Đắk Lắk vài nét tổng quan

Đắk Lắk vài nét tổng quan
1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý


Tỉnh Đắk Lắk, có diện tích 13.125,37 km2, nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28'57" đến 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45"  đến 13o25'06" độ vĩ Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km.

-    Phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai

-    Phía Đông giáp Phú YênKhánh Hòa

-    Phía Nam giáp Lâm ĐồngĐắk Nông

-    Phía Tây giáp Campuchia.

Địa hình

Địa hình của tỉnh rất đa dạng: nằm ở phía Tây và cuối dãy Trường Sơn, là một cao nguyên rộng lớn, địa hình dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ với các đồng bằng thấp ven theo các sông chính. Địa hình của tỉnh có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc.

Khí hậu

Khí hậu toàn tỉnh được chia thành hai tiểu vùng. Vùng phía Tây Bắc có khí hậu nắng nóng, khô hanh về mùa khô; vùng phía Đông và phía Nam có khí hậu mát mẻ, ôn hoà. Khí hậu sinh thái nông nghiệp của tỉnh được chia ra thành 6 tiểu vùng:
- Tiểu vùng bình nguyên Ea Súp chiếm 28,43% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng cao nguyên Buôn Mê Thuột – Ea H’Leo chiếm 16,17% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đồi núi và cao nguyên M’Đrắk chiếm 15,82% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng đất ven sông Krông Ana – Sêrêpôk chiếm 14,51% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi cao Chư Yang Sin chiếm 3,98% diện tích tự nhiên.
- Tiểu vùng núi Rlang Dja chiếm 3,88% diện tích tự nhiên.

Nhìn chung khí hậu khác nhau giữa các dạng địa hình và giảm dần theo độ cao: vùng dưới 300 m quanh năm nắng nóng, từ 400 – 800 m khí hậu nóng ẩm và trên 800 m khí hậu mát. Tuy nhiên, chế độ mưa theo mùa là một hạn chế đối với phát triển sản xuất nông sản hàng hoá.

Khí hậu có 02 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10, tập trung 90% lượng mưa hàng năm. Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa không đáng kể.

Tài nguyên đất

Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Đắk Lắk đó là tài nguyên đất. Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 13.085 km2, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhóm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen.

Các đất hình thành từ đá bazan có độ phì khá cao (pH/H2O từ trung tính đến chua, đạm và lân tổng số khá). Sự đồng nhất cao giữa độ phì nhiêu tự nhiên và độ phì nhiêu thực tế của các nhóm đất và loại đất, được phân bố trên cao nguyên Buôn Ma Thuột trải dài khoảng 90 km theo hướng đông bắc - tây nam và rộng khoảng 70 km. Phía bắc cao nguyên này (Ea H’Leo) cao gần 800 m, phía nam cao 400 m, càng về phía tây chỉ còn 300 m, bề mặt cao nguyên rất bằng phẳng chỉ còn điểm một vài đồi núi.

- Nhóm đất phù sa (Fuvisols):
Được hình thành và phân bố tập trung ven các sông suối trong tỉnh. Tính chất của loại đất này phụ thuộc vào sản phẩm phong hoá của mẫu chất..

- Nhóm đất Gley (Gleysols):
Phân bố tập trung ở các khu vực thấp trũng thuộc các huyện Lắk, Krông Ana và Krông Bông.

- Nhóm đất xám (Acrisols):
Là nhóm lớn nhất trong số các nhóm đất có mặt tại Đắk Lắk, phân bố ở hầu hết các huyện.

- Nhóm đất đỏ (Ferrasol, trong đó chủ yếu là đất đỏ bazan).

Là nhóm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan toàn Tây Nguyên. Đất đỏ bazan còn có tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao... rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu... và nhiều loại cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày khác. Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nông nghiệp của tỉnh Đắk Lắk.

Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sông ngòi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sông Srepok; hệ thống sông Ba, hệ thống sông Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối có độ dài trên 10 km, đã tạo cho Đắk Lắk một mạng lưới sông hồ khá dày đặc.

