này lại vang lên tiếng đánh vần ê a của những phụ nữ dân tộc Mông lần đầu học chữ. Tại bản Làng Sáng, lớp học xóa mù chữ mở ra hy vọng đổi thay cho những người quanh năm chỉ biết cầm cuốc làm nương rẫy mà chưa một lần cầm bút.

Đồng bộ giải pháp đảm bảo nước tưới cho vụ Hè Thu

Đồng bộ giải pháp đảm bảo nước tưới cho vụ Hè Thu

Trước tác động tiêu cực của hiện tượng El Nino gây nắng nóng kéo dài và nguy cơ hạn hán cục bộ, việc đảm bảo nguồn nước tưới cho vụ Hè Thu đang trở thành nhiệm vụ trọng yếu tại Gia Lai. Ngành thủy lợi cùng chính quyền các địa phương phía Đông tỉnh đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, từ thay đổi lịch thời vụ đến điều tiết hồ chứa, quyết tâm bảo vệ diện tích cây trồng.

Thúc đẩy xây dựng khu vực cửa khẩu hiện đại

Thúc đẩy xây dựng khu vực cửa khẩu hiện đại

Ngày 15/5, tại Lối thông quan Tân Thanh (Việt Nam) - Pò Chài (Trung Quốc) khu vực mốc 1090 - 1091 thuộc xã Hoàng Văn Thụ, tỉnh Lạng Sơn, Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn và Chính phủ nhân dân thị Bằng Tường, Quảng Tây (Trung Quốc) tổ chức Hội đàm nhằm thúc đẩy giao thương, xây dựng cửa khẩu thông minh và phát triển du lịch biên giới giữa hai địa phương.

Binh đoàn 15 khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho người dân vùng biên

Binh đoàn 15 khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho người dân vùng biên

Ngày 15/5, tại xã Ia Krái, tỉnh Gia Lai, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 715 thuộc Binh đoàn 15 tổ chức chương trình khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho công nhân, người lao động và tặng quà công nhân tuyển mới trên địa bàn các xã biên giới Ia Krái, Ia O và Ia Chía. Đây là hoạt động hưởng ứng Tháng Công nhân năm 2026 và chào mừng kỷ niệm 40 năm Ngày truyền thống Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 715 (20/6/1986 - 20/6/2026).

Nông dân Đắk Lắk gặp khó vì mía cháy và nhà máy chậm thu mua

Nông dân Đắk Lắk gặp khó vì mía cháy và nhà máy chậm thu mua

Nông dân trồng mía ở khu vực phía Đông tỉnh Đắk Lắk đang trải qua một mùa vụ đầy khó khăn khi tình trạng mía cháy liên tục xảy ra trên diện rộng, khó kiểm soát. Cùng với những diễn biến về thị trường giá cả, nhà máy chậm thu mua khiến người trồng mía thêm thấp thỏm lo âu.

Nhiều giải pháp bảo đảm an toàn lưới điện mùa nắng nóng

Nhiều giải pháp bảo đảm an toàn lưới điện mùa nắng nóng

Nhu cầu sử dụng điện tăng cao trong mùa nắng nóng năm 2026 đang đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác điều hành hệ thống điện tại Lào Cai. Trước áp lực phụ tải gia tăng nhanh, cùng diễn biến thời tiết cực đoan, tỉnh Lào Cai đã chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp từ điều hành, kỹ thuật đến quản lý nhu cầu điện nhằm bảo đảm cung ứng điện an toàn, ổn định, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Nỗ lực đưa nước sạch lên bản Mông Pà Cò

Nỗ lực đưa nước sạch lên bản Mông Pà Cò

Nhiều năm nay, người dân bản người Mông ở xã Pà Cò (tỉnh Phú Thọ) luôn sống trong cảnh thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng do nguồn nước tự nhiên khan hiếm; trong khi công trình cấp nước sạch xuống cấp, không còn hoạt động.

