Đắk Lắk vài nét tổng quan

Đắk Lắk vài nét tổng quan
1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý


Tỉnh Đắk Lắk, có diện tích 13.125,37 km2, nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57" đến 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45"  đến 13o25'06" độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km.

-    Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai

-    Phía Đông giáp Phú YênKhánh Hòa

-    Phía Nam giáp Lâm ĐồngĐắk Nông

-    Phía Tây giáp Campuchia.

Địa hình

Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính. Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc.

Khí hậu

Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành 6 tiểu vùng:
- Tiểu vùng bình nguyên Ea Súp chiếm 28,43% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng cao nguyên Buôn Mê Thuột – Ea H’Leo chiếm 16,17% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đồi núi và cao nguyên M’Đrắk chiếm 15,82% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đất ven sông Krông Ana – Sêrêpôk chiếm 14,51% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin chiếm 3,98% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi Rlang Dja chiếm 3,88% diện tích tự nhiên.

Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.

Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

Tài nguyên đất

Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.

- Nhóm đất phù sa (Fuvisols):
Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..

- Nhóm đất Gley (Gleysols):
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông.

- Nhóm đất xám (Acrisols):
Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện.

- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk.

Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc.

- Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính:

Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.

Tài nguyên rừng

Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.

Tài nguyên khoáng sản

Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như sét cao lanh (ở M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.

2. Dân cư
 
Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc, trong đó chủ yếu là các dân tộc:
- Dân tộc Kinh
- Dân tộc Ê Đê
- Dân tộc M'Nông
- Dân tộc Gia Rai
- Dân tộc Tày
- Dân tộc Thái
- Dân tộc Nùng
- Dân tộc Mông
- Dân tộc Dao

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Buôn Ma Thuột là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Ama Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Từ giữa thế kỷ XII, đồng bào dân tộc ở miền Trung Tây Nguyên đã từng đứng dậy đấu tranh chống sự xâm lược của Chiêm Thành. Đến năm 1470, khi Chiêm Thành xâm lấn biên giới phía nam của nước Đại Việt, bị quan quân nhà Lê đánh tan. Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, nhà Lê một mặt tôn trọng đường ranh giới giữa vùng cư trú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với đồng bằng; mặt khác đã có những chính sách nhằm duy trì mối quan hệ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Năm 1540, khi Bùi Tá Hán được triều đình cử làm Tuần Tiết xứ Nam Ngãi, kiêm cả các vùng dân tộc miền núi phía Tây. Ông đã cho di dân lên lập ấp trên miền núi, mở mang buôn bán giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, tiến cử các vị tù, tộc trưởng ở địa phương và tấn phong vua Hỏa Xá và Thủy Xá. Từ đó cho đến các đời vua nhà Nguyễn sau này, địa bàn Tây Nguyên-Daklak được gọi là trấn Man, do triều đình gián tiếp quản lý. Về hành chính, trấn Man chia thành 4 nguyên và 5 đạo và về quân sự, nhà Nguyễn lập ra một số đồn lính, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do thám, nắm tình hình dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược Tây Nguyên, Đắk Lắk. Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh chiếm Buôn Đôn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm toàn bộ cao nguyên Đắk Lắk.

Sau khi chiếm Đắk Lắk, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị, thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk vào năm 1904 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Chúng chia Đắk Lắk làm 5 quận, áp đặt chế độ trực trị, thực hiện chính sách "chia để trị". Nhưng cũng chính từ sự áp bức, bóc lột hà khắc đó, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã liên tục và anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của các vị Tù trưởng. Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong tỉnh liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang; như cuộc khởi nghĩa của Ama Jhao (1890-1904), cuộc đấu tranh của N’Trang Gưh (1900 -1914), cuộc khởi nghĩa của Oi H’Mai (1903 - 1909. Tiêu biểu hơn cả là cuộc nổi dậy của đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa này kéo dài 23 năm (1912-1935) lôi cuốn đồng bào các dân tộc, không chỉ ở cao nguyên Dak Nông, mà cả Tây Nguyên và Cam pu chia hưởng ứng.