- Nguồn nước ngầm: Tập trung chủ yếu trong các thành tạo Bazan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt. Tổng trữ lượng ước tính:

Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khoáng hoá M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9. Loại hình hoá học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.

Tài nguyên rừng

Sau khi chia tách tỉnh, diện tích đất có rừng của Đắk Lắk là 608.886,2 ha, trong đó rừng tự nhiên là 594.488,9 ha, rừng trồng là 14.397,3 ha. Rừng Đắk Lắk được phân bố đều khắp ở các huyện trong tỉnh, đặc biệt là hành lang biên giới của tỉnh giáp Campuchia. Rừng Đắk Lắk phong phú và đa dạng, thường có kết cấu 3 tầng: cây gỗ, có tác dụng phòng hộ cao; có nhiều loại cây đặc sản vừa có giá trị kinh tế, vừa có giá trị khoa học; phân bố trong điều kiện lập địa thuận lợi, nên rừng tái sinh có mật độ khá lớn. Do đó rừng có vai trò quan trọng trong phòng chống xói mòn đất, điều tiết nguồn nước và hạn chế thiên tai. Rừng Đắk Lắk có nhiều loại động vật quý hiếm phân bổ chủ yếu ở vườn Quốc gia Yok Đôn và các khu bảo tồn Nam Kar, Chư Yangsin... có nhiều loại động vật quý hiếm ghi trong sách đỏ nước ta và có loại được ghi trong sách đỏ thế giới. Rừng và đất lâm nghiệp có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của tỉnh.

Tài nguyên khoáng sản

Đắk Lắk không những được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất, rừng mà còn rất phong phú và đa dạng về các loại hình khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có nhiều mỏ khoáng sản với trữ lượng khác nhau, nhiều loại quý hiếm. Như sét cao lanh (ở M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 60 triệu tấn), sét gạch ngói (Krông Ana, M’Drắk, Buôn Ma Thuột - trên 50 triệu tấn), vàng (Ea Kar), chì (Ea H’Leo), phốt pho (Buôn Đôn), Than Bùn (Cư M’Gar), đá quý (Opan, Jectit), đá ốp lát, đá xây dựng, cát xây dựng... phân bố ở nhiều nơi trong tỉnh.

2. Dân cư
 
Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc, trong đó chủ yếu là các dân tộc:
- Dân tộc Kinh
- Dân tộc Ê Đê
- Dân tộc M'Nông
- Dân tộc Gia Rai
- Dân tộc Tày
- Dân tộc Thái
- Dân tộc Nùng
- Dân tộc Mông
- Dân tộc Dao

3. Lịch sử hình thành và phát triển

Buôn Ma Thuột là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam.

Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là "bản hoặc làng của Ama Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột - tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.

Từ giữa thế kỷ XII, đồng bào dân tộc ở miền Trung Tây Nguyên đã từng đứng dậy đấu tranh chống sự xâm lược của Chiêm Thành. Đến năm 1470, khi Chiêm Thành xâm lấn biên giới phía nam của nước Đại Việt, bị quan quân nhà Lê đánh tan. Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, nhà Lê một mặt tôn trọng đường ranh giới giữa vùng cư trú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với đồng bằng; mặt khác đã có những chính sách nhằm duy trì mối quan hệ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số.

Năm 1540, khi Bùi Tá Hán được triều đình cử làm Tuần Tiết xứ Nam Ngãi, kiêm cả các vùng dân tộc miền núi phía Tây. Ông đã cho di dân lên lập ấp trên miền núi, mở mang buôn bán giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, tiến cử các vị tù, tộc trưởng ở địa phương và tấn phong vua Hỏa Xá và Thủy Xá. Từ đó cho đến các đời vua nhà Nguyễn sau này, địa bàn Tây Nguyên-Daklak được gọi là trấn Man, do triều đình gián tiếp quản lý. Về hành chính, trấn Man chia thành 4 nguyên và 5 đạo và về quân sự, nhà Nguyễn lập ra một số đồn lính, tiến hành tuần tra, canh phòng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm.

Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do thám, nắm tình hình dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược Tây Nguyên, Đắk Lắk. Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh chiếm Buôn Đôn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm toàn bộ cao nguyên Đắk Lắk.

Sau khi chiếm Đắk Lắk, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị, thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đắk Lắk vào năm 1904 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Chúng chia Đắk Lắk làm 5 quận, áp đặt chế độ trực trị, thực hiện chính sách "chia để trị". Nhưng cũng chính từ sự áp bức, bóc lột hà khắc đó, đồng bào các dân tộc Đắk Lắk đã liên tục và anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của các vị Tù trưởng. Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong tỉnh liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang; như cuộc khởi nghĩa của Ama Jhao (1890-1904), cuộc đấu tranh của N’Trang Gưh (1900 -1914), cuộc khởi nghĩa của Oi H’Mai (1903 - 1909. Tiêu biểu hơn cả là cuộc nổi dậy của đồng bào M’nông do N’Trang Lơng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa này kéo dài 23 năm (1912-1935) lôi cuốn đồng bào các dân tộc, không chỉ ở cao nguyên Dak Nông, mà cả Tây Nguyên và Cam pu chia hưởng ứng.

Cùng với các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang do các vị tù trưởng lãnh đạo, trong tỉnh cũng đã xuất hiện một số phong trào đấu tranh chính trị hợp pháp của tầng lớp công chức, viên chức, trí thức, học sinh chống chính sách chia để trị của thực dân Pháp, chống chính sách ngu dân, khinh miệt đồng bào các dân tộc bản xứ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do hai giáo chức yêu nước người Ê đê là Y Jút và Y út lãnh đạo (1925 - 1926).

Cũng trong thời kỳ này, do chính sách lập đồn điền khai thác thuộc địa, ở Đắk Lắk đã xuất hiện một tầng lớp công nhân làm thuê cho các đồn điền bót lột và hành hạ. Để chống lại sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp, công nhân các đồn điền đã nhiều lần tổ chức các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau. Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh của công nhân thời kỳ này là cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Mai ô (Maillot) năm 1927, cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền Rossi, CHPI năm 1933, công nhân cầu đường Buôn Hồ 1935 và sau này là công nhân đồn điền CADA...

Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đọan kết thúc, nhất là sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, tình hình phong trào Cách mạng trong tỉnh phát triển sôi nổi. Các tổ chức đòan thể, các Hội quần chúng lần lượt ra đời, lôi cuốn lực lượng công nông, trí thức, thanh niên, phụ nữ tham gia họat động Việt Minh. Ngày 24 tháng 8 năm 1945, sau cuộc khởi nghĩa ở đồn điền CADA, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thắng lợi ở Buôn Ma Thuột: hàng vạn quần chúng đã đồng lọat đứng lên ủng hộ ủy ban khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập chính quyền cách mạng, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.

Sau khi xóa bỏ bộ máy cai trị của thực dân phát xít, đồng bào các dân tộc đã đoàn kết, chung sức chung lòng bắt tay xây dựng chế độ mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ủy ban Việt Minh, nhân dân Đắk Lắk hăng hái tham gia củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, chống giặc đói, giặc dốt, thực hiện các quyền và nghĩa vụ thiêng liêng mà cách mạng đã mang lại.

Ngày 30 tháng 12 năm 1945 quân đội Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai. Quân dân Buôn Ma Thuột và quân dân các dân tộc trong tỉnh đã đứng dậy đấu tranh. Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, gian khổ và ác liệt cuối cùng đã giành được thắng lợi.

Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, với âm mưu xâm chiếm miền Nam chia cắt lâu dài đất nước ta. Cùng với nhân dân cả nước đồng bào các dân tộc Đắk Lắk tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống lại những kẻ thù nguy hiểm hơn, độc ác hơn đó là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.