Củng cố niềm tin khi Bí thư Đảng ủy xã đối thoại với dân

Củng cố niềm tin khi Bí thư Đảng ủy xã đối thoại với dân

Thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân, thời gian qua, cấp ủy các xã phía Tây tỉnh Quảng Ngãi đang đẩy mạnh thực hiện đối thoại trực tiếp giữa Bí thư Đảng ủy xã với nhân dân, qua đó kịp thời tiếp nhận, giải quyết các nguyện vọng chính đáng của người dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Nghệ An: Di dời khẩn cấp 12 hộ dân ra khỏi vùng nguy hiểm

Nghệ An: Di dời khẩn cấp 12 hộ dân ra khỏi vùng nguy hiểm

Ngày 14/5, ông Lê Viết Quý, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Kỳ (Nghệ An) cho biết, chính quyền địa phương đã di dời khẩn cấp 12 hộ dân với 40 khẩu tại khối 1, xã Tân Kỳ (đoạn Km270+900, Quốc lộ 15A) để đảm bảo an toàn tính mạng trước tình trạng sạt lở đất nghiêm trọng.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Đồng hành cùng học sinh vùng cao vượt vũ môn

Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026: Đồng hành cùng học sinh vùng cao vượt vũ môn

Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 chỉ còn được tính bằng tuần. Trong giai đoạn nước rút của học sinh lớp 12 tại các trường vùng cao, biên giới Lào Cai luôn có sự đồng hành chặt chẽ giữa thầy cô, gia đình và nỗ lực của chính các em tự tin chinh phục cột mốc quan trọng phía trước.

Lan tỏa hiệu quả vốn tín dụng chính sách

Lan tỏa hiệu quả vốn tín dụng chính sách

Từ nguồn vốn tín dụng chính sách, nhiều hộ dân tại tỉnh Vĩnh Long có thêm điều kiện đầu tư sản xuất, phát triển mô hình kinh tế phù hợp, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Không chỉ hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trước mắt, các chương trình tín dụng ưu đãi còn hướng đến mục tiêu phát triển sinh kế bền vững, giúp hộ vay chủ động xây dựng kế hoạch làm ăn lâu dài, từng bước nâng cao khả năng tự tạo thu nhập ổn định cuộc sống.

Giữ bình yên biên giới bằng tình quân dân bền chặt

Giữ bình yên biên giới bằng tình quân dân bền chặt

Dọc tuyến biên giới Tây Nam của tỉnh Tây Ninh hôm nay, những con đường tuần tra được nhựa hóa nối dài qua các xã biên giới, những lớp học tình thương, tiếng kẻng vùng biên vẫn vang lên như tín hiệu của sự đoàn kết, cảnh giác và bình yên nơi phên giậu Tổ quốc. Đằng sau sự đổi thay ấy là dấu ấn đậm nét của lực lượng Bộ đội Biên phòng trong thực hiện "nhiệm vụ kép": vừa bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, vừa đồng hành cùng nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng vùng biên ổn định.

Đỏ rực con đường hoa phượng bên bờ kênh xáng Lấp Vò

Đỏ rực con đường hoa phượng bên bờ kênh xáng Lấp Vò

Hàng phượng vĩ chạy dọc theo tuyến Quốc lộ 80 đoạn qua địa bàn xã Lấp Vò (tỉnh Đồng Tháp) đang mùa nở hoa. Nằm giữa Quốc lộ 80 và kênh xáng Lấp Vò, hàng hoa phượng với hàng trăm cây “thắp lửa” đỏ rực suốt đoạn đường dài khoảng 4 km khiến người đi đường bất ngờ, thích thú. Nhiều người đã chọn nơi đây làm điểm dừng chân, chụp ảnh, lưu giữ những khoảnh khắc kỷ niệm cùng người thân, bạn bè.