Cùng với các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang do các vị tù trưởng lãnh đạo, trong tỉnh cũng đã xuất hiện một số phong trào đấu tranh chính trị hợp pháp của tầng lớp công chức, viên chức, trí thức, học sinh chống chính sách chia để trị của thực dân Pháp, chống chính sách ngu dân, khinh miệt đồng bào các dân tộc bản xứ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do hai giáo chức yêu nước người Ê đê là Y Jút và Y út lãnh đạo (1925 - 1926).

Cũng trong thời kỳ này, do chính sách lập đồn điền khai thác thuộc địa, ở Đắk Lắk đã xuất hiện một tầng lớp công nhân làm thuê cho các đồn điền bót lột và hành hạ. Để chống lại sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, công nhân các đồn điền đã nhiều lần tổ chức các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau. Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh của công nhân thời kỳ này là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Mai ô (Maillot) năm 1927, cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Rossi, CHPI năm 1933, công nhân cầu đường Buôn Hồ 1935 và sau này là công nhân đồn điền CADA...

Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đọan kết thúc, nhất là sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, tình hình phong trào Cách mạng trong tỉnh phát triển sôi nổi. Các tổ chức đòan thể, các Hội quần chúng lần lượt ra đời, lôi cuốn lực lượng công nông, trí thức, thanh niên, phụ nữ tham gia họat động Việt Minh. Ngày 24 tháng 8 năm 1945, sau cuộc khởi nghĩa ở đồn điền CADA, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thắng lợi ở Buôn Ma Thuột: hàng vạn quần chúng đã đồng lọat đứng lên ủng hộ ủy ban khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập chính quyền cách mạng, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.

Sau khi xóa bỏ bộ máy cai trị của thực dân phát xít, đồng bào các dân tộc đã đoàn kết, chung sức chung lòng bắt tay xây dựng chế độ mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ủy ban Việt Minh, nhân dân Đắk Lắk hăng hái tham gia củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, chống giặc đói, giặc dốt, thực hiện các quyền và nghĩa vụ thiêng liêng mà cách mạng đã mang lại.

Ngày 30 tháng 12 năm 1945 quân đội Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai. Quân dân Buôn Ma Thuột và quân dân các dân tộc trong tỉnh đã đứng dậy đấu tranh. Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, gian khổ và ác liệt cuối cùng đã giành được thắng lợi.

Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, với âm mưu xâm chiếm miền Nam chia cắt lâu dài đất nước ta. Cùng với nhân dân cả nước đồng bào các dân tộc Đắk Lắk tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống lại những kẻ thù nguy hiểm hơn, độc ác hơn đó là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.

Trong hơn 20 năm chiến chiếm đóng, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung biết bao tiềm lực quân sự và chính trị, nhằm xây dựng Đắk Lắk thành một địa bàn chiến lược trọng yếu, với nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp ý chí cách mạng của đồng bào các dân tộc Đắk Lắk. Nhưng vượt lên trên mọi hy sinh tổn thất to lớn và nặng nề nhất, quân dân các dân tộc đã kề vai sát cánh bên nhau, bền bĩ đấu tranh, lần lượt đập tan các âm mưu, thủ đọan của kẻ thù, lập nên những chiến công oanh liệt: đồng khởi phá kềm 1960-1961, phá ấp giành dân giải phóng nông thôn 1964-1965, tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu thân 1968, đánh bại chương trình bình định cấp tốc của Mỹ Ngụy 1969-1972. Cuối cùng đã làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột (Ngày 10/03/1975), mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

4. Tiềm năng văn hóa - du lịch

Đắk Lắk là tỉnh trung tâm của vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển KT-XH, trong đó hoạt động du lịch có đủ tiềm năng để đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Với đặc điểm địa lý của một vùng đất cao nguyên quy tụ 47 dân tộc và tài nguyên du lịch đa dạng, Đắk Lắk được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến như một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, cụm thác Gia Long – Dray Sap, cụm du lịch Buôn Đôn, thác Krông Kma, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…

Toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 02 di tích lịch sử văn hoá, 13 di tích kiến trúc nghệ thuật, 8 di tích khảo cổ, 71 di tích thắng cảnh, 25 danh lam thắng cảnh. Có 9 di tích được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích quốc gia, Bảo tàng Đắk Lắk có hơn 8.000 hiện vật văn hoá lịch sử.


