Hà Giang vài nét tổng quan

Hà Giang vài nét tổng quan
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang

1. Vị trí địa lý

Hà Giang là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Yên BáiLào Cai, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2, trong đó theo đường chim bay, chỗ rộng nhất từ tây sang đông dài 115 km và từ bắc xuống nam dài 137 km. Tại điểm cực bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực bắc của Tổ quốc, cách Lũng Cú chừng 3 km về phía đông, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực tây cách Xín Mần khoảng 10 km về  phía tây nam, có kinh độ l04024'05"; mỏm cực đông cách Mèo Vạc 16 km về phía đông - đông nam có kinh độ l05030'04".

2. Điều kiện tự nhiên

Địa hình:

Nằm trong khu vực địa bàn vùng núi cao phía bắc lãnh thổ Việt Nam, Hà Giang là một quần thể núi non hùng vĩ, địa hình hiểm trở, có độ cao trung bình từ 800 m đến 1.200 m so với mực nước biển. Đây là vùng tập trung nhiều ngọn núi cao. Theo thống kê mới đây, trên dải đất Hà Giang rộng chưa tới 8.000 km2 mà có tới 49 ngọn núi cao từ 500 m - 2.500 m (10 ngọn cao 500 - 1.000 m, 24 ngọn cao 1000 - 1500 m, 10 ngọn cao 1.500 - 2.000 m và 5 ngọn cao từ 2.000 - 2.500 m). Tuy vậy, địa hình Hà Giang về cơ bản, có thể phân thành 3 vùng sau:

- Vùng cao phía bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst. ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng. Ngày 03/10/2010 cao nguyên đá Đồng văn đã gia nhập mạng lưới Công viên địa chất (CVĐC) toàn cầu với tên gọi: CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn.

- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m. Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp.

- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang. Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối.

Thủy văn 

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng. ở đây có mật độ sông - suối tương đối dày. Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ.

Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân , Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà Giang, Bắc Quang về Tuyên Quang. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho vùng trung tâm tỉnh.

Sông Chảy bắt nguồn từ sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Kiều Liên Ti, mật độ các dòng nhánh cao (1,1 km/km 2 ), hệ số tập trung nước đạt 2,0 km/km 2 . Mặc dù chỉ đoạn đầu nguồn thuộc địa phận tỉnh nhưng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho khu vực phía tây của Hà Giang.

Sông Gâm bắt nguồn từ Nghiêm Sơn, Tây Trù (Trung Quốc) chảy qua Lũng Cú, Mèo Vạc về gần thị xã Tuyên Quang nhập vào sông Lô. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho phần đông của tỉnh.

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Giang còn có các sông ngắn và nhỏ hơn như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng, nhiều khe suối lớn nhỏ cung cấp nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư.

Khí hậu

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hà Giang về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc – Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc, nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc...

Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21,6 độ C - 23,9 độ C, biên độ nhiệt trong năm có sự dao động trên 10 độ C và trong ngày cũng từ 6 - 7 độ C. Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 độ C (tháng 6, 7); ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2 độ C (tháng l).

Chế độ mưa ở Hà Giang khá phong phú. Toàn tỉnh đạt bình quân lượng mưa hàng năm khoảng 2.300 - 2.400 mm, riêng Bắc Quang hơn 4.000 mm, là một trong số trung tâm mưa lớn nhất nước ta. Dao động lượng mưa giữa các vùng, các năm và các tháng trong năm khá lớn. Năm 2001, lượng mưa đo được ở trạm Hà Giang là 2.253,6 mm, Bắc Quang là 4.244 mm, Hoàng Su Phì là 1.337,9 mm... Tháng mưa cao nhất ở Bắc Quang (tháng 6) có thể đạt trên 1.400 mm, trong khi đó lượng mưa tháng 12 ở Hoàng Su Phì là 3,5 mm, ở Bắc Mê là 1,4 mm...

Độ ẩm bình quân hàng năm ở Hà Giang đạt 85% và sự dao động cũng không lớn. Thời điểm cao nhất (tháng 6, 7, 8) vào khoảng 87 - 88%, thời điểm thấp nhất (tháng l, 2, 3) cũng vào khoảng 81%: Đặc biệt ở đây ranh giới giữa mùa khô và mùa mưa không rõ rệt. Hà Giang là tỉnh có nhiều mây (lượng mây trung bình khoảng 7,5/10, cuối mùa đông lên tới 8 - 9/10) và tương đối ít nắng (cả năm có 1.427 giờ nắng, tháng nhiều là 181 giờ, tháng ít chỉ có 74 giờ).