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Năm học 2025 - 2026, Trường Dân tộc Nội trú THCS và THPT Đà Bắc, xã Đà Bắc, tỉnh Phú Thọ có 325 học sinh; 100% học sinh ăn bán trú là con em đồng bào dân tộc thiểu số đến từ các xóm, bản vùng cao còn nhiều khó khăn. Ngoài việc truyền đạt kiến thức cho các em, việc chăm sóc tốt sức khỏe qua chất lượng bữa ăn cũng được nhà trường quan tâm để các em có sức khoẻ học tập, rèn luyện.

Đắk Lắk siết chặt quản lý bảo vệ rừng trong mùa khô

Đắk Lắk siết chặt quản lý bảo vệ rừng trong mùa khô

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, hiện đang trong giai đoạn cao điểm mùa khô, việc di chuyển trong rừng thuận lợi làm tăng nguy cơ xảy ra các vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp. Do đó, lực lượng kiểm lâm toàn tỉnh tăng cường tuần tra, kiểm soát và lồng ghép phòng cháy rừng với ngăn chặn khai thác, vận chuyển gỗ trái phép.

Gấp rút hoàn thành trường nội trú liên cấp ​để đón học sinh trong năm học mới 2026-2027

Gấp rút hoàn thành trường nội trú liên cấp ​để đón học sinh trong năm học mới 2026-2027

Tỉnh Lạng Sơn đang khẩn trương xây dựng 11 trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới để đáp ứng nhu cầu học tập cho hơn 12.700 học sinh. Trong đó, địa phương tập trung mọi nguồn lực nhanh chóng hoàn thành 4 trường trong giai đoạn 1 trước ngày 31/7/2026 để đón học sinh trong năm học mới 2026-2027.

Hòn Cau - 'viên ngọc xanh' hút khách giữa biển khơi Lâm Đồng

Hòn Cau - 'viên ngọc xanh' hút khách giữa biển khơi Lâm Đồng

Thắng cảnh Hòn Cau (còn gọi là Cù Lao Câu), thuộc vùng biển xã Liên Hương, tỉnh Lâm Đồng, đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách nhờ vẻ đẹp hoang sơ, làn nước trong xanh cùng hệ sinh thái biển đa dạng, độc đáo. Không chỉ nổi bật với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, nơi đây còn là khu bảo tồn biển có ý nghĩa đặc biệt đối với môi trường biển Việt Nam.

Lâm Đồng đẩy mạnh phân cấp, nâng cao hiệu lực quản lý ở cơ sở

Lâm Đồng đẩy mạnh phân cấp, nâng cao hiệu lực quản lý ở cơ sở

Triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tỉnh Lâm Đồng tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Từ việc tinh gọn tổ chức bộ máy, tăng cường phân cấp, phân quyền đến đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giải quyết thủ tục hành chính, địa phương hướng tới xây dựng nền hành chính hiện đại, hiệu lực, hiệu quả.

Lâm Đồng bổ sung gần 39 tỷ đồng sửa chữa hồ chứa Đắk N’ting

Lâm Đồng bổ sung gần 39 tỷ đồng sửa chữa hồ chứa Đắk N’ting

Ngày 12/5, thông tin từ Văn phòng UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Lâm Đồng Lê Trọng Yên vừa ký quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án hồ chứa nước Đắk N’ting. Đây là dự án hồ chứa nước đã được xác định bị hư hỏng do thiên tai cách đây gần 3 năm.

Cần sớm đầu tư tuyến đường liên xã ở vùng cao Lào Cai

Cần sớm đầu tư tuyến đường liên xã ở vùng cao Lào Cai

Nhiều năm nay, tuyến đường duy nhất từ thôn Mộ, xã Châu Quế kết nối với thôn Khe Chìa, xã Phong Dụ Hạ, tỉnh Lào Cai chưa được đầu tư khiến việc đi lại của người dân gặp nhiều khó khăn. Niềm mong mỏi lớn nhất của người dân nơi đây có được một tuyến đường thuận lợi cho việc đi lại, giao thương, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.