Đến Đắk Lắk là đến với vùng đất có nhiều rừng núi, sông hồ và những thác nước hùng vĩ, hòa cùng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – một “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể” của nhân loại. Cùng với nét độc đáo trong văn hóa, Đắk Lắk còn là vùng đất của những lễ hội khá đặc trưng đã được du khách trong và ngoài nước biết đến như: Lễ hội đua voi; Lễ hội văn hóa Cồng Chiêng; Lễ cúng bến nước; Lễ bỏ mả…của đồng bào các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này. Đặc biệt gần đây Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột đã được Chính phủ công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia được tổ chức 02 năm một lần vào tháng 3.
Theo daklak.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Các địa phương vùng cao hoàn tất công tác bầu cử, nhiều cử tri trên 100 tuổi tham gia

Các địa phương vùng cao hoàn tất công tác bầu cử, nhiều cử tri trên 100 tuổi tham gia

Theo báo cáo của Ủy ban bầu cử tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, tính đến 19h ngày 15/3, công tác tổ chức bỏ phiếu trong ngày bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã diễn ra nghiêm túc, đúng quy định. Các Tổ bầu cử hướng dẫn cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân theo đúng trình tự, bảo đảm an toàn, trật tự, không xảy ra tình huống phức tạp.

Lai Châu có trên 99,93% cử tri tham gia bầu cử

Lai Châu có trên 99,93% cử tri tham gia bầu cử

Theo báo cáo từ Ủy ban Bầu cử tỉnh Lai Châu, đến 19 giờ ngày 15/3, tỉnh Lai Châu đã hoàn thành công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Tỷ lệ cử tri Tuyên Quang tham gia bầu cử đạt 99,96%

Tỷ lệ cử tri Tuyên Quang tham gia bầu cử đạt 99,96%

Theo báo cáo từ Trung tâm điều hành Bầu cử tỉnh Tuyên Quang, đến 19 giờ ngày 15/3, việc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã kết thúc theo đúng thời gian quy định.

Đồng bào các dân tộc Lai Châu phấn khởi đi bầu cử, xã vùng cao hoàn thành sớm

Đồng bào các dân tộc Lai Châu phấn khởi đi bầu cử, xã vùng cao hoàn thành sớm

Trong không khí tươi vui, phấn khởi của ngày hội non sông, cùng với cả nước, đồng bào 20 dân tộc anh em trên mảnh đất Lai Châu đã nô nức đi bỏ phiếu, thực hiện quyền làm chủ thiêng liêng của người công dân để sáng suốt lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài xứng đáng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.

Lai Châu sẵn sàng cho ngày hội non sông

Lai Châu sẵn sàng cho ngày hội non sông

Cùng với cả nước, những ngày này, trên khắp các tuyến đường trung tâm của tỉnh Lai Châu, xã cho đến các bản làng vùng cao biên giới, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử 15/3/2026 đang rộn ràng, khẩn trương. Cờ Tổ quốc tung bay, băng rôn, khẩu hiệu được treo trang trọng; danh sách cử tri được niêm yết công khai; các tổ bầu cử hoàn tất những khâu chuẩn bị cuối cùng. Tất cả đang sẵn sàng cho ngày hội lớn của toàn dân, ngày Nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình.

Nghệ An: 55 khu vực bỏ phiếu sớm đều đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cao

Nghệ An: 55 khu vực bỏ phiếu sớm đều đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cao

Theo báo cáo nhanh của Ủy ban bầu cử tỉnh Nghệ An, đến 15 giờ ngày 13/3, công tác tổ chức bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 tại 55 khu vực bỏ phiếu thuộc 12 xã biên giới, vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã diễn ra đúng kế hoạch, an toàn, dân chủ, đúng quy định pháp luật.