Các hướng gió ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng. Thung lũng sông Lô quanh năm hầu như chỉ có một hướng gió đông nam với tần suất vượt quá 50%. Nhìn chung gió yếu, tốc độ trung bình khoảng 1 - l,5m/s. Đây cũng là nơi có số ngày giông cao, tới 103 ngày/năm, có hiện tượng mưa phùn, sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối. Nét nổi bật của khí hậu Hà Giang là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.

Tài nguyên đất

Trong 778.473 ha diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp có 134.184 ha, chiếm 17% diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp có 334.100 ha, chiếm 42,4%, đất chưa sử dụng có 310.064 ha, chiếm 39,3%, còn lại là đất chuyên dùng và đất ở. Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng, toàn tỉnh có 9 nhóm đất chính, trong đó chủ yếu là nhóm đất xám rất thích hợp để trồng các loại cây công nghiệp, cây dược liệu và cây ăn quả.

Tài nguyên rừng

Hà Giang có diện tích rừng tương đối lớn, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 345.860 ha, với nhiều sản vật quý hiếm: động vật có các loài gấu ngựa, sơn dương, voọc bạc má, gà lôi, đại bàng…; các loại gỗ: ngọc am, pơ mu, lát hoa, lát chun, đinh, nghiến, trò chỉ, thông đá…; các cây dược liệu như sa nhân, thảo quả, quế, huyền sâm, đỗ trọng… Rừng Hà Giang không những giữ vai trò bảo vệ môi trường sinh thái đầu nguồn cho vùng đồng bằng Bắc Bộ mà còn cung cấp những nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, xây dựng, y tế và sẽ là những điểm du lịch sinh thái lý tưởng của tỉnh.

Hà Giang còn nhiều khu rừng nguyên sinh chưa được khai thác, môi trường sinh thái trong lành và chứa đựng nhiều tiềm ẩn kỳ thú. Các rừng đá trập trùng, nhấp nhô ẩn hiện trong mây bạc, nhiều đỉnh núi cao trên 2.000 m như Pu Ta Kha, Tây Côn Lĩnh; nhiều hang động đầy bí ẩn như Tùng Bá, Lùng Má, (huyện Vị Xuyên), Tùng Vài (Quản Bạ), Hang Mây, Sảng Tủng (Đồng Văn); các danh thắng như núi Cô Tiên, Cổng Trời (Quản Bạ).

Tài nguyên khoáng sản

Qua khảo sát, thăm dò, bước đầu tỉnh Hà Giang đã phát hiện được 28 loại khoáng sản khác nhau. Đáng chú ý là có những mỏ có trữ lượng lớn trên một triệu tấn với hàm lượng khoáng chất cao như: ăngtimon ở các mỏ: Mậu Duệ, Bó Mới (Yên Minh); sắt ở Tùng Bá, Bắc Mê; chì - kẽm ở Na Sơn, Tả Pan, Bằng Lang, Cao Mã Pờ. Ngoài ra, còn có nhiều khoáng sản khác như: pirít, thiếc, chì, đồng, mănggan, vàng sa khoáng, đá quý, cao lanh, nước khoáng, đất làm gạch, than non, than bùn…Hiện nay một số mỏ đang được khai thác có hiệu quả.

3. Lịch sử hình thành

Vào thời Hùng Vương, mảnh đất Hà Giang đã là một trong 15 bộ của quốc gia Lạc Việt. Thời Thục Phán An Dương Vương lập nước Âu Lạc, Hà Giang thuộc bộ lạc Tây Vu.

Trong thời kỳ đô hộ của phong kiến phương Bắc kéo dài nghìn năm, khu vực Hà Giang vẫn nằm trong địa phận huyện Tây Vu thuộc quận Giao Chỉ.

Từ năm 1075 (đời nhà Lý). Miền đất Hà Giang lúc đó thuộc về châu Bình Nguyên.

Vào đầu đời Trần, khu vực Hà Giang, Tuyên Quang lúc đó gọi là châu Tuyên Quang thuộc lộ Quốc Oai.  Năm 1397 đổi thành trấn Tuyên Quang.

Địa danh Hà Giang lần đầu tiên được nhắc đến trong bài minh khắc trên chuông chùa Sùng Khánh (xã Đạo Đức, Vị Xuyên), được đúc nhân dịp trùng tu chùa vào đầu thời Vua Lê Dụ Tông, năm Ất Dậu 1707.