Trong hơn 20 năm chiến chiếm đóng, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung biết bao tiềm lực quân sự và chính trị, nhằm xây dựng Đắk Lắk thành một địa bàn chiến lược trọng yếu, với nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp ý chí cách mạng của đồng bào các dân tộc Đắk Lắk. Nhưng vượt lên trên mọi hy sinh tổn thất to lớn và nặng nề nhất, quân dân các dân tộc đã kề vai sát cánh bên nhau, bền bĩ đấu tranh, lần lượt đập tan các âm mưu, thủ đọan của kẻ thù, lập nên những chiến công oanh liệt: đồng khởi phá kềm 1960-1961, phá ấp giành dân giải phóng nông thôn 1964-1965, tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu thân 1968, đánh bại chương trình bình định cấp tốc của Mỹ Ngụy 1969-1972. Cuối cùng đã làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột (Ngày 10/03/1975), mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

4. Tiềm năng văn hóa - du lịch

Đắk Lắk là tỉnh trung tâm của vùng Tây Nguyên, có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển KT-XH, trong đó hoạt động du lịch có đủ tiềm năng để đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Với đặc điểm địa lý của một vùng đất cao nguyên quy tụ 47 dân tộc và tài nguyên du lịch đa dạng, Đắk Lắk được nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến như một điểm du lịch hấp dẫn với nhiều địa danh cho phép khai thác theo hướng kết hợp cảnh quan, sinh thái, môi trường và truyền thống văn hoá của nhiều dân tộc trong tỉnh như hồ Lắk, cụm thác Gia Long – Dray Sap, cụm du lịch Buôn Đôn, thác Krông Kma, Diệu Thanh, Tiên Nữ… bên cạnh các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Chư Yang Sin, Easo…

Toàn tỉnh có 23 di tích lịch sử cách mạng, 02 di tích lịch sử văn hoá, 13 di tích kiến trúc nghệ thuật, 8 di tích khảo cổ, 71 di tích thắng cảnh, 25 danh lam thắng cảnh. Có 9 di tích được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận di tích quốc gia, Bảo tàng Đắk Lắk có hơn 8.000 hiện vật văn hoá lịch sử.


Đến Đắk Lắk là đến với vùng đất có nhiều rừng núi, sông hồ và những thác nước hùng vĩ, hòa cùng không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên – một “Kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể” của nhân loại. Cùng với nét độc đáo trong văn hóa, Đắk Lắk còn là vùng đất của những lễ hội khá đặc trưng đã được du khách trong và ngoài nước biết đến như: Lễ hội đua voi; Lễ hội văn hóa Cồng Chiêng; Lễ cúng bến nước; Lễ bỏ mả…của đồng bào các dân tộc sinh sống trên mảnh đất này. Đặc biệt gần đây Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột đã được Chính phủ công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia được tổ chức 02 năm một lần vào tháng 3.
Theo daklak.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Xuân ấm tình quân dân vùng biên giới biển Quảng Ngãi

Xuân ấm tình quân dân vùng biên giới biển Quảng Ngãi

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ngoài nhiệm vụ quản lý địa bàn, giữ vững chủ quyền vùng biển, các cán bộ chiến sĩ Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi tổ chức nhiều hoạt động vui Xuân, chăm lo Tết cho gia đình chính sách, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tạo không khí vui tươi, ấm tình quân dân khu vực biên giới biển những ngày giáp Tết cổ truyền.

Hỗ trợ hơn 600 tỷ đồng để khôi phục thiệt hại do bão số 13 và mưa lũ ở Đắk Lắk

Hỗ trợ hơn 600 tỷ đồng để khôi phục thiệt hại do bão số 13 và mưa lũ ở Đắk Lắk

Ngày 12/2, Hội đồng nhân dân tỉnh Đắk Lắk khóa X, nhiệm kỳ 2021-2026 tổ chức kỳ họp chuyên đề thứ lần thứ năm để xem xét, quyết định một số nội dung theo thẩm quyền. Trong đó, hai nội dung trọng tâm là thông qua nghị quyết hỗ trợ cho người dân bị thiệt hại do thiên tai và bầu bổ sung chức danh Phó Chủ tịch HĐND tỉnh.

