Hà Giang vài nét tổng quan

Hà Giang vài nét tổng quan
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang

1. Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên BáiLào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10 km về  phía tây nam, có kinh độ l04024'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông nam có kinh độ l05030'04".

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển. Đây là vùng tập trung nhiều ngọn núi cao. Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới 8.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao 500 - 1.000 m, 24 ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 - 2.500 m). Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùng sau:

- Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst. ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Ngày 03/10/2010 cao nguyên đá Đồng văn đã gia nhập mạng lưới Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu với tên gọi: CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn.

- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m. Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp.

- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang. Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối.

Thủy văn 

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng. ở đây có mật độ sông - suối tương đối dày. Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ.

Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân , Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh.

Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1 km/km 2 ), hệ số tập trung nước đạt 2,0 km/km 2 . Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang.

Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.

Khí hậu

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc...

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6 độ C - 23,9 độ C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 10 độ C và trong ngày cũng từ 6 - 7 độ C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 độ C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2 độ C (tháng l).

Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm... Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm...

Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn. Thời điểm cao nhất (tháng 6, 7, 8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng l, 2, 3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt. Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ).

Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng. Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50%. Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s. Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối. Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.

Tài nguyên đất

Trong 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha, chiếm 17% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất chưa sử dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả.

Tài nguyên rừng

Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 345.860 ha, với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơn dương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh.

Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi trường sinh thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú. Các rừng đá trập trùng, nhấp nhô ẩn hiện trong mây bạc, nhiều đỉnh núi cao trên 2.000 m như Pu Ta Kha, Tây Côn Lĩnh; nhiều hang động đầy bí ẩn như Tùng Bá, Lùng Má, (huyện Vị Xuyên), Tùng Vài (Quản Bạ), Hang Mây, Sảng Tủng (Đồng Văn); các danh thắng như núi Cô Tiên, Cổng Trời (Quản Bạ).

Tài nguyên khoáng sản

Qua khảo sát, thăm dò, bước đầu tỉnh Hà Giang đã phát hiện được 28 loại khoáng sản khác nhau. Đáng chú ý là có những mỏ có trữ lượng lớn trên một triệu tấn với hàm lượng khoáng chất cao như: ăngtimon ở các mỏ: Mậu Duệ, Bó Mới (Yên Minh); sắt ở Tùng Bá, Bắc Mê; chì - kẽm ở Na Sơn, Tả Pan, Bằng Lang, Cao Mã Pờ. Ngoài ra, còn có nhiều khoáng sản khác như: pirít, thiếc, chì, đồng, mănggan, vàng sa khoáng, đá quý, cao lanh, nước khoáng, đất làm gạch, than non, than bùn…Hiện nay một số mỏ đang được khai thác có hiệu quả.

3. Lịch sử hình thành

Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu.

Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.

Từ năm 1075 (đời nhà Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên.

Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên Quang thuộc lộ Quốc Oai.  Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang.

Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.

Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị hành chính mới: Khu vực phía hữu ngạn sông Lô được gọi là huyện Vĩnh Tuy, còn phía tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên.

Năm Thiệu Trị thứ hai (năm 1842), triều đình nhà Nguyễn chia Tuyên Quang làm ba hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Hạt Hà Giang có một phủ là Tương Yên với bốn huyện : Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện, Để Định.

Năm Thiệu Trị thứ tư (năm 1844), nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, “vẫn theo như cũ đặt chức thổ quan”. Đến đời Tự Đức thì chế độ “thổ quan” bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.

Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, năm 1887, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Giang và thay đổi chế độ cai trị bằng cách thiết lập các đạo quan binh.

Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang).

Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba (quân khu 3).

Ngày 17/9/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang. Trong đó, Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm các tổng Phương Độ và Tương Yên.

Ngày 28/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh Bắc Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang. Đến thời điểm này, Đạo quan binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và tương đối ổn định.

Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 1 thị xã (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang).

Ngày 23/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao - Hà - Yên, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.

Đầu tháng 4/1976, tỉnh Hà Tuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang.

Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, khoá VIII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính là thị xã Hà Giang và 9 huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang.

Ngày 01/12/2003, Chính phủ ra nghị định số 146/NĐ-CP về việc thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Ngày 27/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về việc thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang.