Cử tri đồng bào dân tộc kỳ vọng cuộc sống ấm no hạnh phúc

Cử tri đồng bào dân tộc kỳ vọng cuộc sống ấm no hạnh phúc

Những ngày này, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào dân tộc Mường tại tỉnh Ninh Bình đang hân hoan chờ đón ngày hội của toàn dân. Khắp các con đường tại các xã vùng cao Cúc Phương và Phú Long, tỉnh Ninh Bình đã treo cờ hoa rực rỡ. Dù đặc thù dân cư phân tán, đời sống còn nhiều khó khăn nhưng chính quyền và bà con vùng cao vẫn sôi nổi hướng về ngày hội lớn của toàn dân với tinh thần chủ động, nghiêm túc và trách nhiệm. 

Cử tri trẻ Đà Nẵng ứng dụng công nghệ số trong bầu cử

Cử tri trẻ Đà Nẵng ứng dụng công nghệ số trong bầu cử

Hướng tới cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, nhiều sinh viên ngoại tỉnh đang học tập tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã chủ động sử dụng các ứng dụng công nghệ để thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Thông qua ứng dụng VNeID, sinh viên có thể đăng ký thay đổi địa điểm bầu cử, tra cứu thông tin liên quan đến cuộc bầu cử một cách dễ dàng, thuận lợi.

Ngày hội bầu cử sớm của đồng bào dân tộc Đan Lai

Ngày hội bầu cử sớm của đồng bào dân tộc Đan Lai

Từ sáng sớm, khi màn sương còn bảng lảng trên những triền núi đá vôi và cánh rừng già của miền Tây xứ Nghệ, không khí tại các khu vực bỏ phiếu trên địa bàn xã Môn Sơn đã trở nên rộn ràng, trang trọng.

Lan tỏa tinh thần 'Hiến máu đầu Xuân – Nhân lên hạnh phúc'

Lan tỏa tinh thần 'Hiến máu đầu Xuân – Nhân lên hạnh phúc'

Sáng 13/3, Ban Chỉ đạo vận động hiến máu tình nguyện tỉnh Điện Biên tổ chức Chương trình Lễ hội Xuân Hồng năm 2026 với thông điệp “Hiến máu đầu Xuân - Nhân lên hạnh phúc”, thu hút gần 400 tình nguyện viên là cán bộ, viên chức, đoàn viên, thanh niên, người lao động trên địa bàn tỉnh.

Vốn chính sách - Đòn bẩy tạo sinh kế bền vững

Vốn chính sách - Đòn bẩy tạo sinh kế bền vững

Trong hành trình phát triển của đất nước, bên cạnh những dòng vốn đầu tư lớn cho hạ tầng và sản xuất, có một dòng chảy bền bỉ và thầm lặng nhưng mang ý nghĩa đặc biệt: nguồn vốn tín dụng chính sách.

Tuyên Quang giữ vững an ninh trong ngày hội lớn của đất nước

Tuyên Quang giữ vững an ninh trong ngày hội lớn của đất nước

Ngày chính thức bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đang đến gần, tại Tuyên Quang, công tác chuẩn bị cho ngày hội lớn của cả nước đã cơ bản hoàn tất. Cùng với công tác chuẩn bị của các cấp, ngành và địa phương, lực lượng Công an tỉnh Tuyên Quang đang triển khai nhiều biện pháp nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, góp phần để ngày bầu cử thực sự trở thành ngày hội của toàn dân.

