Hà Giang vài nét tổng quan

Hà Giang vài nét tổng quan
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang

1. Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên BáiLào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10 km về  phía tây nam, có kinh độ l04024'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông nam có kinh độ l05030'04".

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển. Đây là vùng tập trung nhiều ngọn núi cao. Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới 8.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao 500 - 1.000 m, 24 ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 - 2.500 m). Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùng sau:

- Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst. ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Ngày 03/10/2010 cao nguyên đá Đồng văn đã gia nhập mạng lưới Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu với tên gọi: CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn.

- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m. Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp.

- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang. Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối.

Thủy văn 

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng. ở đây có mật độ sông - suối tương đối dày. Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ.

Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân , Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh.

Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1 km/km 2 ), hệ số tập trung nước đạt 2,0 km/km 2 . Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang.

Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.

Khí hậu

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc...

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6 độ C - 23,9 độ C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 10 độ C và trong ngày cũng từ 6 - 7 độ C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 độ C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2 độ C (tháng l).

Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm... Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm...

Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn. Thời điểm cao nhất (tháng 6, 7, 8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng l, 2, 3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt. Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ).

Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng. Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50%. Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s. Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối. Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.

Tài nguyên đất

Trong 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha, chiếm 17% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất chưa sử dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả.

Tài nguyên rừng

Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 345.860 ha, với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơn dương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh.

Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi trường sinh thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú. Các rừng đá trập trùng, nhấp nhô ẩn hiện trong mây bạc, nhiều đỉnh núi cao trên 2.000 m như Pu Ta Kha, Tây Côn Lĩnh; nhiều hang động đầy bí ẩn như Tùng Bá, Lùng Má, (huyện Vị Xuyên), Tùng Vài (Quản Bạ), Hang Mây, Sảng Tủng (Đồng Văn); các danh thắng như núi Cô Tiên, Cổng Trời (Quản Bạ).

Tài nguyên khoáng sản

Qua khảo sát, thăm dò, bước đầu tỉnh Hà Giang đã phát hiện được 28 loại khoáng sản khác nhau. Đáng chú ý là có những mỏ có trữ lượng lớn trên một triệu tấn với hàm lượng khoáng chất cao như: ăngtimon ở các mỏ: Mậu Duệ, Bó Mới (Yên Minh); sắt ở Tùng Bá, Bắc Mê; chì - kẽm ở Na Sơn, Tả Pan, Bằng Lang, Cao Mã Pờ. Ngoài ra, còn có nhiều khoáng sản khác như: pirít, thiếc, chì, đồng, mănggan, vàng sa khoáng, đá quý, cao lanh, nước khoáng, đất làm gạch, than non, than bùn…Hiện nay một số mỏ đang được khai thác có hiệu quả.

3. Lịch sử hình thành

Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu.

Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.

Từ năm 1075 (đời nhà Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên.

Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên Quang thuộc lộ Quốc Oai.  Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang.

Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.

Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị hành chính mới: Khu vực phía hữu ngạn sông Lô được gọi là huyện Vĩnh Tuy, còn phía tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên.

Năm Thiệu Trị thứ hai (năm 1842), triều đình nhà Nguyễn chia Tuyên Quang làm ba hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Hạt Hà Giang có một phủ là Tương Yên với bốn huyện : Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện, Để Định.

Năm Thiệu Trị thứ tư (năm 1844), nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, “vẫn theo như cũ đặt chức thổ quan”. Đến đời Tự Đức thì chế độ “thổ quan” bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.

Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, năm 1887, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Giang và thay đổi chế độ cai trị bằng cách thiết lập các đạo quan binh.

Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang).

Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba (quân khu 3).

Ngày 17/9/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang. Trong đó, Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm các tổng Phương Độ và Tương Yên.

Ngày 28/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh Bắc Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang. Đến thời điểm này, Đạo quan binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và tương đối ổn định.

Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 1 thị xã (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang).

Ngày 23/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao - Hà - Yên, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.

Đầu tháng 4/1976, tỉnh Hà Tuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang.

Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, khoá VIII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính là thị xã Hà Giang và 9 huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang.

Ngày 01/12/2003, Chính phủ ra nghị định số 146/NĐ-CP về việc thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Ngày 27/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về việc thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang.