4. Dân tộc

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn tỉnh Hà Giang: 

- Dân tộc Hoa (Hán)
- Dân tộc La Chí
Dân tộc Lô Lô
Dân tộc Mông
Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Pà Thẻn
Dân tộc Dao
- Dân tộc Phù Lá
 
Theo hagiang.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Cù lao giữa sông Tiền được công nhận là xã đảo

Cù lao giữa sông Tiền được công nhận là xã đảo

UBND tỉnh An Giang vừa ban hành Quyết định số 1251/QĐ-UBND, do Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Văn Mừng ký ngày 6/4/2026, công nhận xã Cù Lao Giêng là xã đảo của tỉnh. Đây là xã đảo nước ngọt đầu tiên của An Giang, nằm giữa sông Tiền và giáp ranh với tỉnh Đồng Tháp.

Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4: Từng bước nâng cao sức khỏe người dân vùng cao

Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4: Từng bước nâng cao sức khỏe người dân vùng cao

Tuyên Quang là tỉnh miền núi có địa bàn rộng, nhiều xã vùng cao, vùng biên giới với đồng bào 22 dân tộc thiểu số sinh sống, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Ngành Y tế có nhiệm vụ nâng cao chất lượng y tế cơ sở, tìm ra cách làm phù hợp để người dân chủ động tiếp cận dịch vụ, từng bước xóa bỏ tâm lý e ngại khi đến khám, chữa bệnh. Thực tiễn cho thấy, khi ngành y tế “bám dân, sát bản”, phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các lực lượng tại địa phương, công tác chăm sóc sức khỏe đã có nhiều chuyển biến rõ rệt.

Nâng cao chất lượng dân số từ nền tảng chăm sóc bà mẹ và trẻ em

Nâng cao chất lượng dân số từ nền tảng chăm sóc bà mẹ và trẻ em

Ngày Sức khỏe toàn dân (7/4) năm nay với chủ đề “Chủ động phòng bệnh - Vì một Việt Nam khỏe mạnh” đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy chăm sóc sức khỏe từ “chữa bệnh” sang “chủ động phòng bệnh”. Hưởng ứng tinh thần này, ngành Y tế cùng toàn xã hội đang nỗ lực đổi mới trong bảo vệ, nâng cao sức khỏe nhân dân, trong đó chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em được xác định là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Sức mạnh mới cho y tế cơ sở

Sức mạnh mới cho y tế cơ sở

Ngày 6/4, tại tỉnh Lạng Sơn, Đoàn công tác Ban Quân dân y cấp bộ làm việc với Ban Quân dân y Quân khu 1, Ban Quân dân y tỉnh Lạng Sơn và Đoàn kinh tế Quốc phòng 338.

Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống: Vượt khó để chuyển đổi số lan tỏa từ cơ sở vùng cao

Nghị quyết 57 đi vào cuộc sống: Vượt khó để chuyển đổi số lan tỏa từ cơ sở vùng cao

Từ chủ trương lớn của Đảng về đẩy mạnh chuyển đổi số, Nghị quyết 57 đang từng bước hiện hữu bằng những đổi thay cụ thể trong đời sống người dân vùng cao Tuyên Quang. Chuyển đổi số nay đã len lỏi đến từng thôn bản, giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, giảm bớt gánh nặng đi lại, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả giải quyết công việc.

Sắc phục xanh gieo mầm no ấm nơi biên cương

Sắc phục xanh gieo mầm no ấm nơi biên cương

Không chỉ giữ gìn bình yên cho từng thôn bản, lực lượng Công an cơ sở ở Tuyên Quang đang lặng lẽ góp sức dựng xây những “mùa vàng” mới trên nương cao. Từ phong trào thi đua “Ba nhất”, những mô hình dân vận khéo đã và đang lan tỏa, trở thành cầu nối bền chặt giữa lực lượng Công an với nhân dân, đặc biệt tại các xã vùng cao, biên giới như Nghĩa Thuận, Cán Tỷ.

Cần đảm bảo điều kiện sinh hoạt để giáo viên yên tâm công tác

Cần đảm bảo điều kiện sinh hoạt để giáo viên yên tâm công tác

Khu nội trú giáo viên tại Trường Trung học cơ sở Hà Linh (xã Hà Linh, tỉnh Hà Tĩnh) hiện tại đã xuống cấp nghiêm trọng sau hơn hai thập kỷ chống chọi với thiên tai. Những căn phòng vốn là nơi “an cư” của các thầy cô vùng khó giờ đây đã trở thành nỗi bất an thường trực, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và tinh thần cống hiến của họ.

Đào tạo lao động miền núi đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp

Đào tạo lao động miền núi đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp

Tỉnh Lạng Sơn đang bước vào giai đoạn hình thành và phát triển không gian hạ tầng logistics cửa khẩu, các khu, cụm công nghiệp được quy hoạch đồng bộ, hướng tới thu hút các ngành công nghệ cao, công nghiệp sạch và dịch vụ sản xuất hiện đại.

Đảm bảo Tết Chôl Chnăm Thmây trang nghiêm, an toàn

Đảm bảo Tết Chôl Chnăm Thmây trang nghiêm, an toàn

Nhằm chuẩn bị cho dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây diễn ra trong ba ngày 14, 15 và 16/4, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố Cần Thơ vừa ban hành văn bản hướng dẫn các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trên địa bàn tổ chức đón mừng Tết Chôl Chnăm Thmây đảm bảo trang nghiêm, tiết kiệm và đậm đà bản sắc văn hóa.

Chuỗi hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh

Chuỗi hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh

UBND tỉnh Quảng Trị vừa ban hành Kế hoạch số 1733/KH-UBND về tổ chức chuỗi hoạt động "Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh", hướng tới kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển cà phê Khe Sanh (1926 - 2026).

Tạo lập nguồn dữ liệu đất đai sạch

Tạo lập nguồn dữ liệu đất đai sạch

Với mục tiêu tạo lập nguồn dữ liệu sạch, phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; đồng thời, hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh, ngày 3/4, Thái Nguyên đã phát động Chiến dịch 100 ngày số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu và 180 ngày hoàn thiện việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, hoàn thành cơ sở dữ liệu đất.

Chủ động phòng, chống dịch bệnh thủy đậu tại trường học

Chủ động phòng, chống dịch bệnh thủy đậu tại trường học

Chiều 3/4, Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk cho biết, các đơn vị nghiệp vụ của Sở đang khẩn trương xử lý ổ dịch thủy đậu tại một điểm trường của Trường Tiểu học Lê Văn Tám (xã Ea Riêng). Đây là ổ dịch trong trường học nên có nguy cơ lây lan nhanh nếu không được xử lý kịp thời.

Giải bài toán thiếu điện mùa nắng nóng

Giải bài toán thiếu điện mùa nắng nóng

Trong bối cảnh dự báo diễn biến thời tiết năm 2026 có nhiều cực đoan, bất lợi; tình hình cung ứng điện còn nhiều thách thức, Công ty Điện lực Lào Cai đang triển khai nhiều giải pháp, sẵn sàng các điều kiện để ứng phó khi xảy ra sự cố thiên tai và trong chế độ cực kỳ khẩn cấp trên địa bàn tỉnh đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng điện của khách hàng.

Điện Biên ra quân trồng mới 12.000 ha cây trồng chủ lực

Điện Biên ra quân trồng mới 12.000 ha cây trồng chủ lực

Ngày 3/4, từ điểm phát động tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đồng loạt ra quân trồng mới cà phê, mắc ca trên phạm vi toàn tỉnh, cụ thể hóa định hướng phát triển cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Đây là hoạt động nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 11 của Tỉnh ủy về cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026–2030, hướng tới phát triển các cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị sản xuất.

Lan tỏa tiếng dân tộc Tày nơi tuyến đầu biên giới Xứ Lạng

Lan tỏa tiếng dân tộc Tày nơi tuyến đầu biên giới Xứ Lạng

Ngày 2/4, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội thi tiếng dân tộc Tày năm 2026. Đây là hoạt động thiết thực nhằm đánh giá kết quả học tập, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số nói chung và tiếng dân tộc Tày nói riêng tại các cơ quan, đơn vị Bộ đội Biên phòng trên địa bàn.

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Chủ đầu tư dự án Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới tại xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng đang tập trung nhân lực, vật lực đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành 60 căn nhà và bàn giao cho người dân trước dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Giữ màu xanh cho những cánh rừng Thái Nguyên

Giữ màu xanh cho những cánh rừng Thái Nguyên

Những cánh rừng xanh đang hồi sinh mạnh mẽ nhờ sự chung tay của lực lượng kiểm lâm và người dân Thái Nguyên. Không chỉ bảo vệ tài nguyên, rừng còn mở ra sinh kế bền vững, giúp đồng bào từng bước đổi thay cuộc sống.

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Xã Phiêng Khoài (Sơn La), hiện có hơn 2.600 ha trồng cây mận, trong đó, diện tích mận trái vụ chiếm trên 20%. Việc áp dụng kỹ thật canh tác trái vụ, rải vụ, chín sớm, đã và đang mở ra hướng đi hiệu quả, giúp nông dân nâng cao giá trị sản phẩm, giảm áp lực tiêu thụ tập trung cùng một thời điểm, dẫn đến giá thành giảm, cạnh tranh cao. Niên vụ 2026, mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận rất phấn khởi.