'Đi từng ngõ, gõ từng nhà' nắm bắt số lượng cử tri

'Đi từng ngõ, gõ từng nhà' nắm bắt số lượng cử tri

Những ngày này, cùng với không khí lao động, sản xuất đầu năm, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đang được tỉnh Tuyên Quang triển khai đồng bộ, khẩn trương, bảo đảm đúng quy định và tiến độ đề ra.

Ấm áp nghĩa tình nơi biên giới những ngày giáp Tết

Ấm áp nghĩa tình nơi biên giới những ngày giáp Tết

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, trên khắp các vùng quê biên giới Tây Ninh, không khí Xuân về không chỉ rộn ràng cờ hoa, quà Tết, mà còn lan tỏa bởi nghĩa tình ấm áp. Những phần quà cùng lời thăm hỏi chân thành đã mang đến niềm vui, tiếp thêm động lực, sưởi ấm lòng người dân nơi tuyến đầu biên cương, để bà con vững tin đón một mùa xuân trọn vẹn.

Các địa phương gấp rút hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm

Các địa phương gấp rút hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm

Dự án “Cải tạo, nâng cấp đường Hòa Bình - Toàn Sơn” (đoạn nối phường Tân Hòa với xã Đà Bắc), tỉnh Phú Thọ theo kế hoạch sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng tháng 12/2025, nhưng đến nay mới đạt khoảng 80% khối lượng thi công do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Qua đó, phường Tân Hòa đang gấp rút thực hiện triển khai giải quyết dứt điểm hoàn tất công việc còn lại để thông tuyến trong thời gian sớm nhất.

Làng hoa lay ơn lớn nhất Lâm Đồng bội thu vụ Tết

Làng hoa lay ơn lớn nhất Lâm Đồng bội thu vụ Tết

Những ngày này, nông dân khắp các thôn ở làng hoa lay ơn Hiệp An (xã Hiệp Thạnh, Lâm Đồng) tất bật thu hoạch vụ hoa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Nhờ hoa được giá, người dân nơi đây rất phấn khởi nhận thành quả sau thời gian phục hồi ruộng vườn do mưa lũ cuối năm 2025 vừa qua.

Tết ấm áp ở vùng sạt lở núi

Tết ấm áp ở vùng sạt lở núi

Dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Đà Nẵng có gần 13 nghìn hộ đồng bào đón Tết trong những ngôi nhà mới. Hiện tại, chính quyền các địa phương thành phố Đà Nẵng, nhất là các xã miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sạt lở núi đang triển khai nhiều việc làm thiết thực, hiệu quả để mỗi người dân đều có điều kiện đón Xuân, vui Tết, không ai bị bỏ lại phía sau.

Đảm bảo quyền lợi bảo hiểm y tế cho người dân xã an toàn khu, vùng dân tộc thiểu số

Đảm bảo quyền lợi bảo hiểm y tế cho người dân xã an toàn khu, vùng dân tộc thiểu số

Thực hiện các quyết định của tỉnh Cao Bằng về các xã an toàn khu và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, thôn đặc biệt khó khăn, Bảo hiểm xã hội tỉnh Cao Bằng đã nỗ lực đưa chính sách bảo hiểm y tế đến người dân, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.

Vùng lũ Làng Chút thay áo mới, đón Xuân sang

Vùng lũ Làng Chút thay áo mới, đón Xuân sang

Những ngày cuối năm Ất Tỵ, trở lại Làng Chút, xã Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, nhiều người gần như không nhận ra đây chính là nơi hoang tàn đổ nát sau trận lũ lịch sử do ảnh hưởng từ hoàn lưu bão số 10 vào tháng 10/2025.

Xuân về trên vùng lũ biên giới Thanh Hóa

Xuân về trên vùng lũ biên giới Thanh Hóa

Tại xã biên giới Bát Mọt và xã Yên Nhân, tỉnh Thanh Hóa, cách đây vài tháng nơi đây đã xảy ra các trận lũ quét, sạt lở đất, gây thiệt hại nặng nề, nhiều ngôi nhà bị sập hoàn toàn, nhiều diện tích cây trồng của người dân bị lũ cuốn trôi, các thôn bản rơi vào cảnh cô lập, chia cắt. Nhờ sự hỗ trợ của chính quyền các địa phương, người dân nơi đây đang tích cực dựng lại nhà cửa, tập trung sản xuất để chuẩn bị tết Nguyên đán 2026.

Từ 'Chiến dịch Quang Trung' đến mùa Xuân no ấm

Từ 'Chiến dịch Quang Trung' đến mùa Xuân no ấm

Sau những ngày mưa lũ lịch sử cuối năm 2025, mùa Xuân đã "khởi sắc" trở lại trên vùng đất Khánh Hòa. Từ "Chiến dịch Quang Trung" được triển khai thần tốc, từng ngôi nhà bị sập, hư hỏng đã được xây mới, sửa chữa kịp thời, giúp người dân sớm an cư trước thềm năm mới. Không khí Tết đang dần lan tỏa, mang theo niềm tin, sự lạc quan và hy vọng về một khởi đầu bình yên sau thiên tai.

Vinh danh các mô hình hay, thiết thực tại khu vực biên giới

Vinh danh các mô hình hay, thiết thực tại khu vực biên giới

Ngày 9/2, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng tổ chức hội nghị tổng kết các mô hình, chương trình, phong trào bộ đội biên phòng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới giai đoạn 2015 - 2025.

Gắn kết tình quân dân trước thềm Xuân mới

Gắn kết tình quân dân trước thềm Xuân mới

Ngày 9/2, tại Khu Di tích lịch sử quốc gia Đồng Khởi Hoà Thịnh (xã Hòa Thịnh, tỉnh Đắk Lắk), Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Đảng ủy, UBND xã Hòa Thịnh tổ chức Chương trình “Xuân Khu 5 đoàn kết - Tết thắm tình quân dân”.

Chú trọng tuyên truyền về bầu cử, tạo sự đồng thuận xã hội

Chú trọng tuyên truyền về bầu cử, tạo sự đồng thuận xã hội

Hiện nay, công tác triển khai cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 đang được cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Cao Bằng thực hiện khẩn trương, bài bản. Việc niêm yết danh sách cử tri, hiệp thương giới thiệu người ứng cử, tổ chức lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử… được các địa phương thực hiện đồng bộ, chặt chẽ, dân chủ, đúng luật và an toàn.

Tôn vinh chức sắc, chức việc và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số tiêu biểu

Tôn vinh chức sắc, chức việc và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số tiêu biểu

Ngày 9/2, tỉnh Vĩnh Long tổ chức họp mặt chức sắc, chức việc các tổ chức tôn giáo và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số nhân dịp mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Dự họp mặt có lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, các sở, ngành cùng 275 đại biểu chức sắc, chức việc các tổ chức tôn giáo và người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số.

Nghệ An: Bàn giao đất tái định cư cho các hộ đồng bào Mông dựng nhà trước Tết

Nghệ An: Bàn giao đất tái định cư cho các hộ đồng bào Mông dựng nhà trước Tết

Sau hơn 1 tháng triển khai, dự án xây dựng khu tái định cư tập trung Phá Mựt có tổng mức đầu tư khoảng 8 tỷ đồng, diện tích quy hoạch rộng 1,8 ha để di dời khẩn cấp 16 gia đình dân tộc Mông bản Phá Mựt (xã Nhôn Mai, tỉnh Nghệ An) bị mất nhà do lũ ống, lũ quét cuốn trôi vào cuối tháng 7/2025 đã cơ bản hoàn tất việc san ủi mặt bằng.

Niềm vui an cư của người nghèo vùng cao Lào Cai

Niềm vui an cư của người nghèo vùng cao Lào Cai

Những ngày cuối năm Ất Tỵ, không khí đón năm mới của các hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn tỉnh Lào Cai trở nên ấm áp, an vui hơn khi bà con được đón Tết trong những ngôi nhà mới khang trang. Đây cũng là động lực tiếp thêm niềm tin, giúp người dân vươn lên ổn định cuộc sống.

Hoàn thành xóa vùng lõm sóng ở Thái Nguyên

Hoàn thành xóa vùng lõm sóng ở Thái Nguyên

Chiều 8/2, tại xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên, UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Chương trình công bố hoàn thành xóa thôn, xóm trắng sóng trên địa bàn tỉnh. Hoạt động này thể hiện quyết tâm chính trị của tỉnh trong việc đưa chủ trương phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số của Đảng, Nhà nước đi vào thực chất, bắt đầu từ những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Đồng bào Chăm An Giang hân hoan đón mừng Tháng ăn chay Ramadan

Đồng bào Chăm An Giang hân hoan đón mừng Tháng ăn chay Ramadan

Chiều 8/2, tại Tiểu Thánh đường Jamdul Islam (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), Ban Đại diện cộng đồng Hồi giáo Islam tỉnh An Giang, phối hợp với Ban Quản trị Thánh đường Nekmah trang trọng tổ chức lễ đón mừng Tháng ăn chay Ramadan Hồi lịch 1447 - Dương lịch 2026. Đây là lễ quan trọng, linh thiêng nhất của những người theo đạo Hồi Islam.

Giữ vẹn mùa Xuân bình yên nơi tuyến đầu biên giới

Giữ vẹn mùa Xuân bình yên nơi tuyến đầu biên giới

Những ngày giáp Tết Bính Ngọ 2026, người dân khắp mọi miền Tổ quốc nô nức trang hoàng nhà cửa đón Xuân thì tại các xã biên giới vùng núi miền Trung – Tây Nguyên, nhịp sống của những người lính mang quân hàm xanh duy trì một trạng thái trực sẵn sàng, tuần tra xuyên đêm, không để khoảng trống an ninh. Với Bộ đội Biên phòng, Tết không phải là lúc “giảm nhịp” mà là giai đoạn "kỷ luật thép" và trách nhiệm cao cả nhằm giữ bình yên cho Tổ quốc.

Mang Tết đến bà con vùng biên giới

Mang Tết đến bà con vùng biên giới

Trong hai ngày 7-8/2, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng phối hợp cùng các cấp, ngành tổ chức chương trình “Xuân Biên phòng - Ấm lòng dân bản” tại xã biên giới Hùng Sơn. Đây là hoạt động an sinh thiết thực, được tổ chức hằng năm nhằm góp phần chăm lo đời sống nhân dân, thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa quân và dân nơi phên dậu Tổ quốc.

Thiết thực chăm lo Tết cho người dân vùng biên giới

Thiết thực chăm lo Tết cho người dân vùng biên giới

Tối 7/2, tại các xã biên giới Buôn Đôn và Tuy An Đông, tỉnh Đắk Lắk, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh phối hợp với Báo Đại Đoàn Kết tổ chức chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” Tết Bính Ngọ năm 2026.

Ấm áp không khí Tết quân dân trong vùng đồng bào thiểu số

Ấm áp không khí Tết quân dân trong vùng đồng bào thiểu số

Chiều 7/2, tại thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa, tỉnh Đồng Nai), chương trình Tết quân dân Xuân Bính Ngọ 2026 đã được tổ chức trang trọng và ấm cúng. Chương trình do Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Phú Nghĩa phối hợp cùng Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 778 (Quân Khu 7) thực hiện nhằm mang mùa Xuân ấm áp đến với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Ấm áp ‘Tết Quân - Dân’ tại xã đảo Thạnh An

Ấm áp ‘Tết Quân - Dân’ tại xã đảo Thạnh An

Ngày 7/2, tại xã đảo Thạnh An, TP Hồ Chí Minh, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh phối hợp với Đảng ủy, UBND, HĐND, Ủy ban MTTQ Việt Nam xã đảo Thạnh An tổ chức chương trình “Tết Quân - Dân” Xuân Bính Ngọ 2026 với chủ đề “Âm vang trùng khơi - ấm tình quân dân”. Sự kiện gồm nhiều hoạt động phong phú mang đậm nghĩa tình quân dân.