Những cánh tay nối dài đưa thông tin về bầu cử đến cơ sở

Những cánh tay nối dài đưa thông tin về bầu cử đến cơ sở

Các già làng, trưởng bản, hội viên phụ nữ, người có uy tín trong cộng đồng là cánh tay nối dài của chính quyền địa phương trong việc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Văn hóa Mường: Không gian ký ức cộng đồng

Văn hóa Mường: Không gian ký ức cộng đồng

Xuân đã về trên những triền đồi trung du, sương sớm còn đọng trên mái nhà sàn, khói bếp lững lờ quyện vào mây núi. Trong không gian đó, tiếng chiêng Mường cất lên vừa trầm, sâu và ngân dài, như một nhịp gọi từ ngàn xưa vọng lại. Đó không chỉ là âm thanh của lễ hội, mà là tiếng của ký ức cộng đồng - một mạch nguồn văn hóa đã chảy qua hàng chục thế kỷ.

Thiêng liêng ngày hội non sông đối với công dân lần đầu tham gia bầu cử

Thiêng liêng ngày hội non sông đối với công dân lần đầu tham gia bầu cử

Cùng với cử tri cả nước, những công dân vừa tròn 18 tuổi tại tỉnh Khánh Hòa sẽ lần đầu thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình. Với nhiều bạn trẻ, lá phiếu đầu tiên không chỉ đánh dấu sự trưởng thành mà còn là cơ hội trực tiếp góp phần lựa chọn những đại biểu có đủ tài năng, phẩm chất để xây dựng quê hương, đất nước.

Cử tri xứ Mường (Phú Thọ) sẵn sàng cho Ngày hội non sông

Cử tri xứ Mường (Phú Thọ) sẵn sàng cho Ngày hội non sông

Những ngày này, các điểm bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới đang diễn ra khẩn trương, sôi nổi tại nhiều địa bàn khó khăn vùng sâu vùng xa, vùng lòng hồ sông Đà (Phú Thọ). Với sự chuẩn bị chu đáo của chính quyền các cấp cùng tinh thần trách nhiệm của cử tri, đồng bào các dân tộc ở xứ Mường của tỉnh Phú Thọ đang sẵn sàng cho Ngày hội lớn của toàn dân.

Người dân biên giới miền núi, ven biển tự tin bầu ra người xứng đáng

Người dân biên giới miền núi, ven biển tự tin bầu ra người xứng đáng

Không khí chào đón ngày hội non sông tràn ngập ở các xã biên giới miền núi Pa Tần (Lai Châu), ven biển Tân Thủy (Vĩnh Long) sôi nổi. Người dân ở những miền đất này đang mong chờ đến ngày bầu cử 15/3, tự tay bỏ phiếu và tự tin sẽ lựa chọn được những người đại diện xứng đáng cho nhân dân, vì nước, vì dân.

Vững biên cương - trọn trách nhiệm

Vững biên cương - trọn trách nhiệm

Trong không khí cả nước hướng về ngày hội bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, trên dải biên cương miền núi xứ Lạng, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn vừa thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, vừa tích cực triển khai công tác tuyên truyền, bảo đảm an ninh khu vực biên giới để ngày bầu cử thực sự trở thành ngày hội của đồng bào các dân tộc nơi biên giới.

Cử tri vùng đồng bào Khmer và Đồng bằng sông Hồng hướng về ngày hội bầu cử

Cử tri vùng đồng bào Khmer và Đồng bằng sông Hồng hướng về ngày hội bầu cử

Những ngày này, ở các địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn thành phố Cần Thơ đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 bằng nhiều hình thức. Từ những hoạt động tuyên truyền, không khí phấn khởi, tin tưởng được lan tỏa trong đồng bào Khmer hướng tới ngày hội của toàn dân.

Chủ động nhiều phương án, không để xảy ra bị động, bất ngờ trong bầu cử

Chủ động nhiều phương án, không để xảy ra bị động, bất ngờ trong bầu cử

Cùng với công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra an toàn, đúng pháp luật, tỉnh Tuyên Quang còn đặc biệt quan tâm nắm bắt tình hình, kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị sau sáp nhập, hợp nhất tại các xã biên giới; những khó khăn, vướng mắc, đề xuất, kiến nghị; đồng thời chỉ đạo, định hướng nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới.