Đắk Lắk vài nét tổng quan

Đắk Lắk vài nét tổng quan
1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý


Tỉnh Đắk Lắk, có diện tích 13.125,37 km2, nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57" đến 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45"  đến 13o25'06" độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km.

-    Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai

-    Phía Đông giáp Phú YênKhánh Hòa

-    Phía Nam giáp Lâm ĐồngĐắk Nông

-    Phía Tây giáp Campuchia.

Địa hình

Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính. Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc.

Khí hậu

Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành 6 tiểu vùng:
- Tiểu vùng bình nguyên Ea Súp chiếm 28,43% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng cao nguyên Buôn Mê Thuột – Ea H’Leo chiếm 16,17% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đồi núi và cao nguyên M’Đrắk chiếm 15,82% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đất ven sông Krông Ana – Sêrêpôk chiếm 14,51% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin chiếm 3,98% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi Rlang Dja chiếm 3,88% diện tích tự nhiên.

Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.

Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

Tài nguyên đất

Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.

- Nhóm đất phù sa (Fuvisols):
Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..

- Nhóm đất Gley (Gleysols):
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông.

- Nhóm đất xám (Acrisols):
Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện.

- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk.

Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc.

- Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính:

Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.

Tài nguyên rừng

Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.

Tài nguyên khoáng sản

Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như sét cao lanh (ở M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.

2. Dân cư
 
Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc, trong đó chủ yếu là các dân tộc:
- Dân tộc Kinh
- Dân tộc Ê Đê
- Dân tộc M'Nông
- Dân tộc Gia Rai
- Dân tộc Tày
- Dân tộc Thái
- Dân tộc Nùng
- Dân tộc Mông
- Dân tộc Dao

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Buôn Ma Thuột là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Ama Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Từ giữa thế kỷ XII, đồng bào dân tộc ở miền Trung Tây Nguyên đã từng đứng dậy đấu tranh chống sự xâm lược của Chiêm Thành. Đến năm 1470, khi Chiêm Thành xâm lấn biên giới phía nam của nước Đại Việt, bị quan quân nhà Lê đánh tan. Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, nhà Lê một mặt tôn trọng đường ranh giới giữa vùng cư trú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với đồng bằng; mặt khác đã có những chính sách nhằm duy trì mối quan hệ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Năm 1540, khi Bùi Tá Hán được triều đình cử làm Tuần Tiết xứ Nam Ngãi, kiêm cả các vùng dân tộc miền núi phía Tây. Ông đã cho di dân lên lập ấp trên miền núi, mở mang buôn bán giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, tiến cử các vị tù, tộc trưởng ở địa phương và tấn phong vua Hỏa Xá và Thủy Xá. Từ đó cho đến các đời vua nhà Nguyễn sau này, địa bàn Tây Nguyên-Daklak được gọi là trấn Man, do triều đình gián tiếp quản lý. Về hành chính, trấn Man chia thành 4 nguyên và 5 đạo và về quân sự, nhà Nguyễn lập ra một số đồn lính, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do thám, nắm tình hình dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược Tây Nguyên, Đắk Lắk. Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh chiếm Buôn Đôn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm toàn bộ cao nguyên Đắk Lắk.

Sau khi chiếm Đắk Lắk, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị, thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk vào năm 1904 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Chúng chia Đắk Lắk làm 5 quận, áp đặt chế độ trực trị, thực hiện chính sách "chia để trị". Nhưng cũng chính từ sự áp bức, bóc lột hà khắc đó, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã liên tục và anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của các vị Tù trưởng. Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong tỉnh liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang; như cuộc khởi nghĩa của Ama Jhao (1890-1904), cuộc đấu tranh của N’Trang Gưh (1900 -1914), cuộc khởi nghĩa của Oi H’Mai (1903 - 1909. Tiêu biểu hơn cả là cuộc nổi dậy của đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa này kéo dài 23 năm (1912-1935) lôi cuốn đồng bào các dân tộc, không chỉ ở cao nguyên Dak Nông, mà cả Tây Nguyên và Cam pu chia hưởng ứng.

Cùng với các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang do các vị tù trưởng lãnh đạo, trong tỉnh cũng đã xuất hiện một số phong trào đấu tranh chính trị hợp pháp của tầng lớp công chức, viên chức, trí thức, học sinh chống chính sách chia để trị của thực dân Pháp, chống chính sách ngu dân, khinh miệt đồng bào các dân tộc bản xứ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do hai giáo chức yêu nước người Ê đê là Y Jút và Y út lãnh đạo (1925 - 1926).