4. Dân tộc

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn tỉnh Hà Giang: 

- Dân tộc Hoa (Hán)
- Dân tộc La Chí
Dân tộc Lô Lô
Dân tộc Mông
Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Pà Thẻn
Dân tộc Dao
- Dân tộc Phù Lá
 
Theo hagiang.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Mang tri thức đến với người dân vùng sâu, vùng xa

Mang tri thức đến với người dân vùng sâu, vùng xa

​Thư viện tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức nhiều đợt đưa sách về vùng sâu, vùng xa; xây dựng tủ sách tại các xã vùng sâu, vùng xa, biên giới... Hoạt động này giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng dễ dàng tiếp cận tri thức, cập nhật kiến thức khoa học - kỹ thuật, ứng dụng vào phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần.

Gỡ khó để phát triển bền vững công nghiệp tỉnh Lào Cai

Gỡ khó để phát triển bền vững công nghiệp tỉnh Lào Cai

Sản xuất công nghiệp luôn là lĩnh vực được tỉnh Lào Cai ưu tiên phát triển nhưng bên cạnh những thuận lợi, địa phương cũng đang từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nhằm phát triển bền vững lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn.

Quảng Ngãi cần sớm nâng cấp tỉnh lộ 623

Quảng Ngãi cần sớm nâng cấp tỉnh lộ 623

Tuyến tỉnh lộ 623 (trước đây là đường huyện Sơn Liên - Tà Meo) qua địa bàn xã Sơn Tây Thượng, tỉnh Quảng Ngãi là tuyến giao thông huyết mạch kết nối với tuyến tỉnh lộ 676 qua xã Măng Bút. Hiện tại, tuyến đường này đang xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là sau các đợt sạt lở xảy ra vào cuối năm 2025 gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản của người dân. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải sớm nâng cấp tuyến đường nhằm đảm bảo an toàn giao thông trên tuyến.

Hỗ trợ an sinh, phát triển lâu dài cho các xã vùng biên

Hỗ trợ an sinh, phát triển lâu dài cho các xã vùng biên

Tại nhiều địa bàn biên giới, nơi điều kiện học tập và phát triển còn hạn chế, vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên ngày càng được thể hiện rõ nét. Thông qua các hoạt động tình nguyện, hỗ trợ giáo dục, phát triển kinh tế và chuyển đổi số, lực lượng thanh niên đã góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững tại khu vực này.

Sớm xây dựng cầu mới thay thế cầu treo Khe Hóp đã hư hỏng nặng

Sớm xây dựng cầu mới thay thế cầu treo Khe Hóp đã hư hỏng nặng

Xã Mỏ Vàng, tỉnh Lào Cai sau sáp nhập với xã An Lương có 16 thôn, trong đó có 2 thôn Khe Lóng 2, Khe Lóng 3 với gần 200 hộ dân và hơn 1.000 nhân khẩu đều là đồng bào dân tộc Mông và gần 150 hộ dân thuộc thôn Khe Hóp cùng một số thôn khác có nương đồi, đất đai sản xuất nằm tách biệt với trung tâm xã bởi suối Ngòi Thia.

Chuyển từ thu hút sang kiến tạo, Tuyên Quang mở không gian tăng trưởng mới

Chuyển từ thu hút sang kiến tạo, Tuyên Quang mở không gian tăng trưởng mới

Trong bối cảnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng đặt ra cao hơn, Tuyên Quang đang chủ động chuyển mình từ tư duy thu hút đầu tư truyền thống sang cách tiếp cận mới - kiến tạo môi trường phát triển, khơi thông nguồn lực và đồng hành cùng doanh nghiệp. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà trở thành động lực thúc đẩy toàn bộ hệ thống chính trị đổi mới cách nghĩ, cách làm, hướng tới một nền kinh tế năng động, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao hơn.

Chàng trai người Dao nâng tầm chè Shan tuyết trên dãy Tây Côn Lĩnh

Chàng trai người Dao nâng tầm chè Shan tuyết trên dãy Tây Côn Lĩnh

Dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh, chàng trai người Dao Bàn Văn Hiệu (sinh năm 1995, thôn Lùng Đoóc, xã biên giới Thanh Thủy, Tuyên Quang) ngày ngày miệt mài tạo ra những sản phẩm chè Shan tuyết cổ thụ bằng tâm huyết và phương thức bài bản. Từ những ngày đầu sản xuất đơn lẻ, Hiệu đã mạnh dạn thành lập Hợp tác xã Thanh Thủy Chè, từng bước nâng cao giá trị, ổn định đầu ra, góp phần tăng thu nhập cho người dân.

Đánh thức giá trị trà cổ Hồ Thầu

Đánh thức giá trị trà cổ Hồ Thầu

Sáng sớm ở Hồ Thầu, khi mây còn bảng lảng trôi ngang lưng núi Chiêu Lầu Thi, những tán chè Shan Tuyết cổ thụ đã kịp thức dậy trước con người. Từng giọt sương đọng trên búp non, óng ánh như giữ lại tinh túy của trời đất. Trong không gian tĩnh lặng của đại ngàn, người Dao, người Mông lặng lẽ bước vào rừng, hái chè bằng đôi tay quen thuộc, nâng niu từng búp nhỏ như giữ gìn một phần ký ức của núi.

Chăm lo, nâng cao sức khỏe cho người dân

Chăm lo, nâng cao sức khỏe cho người dân

Nhằm nâng cao nhận thức, phát hiện sớm bệnh tật và từng bước quản lý sức khỏe người dân một cách toàn diện, bền vững, từ ngày 25/4, ngành Y tế tỉnh Điện Biên đồng loạt triển khai chương trình khám, tư vấn sức khỏe miễn phí cho nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh.

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài cuối: Khát vọng đổi mới toàn diện

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài cuối: Khát vọng đổi mới toàn diện

Với mục tiêu đến năm 2030 trở thành xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) đang chuyển mình mạnh mẽ để trở thành điểm sáng về thu hút đầu tư và phát triển du lịch, khẳng định vị thế của một vùng đất không chỉ giàu truyền thống mà còn năng động, đầy triển vọng.

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài 1: Từ 'tọa độ lửa' đến những mầm xanh

Bom Bo huyền thoại vươn mình phát triển - Bài 1: Từ 'tọa độ lửa' đến những mầm xanh

Từ trong khói lửa của những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, sóc Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) đã đi vào huyền thoại với tiếng chày giã gạo nuôi quân vang vọng khắp núi rừng đại ngàn. Trải qua hơn nửa thế kỷ, những vết tích đau thương của bom đạn năm xưa giờ đây đã được thay thế bằng màu xanh bạt ngàn của cây điều, cao su, sầu riêng… và những ngôi nhà khang trang rực rỡ sắc màu.

Sạt lở bờ sông Pô Kô - nỗi lo trước mùa mưa bão

Sạt lở bờ sông Pô Kô - nỗi lo trước mùa mưa bão

Sông Pô Kô chảy qua địa phận phía Tây tỉnh Quảng Ngãi từ nhiều năm nay đã xảy ra tình trạng sạt lở bên bờ sông, chủ yếu tại địa phận các xã Dục Nông và Đăk Pek. Nhiều vị trí sạt lở đã ăn sâu vào khu vực dân cư, cuốn trôi nhà cửa và diện tích đất canh tác của người dân. Thậm chí, dòng sông sạt lở đã ảnh hưởng đến tuyến Quốc lộ 14 (đường Hồ Chí Minh). Tình trạng sạt lở kéo dài gây ra nhiều nguy cơ mất an toàn cho người dân và các phương tiện lưu thông.

Nông thôn mới tạo sinh kế bền vững cho người dân

Nông thôn mới tạo sinh kế bền vững cho người dân

Từ nền tảng chương trình xây dựng nông thôn mới, nhiều địa phương Tây Ninh đang tạo ra những sinh kế bền vững cho người dân. Không chỉ nâng cấp hạ tầng, các mô hình sản xuất, liên kết chuỗi và kinh tế nông thôn được phát triển, giúp người dân tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, từng bước vươn lên ngay trên chính quê hương.

'Hợp đồng tương lai' - điểm tựa của những người lầm lỡ

'Hợp đồng tương lai' - điểm tựa của những người lầm lỡ

Những năm gần đây, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tại xã vùng cao Mù Cang Chải (tỉnh Lào Cai) vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp. Những người sau khi cai nghiện thành công và trở về địa phương tưởng chừng cuộc đời sẽ rơi vào bế tắc. Tuy nhiên với sự giúp đỡ tận tình của chính quyền và công an xã với mô hình “Hợp đồng tương lai” đã giúp không ít người lầm lỡ quay về với gia đình, làm lại cuộc đời.

Người dân vùng biên gửi kỳ vọng vào sức bật mới của Đồng Nai

Người dân vùng biên gửi kỳ vọng vào sức bật mới của Đồng Nai

Những ngày qua, chủ trương đưa tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố trực thuộc Trung ương đang mang lại luồng sinh khí mới, khơi dậy niềm tin và khát vọng của người dân nơi vùng biên. Với bà con vùng biên, đây được kỳ vọng là "đòn bẩy" chiến lược để tái cấu trúc kinh tế khu vực biên giới, chuyển dịch trọng tâm sang phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch sinh thái bền vững.

Nỗi lo mùa lũ và khát khao một cây cầu kiên cố

Nỗi lo mùa lũ và khát khao một cây cầu kiên cố

Gần 10 năm qua, nhiều lớp học sinh xã Sơn Hải, tỉnh Bắc Ninh vẫn hằng ngày đến trường qua chiếc cầu phao tạm bợ. Trải qua thời gian, cây cầu càng ngày càng xuống cấp nghiêm trọng, trở thành nỗi lo thường trực của người dân, nhất là mỗi khi trời mưa bão, giông lốc. Những ngày đó ước mơ đến trường của các cháu học sinh lại đành gác lại để bảo đảm an toàn.

Người dân xã Sì Lở Lầu thiếu nước sinh hoạt

Người dân xã Sì Lở Lầu thiếu nước sinh hoạt

Hiện nay, đang là cao điểm của mùa khô, tình trạng thiếu nước sinh hoạt đang diễn ra tại nhiều địa phương vùng cao. Với xã biên giới Sì Lở Lầu, do địa hình cao và thời tiết khô hạn kéo dài, nguồn nước ngày càng khan hiếm, khiến đời sống người dân nơi đây điêu đứng vì thiếu nước sinh hoạt.

Bộ đội giúp người dân biên giới 'giải hạn'

Bộ đội giúp người dân biên giới 'giải hạn'

Trước tình trạng nắng hạn kéo dài khiến nhiều nguồn nước sinh hoạt cạn kiệt, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 72 (Binh đoàn 15) đã triển khai chở nước sạch cấp miễn phí cho người dân vùng biên giới xã Ia Nan, góp phần giúp bà con ổn định đời sống trong cao điểm mùa khô.

Tăng cường giám sát an toàn thực phẩm trong trường học

Tăng cường giám sát an toàn thực phẩm trong trường học

Trước tình hình mất an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp, nguy cơ ngộ độc thực phẩm có xu hướng gia tăng, công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang được các cấp, ngành tăng cường triển khai đồng bộ.

Dồn toàn lực hoàn thành Chiến dịch Đông Khê năm 2026

Dồn toàn lực hoàn thành Chiến dịch Đông Khê năm 2026

Chỉ còn gần 1 tháng, Chiến dịch Đông Khê 2026, 85 ngày đêm quyết tâm hoàn thành giai đoạn 1 tuyến cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh sẽ kết thúc. Các đơn vị, doanh nghiệp, nhà thầu đang huy động nhân sự, máy móc, thiết bị, tổ chức thi công hoàn thành tiến độ đề ra.

Những ‘dải sáng’ nơi phên giậu

Những ‘dải sáng’ nơi phên giậu

Tỉnh Lạng Sơn có trên 231,7 km đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc, địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khu vực hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt. Những năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, nhiều cung đường tuần tra biên giới trên địa bàn đã được bê tông hóa, tạo thuận lợi cho cán bộ, chiến sĩ Biên phòng thực hiện nhiệm vụ và người dân khu vực biên giới đi lại, canh tác nông nghiệp dễ dàng. Tuy nhiên vào ban đêm, việc di chuyển trên đường tuần tra vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu ánh sáng.

Cầu tiền tỷ 'đắp chiếu' do 'tắc' đường dẫn​

Cầu tiền tỷ 'đắp chiếu' do 'tắc' đường dẫn​

Cầu Sơn Mùa (tỉnh Quảng Ngãi) được đầu tư xây dựng với kinh phí lên đến hàng chục tỷ đồng (thay thế cây cầu cũ bị sập do mưa lũ) nhằm kết nối hai xã Sơn Tây và Sơn Tây Thượng, tỉnh Quảng Ngãi, góp phần tạo thuận lợi cho việc đi lại và giao thương của người dân. Được triển khai trong giai đoạn 2023 - 2025 với tổng vốn gần 80 tỷ đồng, nhưng đến bây giờ, dự án vẫn “đắp chiếu”.

Rút ngắn khoảng cách giáo dục, giúp học sinh tiếp cận tri thức bình đẳng

Rút ngắn khoảng cách giáo dục, giúp học sinh tiếp cận tri thức bình đẳng

Là tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng và điều kiện dạy, học, Điện Biên kỳ vọng Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển giáo dục và đào tạo" với nhiều chủ trương, chính sách mang tính đột phá sẽ tạo bước chuyển mới cho giáo dục vùng cao, hướng tới công bằng, hiệu quả, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng miền, giúp học sinh tiếp cận tri thức bình đẳng.