Cũng trong thời kỳ này, do chính sách lập đồn điền khai thác thuộc địa, ở Đắk Lắk đã xuất hiện một tầng lớp công nhân làm thuê cho các đồn điền bót lột và hành hạ. Để chống lại sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, công nhân các đồn điền đã nhiều lần tổ chức các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau. Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh của công nhân thời kỳ này là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Mai ô (Maillot) năm 1927, cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Rossi, CHPI năm 1933, công nhân cầu đường Buôn Hồ 1935 và sau này là công nhân đồn điền CADA...

Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đọan kết thúc, nhất là sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, tình hình phong trào Cách mạng trong tỉnh phát triển sôi nổi. Các tổ chức đòan thể, các Hội quần chúng lần lượt ra đời, lôi cuốn lực lượng công nông, trí thức, thanh niên, phụ nữ tham gia họat động Việt Minh. Ngày 24 tháng 8 năm 1945, sau cuộc khởi nghĩa ở đồn điền CADA, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thắng lợi ở Buôn Ma Thuột: hàng vạn quần chúng đã đồng lọat đứng lên ủng hộ ủy ban khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập chính quyền cách mạng, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.

Sau khi xóa bỏ bộ máy cai trị của thực dân phát xít, đồng bào các dân tộc đã đoàn kết, chung sức chung lòng bắt tay xây dựng chế độ mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ủy ban Việt Minh, nhân dân Đắk Lắk hăng hái tham gia củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, chống giặc đói, giặc dốt, thực hiện các quyền và nghĩa vụ thiêng liêng mà cách mạng đã mang lại.

Ngày 30 tháng 12 năm 1945 quân đội Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai. Quân dân Buôn Ma Thuột và quân dân các dân tộc trong tỉnh đã đứng dậy đấu tranh. Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, gian khổ và ác liệt cuối cùng đã giành được thắng lợi.

Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, với âm mưu xâm chiếm miền Nam chia cắt lâu dài đất nước ta. Cùng với nhân dân cả nước đồng bào các dân tộc Đắk Lắk tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống lại những kẻ thù nguy hiểm hơn, độc ác hơn đó là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.

Trong hơn 20 năm chiến chiếm đóng, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung biết bao tiềm lực quân sự và chính trị, nhằm xây dựng Đắk Lắk thành một địa bàn chiến lược trọng yếu, với nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp ý chí cách mạng của đồng bào các dân tộc Đắk Lắk. Nhưng vượt lên trên mọi hy sinh tổn thất to lớn và nặng nề nhất, quân dân các dân tộc đã kề vai sát cánh bên nhau, bền bĩ đấu tranh, lần lượt đập tan các âm mưu, thủ đọan của kẻ thù, lập nên những chiến công oanh liệt: đồng khởi phá kềm 1960-1961, phá ấp giành dân giải phóng nông thôn 1964-1965, tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu thân 1968, đánh bại chương trình bình định cấp tốc của Mỹ Ngụy 1969-1972. Cuối cùng đã làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột (Ngày 10/03/1975), mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

4. Tiềm năng văn hóa - du lịch

Đắk Lắk là tỉnh trung tâm của vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển KT-XH, trong đó hoạt động du lịch có đủ tiềm năng để đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Với đặc điểm địa lý của một vùng đất cao nguyên quy tụ 47 dân tộc và tài nguyên du lịch đa dạng, Đắk Lắk được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến như một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, cụm thác Gia Long – Dray Sap, cụm du lịch Buôn Đôn, thác Krông Kma, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…

Toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 02 di tích lịch sử văn hoá, 13 di tích kiến trúc nghệ thuật, 8 di tích khảo cổ, 71 di tích thắng cảnh, 25 danh lam thắng cảnh. Có 9 di tích được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích quốc gia, Bảo tàng Đắk Lắk có hơn 8.000 hiện vật văn hoá lịch sử.


Đến Đắk Lắk là đến với vùng đất có nhiều rừng núi, sông hồ và những thác nước hùng vĩ, hòa cùng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – một “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể” của nhân loại. Cùng với nét độc đáo trong văn hóa, Đắk Lắk còn là vùng đất của những lễ hội khá đặc trưng đã được du khách trong và ngoài nước biết đến như: Lễ hội đua voi; Lễ hội văn hóa Cồng Chiêng; Lễ cúng bến nước; Lễ bỏ mả…của đồng bào các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này. Đặc biệt gần đây Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột đã được Chính phủ công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia được tổ chức 02 năm một lần vào tháng 3.
Theo daklak.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Tiếp thêm động lực cho học sinh vùng biên Tuyên Quang

Tiếp thêm động lực cho học sinh vùng biên Tuyên Quang

Sau hơn 3 tháng triển khai Nghị định 339/2025/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền, nhiều trường học vùng cao của tỉnh Tuyên Quang đã ghi nhận những chuyển biến tích cực. Chính sách không chỉ góp phần cải thiện điều kiện học tập cho học sinh mà còn tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Thanh Hóa còn 760 hộ dân miền núi chưa có điện lưới quốc gia

Thanh Hóa còn 760 hộ dân miền núi chưa có điện lưới quốc gia

Theo thống kê của Sở Công Thương và Công ty Điện lực Thanh Hóa, trên địa bàn tỉnh vẫn còn 761 hộ dân sống tại 23 bản, thuộc 9 xã miền núi chưa được sử dụng điện lưới quốc gia, chủ yếu thuộc các xã biên giới như Yên Nhân, Trung Lý, Tam Chung, Tam Lư và xã Mường Lý...

Nhiều hộ dân miền núi Thanh Hóa chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Nhiều hộ dân miền núi Thanh Hóa chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Tại khu vực các xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa vẫn còn 761 hộ dân sống tại các cụm dân cư, thuộc 23 thôn, bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia. Những hộ gia đình này chủ yếu sống tại vùng đặc biệt khó khăn có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt nên việc kéo điện đang còn gặp khó khăn. Họ mong một ngày nào đó có điện lưới để thắp sáng, sử dụng những tiện nghi của đời sống giữa đại ngàn vùng cao.

Nhanh chóng hỗ trợ nhân dân Pắc Ngà (Sơn La) khắc phục hậu quả dông lốc

Nhanh chóng hỗ trợ nhân dân Pắc Ngà (Sơn La) khắc phục hậu quả dông lốc

Trận dông lốc với cường độ mạnh xảy ra ngày 29/3 đã gây thiệt hại về nhà ở của người dân xã Pắc Ngà, tỉnh Sơn La. Thống kê ban đầu, dông lốc xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng cường độ mạnh đã làm sập đổ, nghiêng và tốc mái 12 căn nhà của các hộ dân tại 3 bản: Lừm Thượng A, Lừm Thượng B và Suối Tải.

Lan tỏa yêu thương từ 'Tủ đồ sơ sinh 0 đồng'

Lan tỏa yêu thương từ 'Tủ đồ sơ sinh 0 đồng'

Chương trình “Tủ đồ sơ sinh 0 đồng - Chia sẻ yêu thương” được Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông (tỉnh Quảng Ngãi) triển khai và duy trì 5 tháng nay đã thực sự phát huy hiệu quả, giúp nhiều sản phụ thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo an tâm hơn khi đến sinh con tại đây.

Nghệ An: Dông lốc kèm mưa đá tại xã miền núi Quỳ Châu

Nghệ An: Dông lốc kèm mưa đá tại xã miền núi Quỳ Châu

Chiều 29/3, trên địa bàn miền núi xã Quỳ Châu (tỉnh Nghệ An) bất ngờ xảy ra một trận dông kèm theo mưa đá. Mưa đá diễn ra trong thời gian gần 10 phút, khiến người dân khá bất ngờ bởi hiện tượng thời tiết cực đoan này xảy ra quá nhanh, bầu trời nhanh chóng chuyển tối, gió mạnh nổi lên liên tục và trước đó thời tiết ở các khu vực đã trải qua nhiều giờ nắng gắt.

Dông lốc gây nhiều thiệt hại ở Lào Cai

Dông lốc gây nhiều thiệt hại ở Lào Cai

Vào khoảng 16 giờ 40 phút chiều 29/3, tại các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia và xã Liên Sơn của tỉnh Lào Cai (khu vực thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái cũ), cơn dông lốc mạnh xảy ra làm một công nhân vệ sinh môi trường bị thương, nhiều cây xanh bị gãy, đổ và hàng trăm ngôi nhà dân bị tốc mái.

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Đến hẹn lại lên, cứ vào chủ nhật hàng tuần, khi sương núi còn bảng lảng trên những triền đá, chợ phiên Phương Độ (Hà Giang 1, Tuyên Quang) đã bừng thức trong nhịp bước rộn ràng của đồng bào người Tày, Dao… ở các bản làng xa gần về họp chợ. 

Cách giữ xanh rừng Sêrêpôk khi lực lượng mỏng

Cách giữ xanh rừng Sêrêpôk khi lực lượng mỏng

Nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lâm Đồng, rừng Sêrêpôk bao bọc lưu vực của con sông cùng tên Sêrêpôk bí ẩn, bởi hướng chảy ngược về thượng nguồn trước khi vượt qua biên giới Campuchia để đổ ra biển.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài cuối: Xóa trường tạm, dựng tương lai ​

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài cuối: Xóa trường tạm, dựng tương lai ​

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Nghị quyết số 298/NQ-CP về kế hoạch hành động của Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa đã khẩn trương triển khai khảo sát, lập danh mục đề xuất, trình Chính phủ và được phê duyệt đầu tư xây dựng 16 trường nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho 16 xã biên giới. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, đến nay nhiều công trình khởi công năm 2025 đã đạt tiến độ gần 30%, cố gắng bàn giao trước năm học tới.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 2: Dệt ước mơ nơi phên giậu Tổ quốc

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 2: Dệt ước mơ nơi phên giậu Tổ quốc

Giải bài toán từ những lớp học chông chênh và hành trình đến trường đầy trắc trở của học sinh vùng cao biên giới, chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông liên cấp nội trú cho các xã biên giới theo Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị đã biến giấc mơ của thầy, cô giáo và học sinh trở thành hiện thực. Tại các xã biên giới của tỉnh Thanh Hóa, địa bàn rộng, nhiều điểm trường lẻ, dân cư phân tán, đây là giải pháp khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, là bước tái cấu trúc không gian giáo dục theo hướng tập trung, hiệu quả.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 1: Vượt khó giữ nhịp học không bị đứt quãng

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 1: Vượt khó giữ nhịp học không bị đứt quãng

Thực tế tại các điểm trường vùng cao biên giới có địa hình chia cắt, thường xuyên gánh chịu mưa lũ, các em học sinh phải vượt quãng đường xa đến lớp, điều kiện học tập thiếu thốn, giáo viên chưa có nơi ở ổn định… Thông báo Kết luận số 81-TB/TW của Bộ Chính trị thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại 248 xã biên giới đất liền cho thấy hướng đi đúng và trúng với nhu cầu thực tiễn.

Hiện thực hóa khát vọng 'con chữ' nơi biên viễn

Hiện thực hóa khát vọng 'con chữ' nơi biên viễn

Thực hiện chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền tren cả nước, tỉnh Thanh Hóa đã trình Chính phủ đầu tư 16 Trường nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho 16 xã biên giới. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Đến nay, nhiều công trình đã đạt tiến độ gần 30%, cố gắng bàn giao trước năm học tới.

Lan tỏa nghĩa tình quân dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Lan tỏa nghĩa tình quân dân nơi tuyến đầu Tổ quốc

Kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2026), 51 năm Ngày Giải phóng thành phố Đà Nẵng (29/3/1975 - 29/3/2026) trong hai ngày 27-28/3, Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đà Nẵng tổ chức chương trình “Tháng Ba biên giới” tại xã La Dêê với nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, góp phần vun đắp tình đoàn kết quân dân, lan tỏa tinh thần xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ lực lượng vũ trang thành phố hướng về khu vực biên giới.

'Tháng Ba biên giới' lan tỏa nghĩa tình nơi phên dậu Tổ quốc

'Tháng Ba biên giới' lan tỏa nghĩa tình nơi phên dậu Tổ quốc

Ngày 28/3, tại xã Xuân Nha và Chiềng Sơn, Tỉnh đoàn Sơn La phối hợp với Đoàn Thanh niên các cơ quan: Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cùng cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức chương trình tình nguyện “Tháng Ba biên giới” năm 2026.

Sống lại ký ức hào hùng nơi biên giới

Sống lại ký ức hào hùng nơi biên giới

Ngày 28/3, Hiệp hội Du lịch tỉnh Tuyên Quang tổ chức chương trình trải nghiệm "Hành quân theo bước chân anh", thu hút sự tham gia của hàng trăm cựu chiến binh, thanh niên và du khách từ nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước. Tất cả cùng khoác lên mình màu áo lính, cùng trở về với ký ức hào hùng của một thời máu lửa để tri ân những Anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Nỗi trăn trở giữa mùa hạn mặn

Nỗi trăn trở giữa mùa hạn mặn

Cuối tháng 3, nắng và gió bước vào cao điểm. Trên các đồng lúa, đất bắt đầu nứt ra, các dòng sông, nước ngày càng cạn. Mùa khô hằng năm, câu chuyện hài hòa sản xuất, dân sinh giữa 2 vùng mặn ngọt tại Cà Mau luôn là nỗi băn khoăn, trăn trở của cả người dân và các cấp chính quyền.

Xây ước mơ cho học sinh vùng biên Si Pa Phìn

Xây ước mơ cho học sinh vùng biên Si Pa Phìn

Giữa vùng cao biên giới xã Si Pa Phìn, tỉnh Điện Biên, một ngôi trường phổ thông nội trú liên cấp khang trang, hiện đại đã được đưa vào sử dụng, mở ra cơ hội học tập tốt hơn cho hàng nghìn học sinh nơi đây.

Nâng tầm nông sản Điện Biên từ bảo hộ nhãn hiệu

Nâng tầm nông sản Điện Biên từ bảo hộ nhãn hiệu

Việc xây dựng nhãn hiệu chứng nhận đang trở thành hướng đi quan trọng nhằm khẳng định nguồn gốc, chất lượng nông sản, đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho người dân. Tại tỉnh Điện Biên, dứa mật Pu Lau và gạo Mường Thanh là hai sản phẩm chủ lực được lựa chọn triển khai theo hướng này.

Gần dân, sát dân, hiểu dân qua mô hình 'Buổi sáng với nhân dân' ở Nha Bích

Gần dân, sát dân, hiểu dân qua mô hình 'Buổi sáng với nhân dân' ở Nha Bích

“Buổi sáng với nhân dân” là mô hình dân vận khéo được tỉnh Đồng Nai triển khai tại các địa phương nhằm tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền xã với nhân dân, tạo diễn đàn trực tiếp để người dân phản ánh ý kiến, kiến nghị, vướng mắc liên quan đến đời sống, quản lý Nhà nước và các vấn đề dân sinh. Mô hình được người dân đánh giá cao.

Lực lượng vũ trang Quân khu 7 đoàn kết, đồng hành cùng đồng bào tôn giáo

Lực lượng vũ trang Quân khu 7 đoàn kết, đồng hành cùng đồng bào tôn giáo

Sáng 27/3, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tổ chức gặp mặt đại biểu chức sắc tiêu biểu các tôn giáo trên địa bàn nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026, nhằm tăng cường sự gắn bó giữa lực lượng vũ trang Quân khu và đồng bào tôn giáo trên địa bàn, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Biệt phái bác sĩ về làm việc tại trạm y tế xã, phường

Biệt phái bác sĩ về làm việc tại trạm y tế xã, phường

Ngày 27/4, Sở Y tế tỉnh Thái Nguyên tổ chức gặp mặt, triển khai nhiệm vụ đối với các bác sĩ biệt phái về làm việc tại trạm y tế xã, phường năm 2026. Trong đợt này, toàn tỉnh Thái Nguyên có 46 bác sĩ được biệt phái trong khoảng thời gian 3 tháng, đi làm việc tại các trạm y tế trên địa bàn tỉnh.

Cử tri dân tộc thiểu số tại TP Hồ Chí Minh kiến nghị nhiều vấn đề ‘nóng’ với đại biểu trúng cử

Cử tri dân tộc thiểu số tại TP Hồ Chí Minh kiến nghị nhiều vấn đề ‘nóng’ với đại biểu trúng cử

Sau khi kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được công bố, nhiều cử tri trong cộng đồng dân tộc thiểu số tại TP Hồ Chí Minh bày tỏ sự vui mừng, đồng thời kiến nghị nhiều vấn đề thiết thực về chính sách, đời sống bà con dân tộc trong cộng đồng.