Năm Minh Mệnh thứ 16 (năm 1835), nhà Nguyễn bỏ châu Bảo Lạc, chia làm hai huyện: Vĩnh Điện (khoảng Bắc Mê, Yên Minh và một phần Quản Bạ ngày nay và huyện Để Định (khoảng huyện Bảo Lạc, Cao Bằng và một phần Đồng Văn, Mèo Vạc ngày nay). Lấy sông Lô phân giới để chia châu Vị Xuyên thành hai đơn vị hành chính mới: Khu vực phía hữu ngạn sông Lô được gọi là huyện Vĩnh Tuy, còn phía tả ngạn sông Lô là huyện Vị Xuyên.

Năm Thiệu Trị thứ hai (năm 1842), triều đình nhà Nguyễn chia Tuyên Quang làm ba hạt: Hà Giang, Bắc Quang, Tuyên Quang. Hạt Hà Giang có một phủ là Tương Yên với bốn huyện : Vị Xuyên, Vĩnh Tuy, Vĩnh Điện, Để Định.

Năm Thiệu Trị thứ tư (năm 1844), nhà Vua lại phê chuẩn cho các huyện châu thuộc tỉnh hạt biên giới phía Bắc, Tây Bắc, trong đó có Hà Giang, “vẫn theo như cũ đặt chức thổ quan”. Đến đời Tự Đức thì chế độ “thổ quan” bị bãi bỏ trên phạm vi cả nước.

Năm 1858, sau khi đánh chiếm hầu hết các tỉnh Nam Kỳ, Bắc Kỳ, năm 1887, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Giang và thay đổi chế độ cai trị bằng cách thiết lập các đạo quan binh.

Ngày 20/8/1891, tỉnh Hà Giang được thành lập, bao gồm phủ Tương Yên và huyện Vĩnh Tuy (tỉnh Tuyên Quang).

Năm 1893, trong dịp cải tổ trong các quân khu, Hà Giang trở thành trung tâm của một quân khu và cùng với Tuyên Quang hợp thành Đạo quan binh thứ ba (quân khu 3).

Ngày 17/9/1895, Toàn quyền Đông Dương ra Quyết định số 1432 chia khu quân sự thứ ba thành ba tỉnh: Tuyên Quang, Bắc Quang và Hà Giang. Trong đó, Hà Giang bao gồm huyện Vị Xuyên (trừ tổng Phú Loan và Bằng Hành), cộng thêm các tổng Phương Độ và Tương Yên.

Ngày 28/4/1904, Toàn quyền Đông Dương lại ra quyết định sáp nhập tỉnh Bắc Quang và tỉnh Hà Giang thành Đạo quan binh Hà Giang. Đến thời điểm này, Đạo quan binh thứ ba Hà Giang đã được xác định ranh giới rõ ràng và tương đối ổn định.

Trước cách mạng tháng tám năm 1945, Hà Giang có 4 châu và 1 thị xã (Bắc Quang, Vị Xuyên, Đồng Văn, Hoàng Su Phì, thị xã Hà Giang).

Ngày 23/3/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán Khu Lao - Hà - Yên, sáp nhập tỉnh Hà Giang vào Khu tự trị Việt Bắc.

Đầu tháng 4/1976, tỉnh Hà Tuyên được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang.

Ngày 12/8/1991, tại kỳ họp thứ 9, khoá VIII, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Tỉnh Hà Giang được tái lập gồm 10 đơn vị hành chính là thị xã Hà Giang và 9 huyện, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hà Giang.

Ngày 01/12/2003, Chính phủ ra nghị định số 146/NĐ-CP về việc thành lập huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Ngày 27/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP về việc thành lập thành phố Hà Giang thuộc tỉnh Hà Giang.

4. Dân tộc

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn tỉnh Hà Giang: 

- Dân tộc Hoa (Hán)
- Dân tộc La Chí
Dân tộc Lô Lô
Dân tộc Mông
Dân tộc Cờ Lao
Dân tộc Pà Thẻn
Dân tộc Dao
- Dân tộc Phù Lá
 
Theo hagiang.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

OCOP đồng hành với người dân vùng cao xóa nghèo

OCOP đồng hành với người dân vùng cao xóa nghèo

Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) tại tỉnh Lào Cai được triển khai hiệu quả trong thời gian qua, góp phần phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao giá trị sản phẩm địa phương; đồng thời, mở ra cơ hội khởi nghiệp, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao.

Giữ màu xanh cho những cánh rừng đặc dụng Đèo Cả

Giữ màu xanh cho những cánh rừng đặc dụng Đèo Cả

Rừng đặc dụng Đèo Cả (thuộc địa bàn xã Hòa Xuân, tỉnh Đắk Lắk) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn các giá trị thiên nhiên, hệ sinh thái tại khu vực phía Đông Nam của tỉnh. Dù còn nhiều khó khăn, các cán bộ kiểm lâm vẫn đang ngày đêm nỗ lực giữ lại những “mảng xanh” cho những cánh rừng nơi đây, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Lai Châu: Khắc phục hậu quả mưa lũ, nỗ lực thông tuyến quốc lộ 279

Lai Châu: Khắc phục hậu quả mưa lũ, nỗ lực thông tuyến quốc lộ 279

Sau trận lũ quét lịch sử sáng 17/7, tuyến đường giao thông huyết mạch nối từ xã Mường Than (Lai Châu) với tỉnh Lào Cai tê liệt hoàn toàn. Đất đá sạt lở hàng chục nghìn mét khối, những vực sâu "hàm ếch" chực chờ nuốt chửng mặt đường. Hiện tại, các lực lượng đang dồn lực để khắc phục các điểm sạt lở, quyết tâm thông đường trong thời gian sớm nhất để phục vụ người dân đi lại an toàn.

Điểm tựa của người dân vùng lũ Mường Than

Điểm tựa của người dân vùng lũ Mường Than

Âm thầm, lặng lẽ, thực hiện mệnh lệnh cao cả là nhanh chóng cứu dân, giúp dân trong tâm lũ Mường Than, hơn 350 cán bộ, chiến sĩ của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lai Châu trong những ngày qua đã đương đầu lũ dữ, vì cuộc sống bình yên của nhân dân. Nơi nào khó khăn nhất, vất vả nhất là bộ đội có mặt với phương châm “Còn dân là còn tất cả”, được nhân dân yêu thương, tin tưởng, xứng đáng với tên gọi Bộ đội Cụ Hồ.

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường nội trú biên giới

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường nội trú biên giới

Ngày 22/7, Trung tướng Nguyễn Bá Lực, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam dẫn đầu đoàn công tác đã tới kiểm tra tiến độ thi công các dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tại một số xã biên giới tỉnh Cao Bằng. Cùng tham gia có Thiếu tướng Trần Xuân Mạnh, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1; lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, Quân khu 1, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, một số sở, ngành và Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh.

Hỗ trợ Lai Châu khắc phục hậu quả mưa lũ

Hỗ trợ Lai Châu khắc phục hậu quả mưa lũ

Trước những thiệt hại nặng nề do mưa lớn kéo dài gây lũ quét, lũ ống và sạt lở đất tại xã Mường Than cùng một số địa phương của tỉnh Lai Châu, ngày 22/7, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Gia Lai đã gửi Thư thăm hỏi tới Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lai Châu; đồng thời quyết định hỗ trợ 2 tỷ đồng cùng nhiều vật tư y tế nhằm góp phần giúp địa phương khắc phục hậu quả thiên tai, sớm ổn định đời sống nhân dân.

Đảng viên trẻ vùng cao tiên phong trong phát triển kinh tế

Đảng viên trẻ vùng cao tiên phong trong phát triển kinh tế

Với sức trẻ, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến, đội ngũ đảng viên trẻ ở vùng cao Điện Biên đang phát huy vai trò tiên phong trong phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và lan tỏa các phong trào thi đua tại cơ sở. Những việc làm thiết thực của họ đang góp phần làm thay đổi diện mạo vùng cao.

Lan tỏa nghĩa tình chăm lo người có công

Lan tỏa nghĩa tình chăm lo người có công

Tỉnh Thái Nguyên đang thực hiện chính sách ưu đãi đối với trên 154.000 người có công với cách mạng. Hằng tháng chi trả trợ cấp ưu đãi cho gần 21.000 người, kinh phí trên 860 tỷ đồng/năm.

Tiếp tục huy động nguồn lực hỗ trợ xóa nhà dột nát phát sinh mới

Tiếp tục huy động nguồn lực hỗ trợ xóa nhà dột nát phát sinh mới

Sau khi hoàn thành kế hoạch hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở trong năm 2025, Phú Thọ đang tiếp tục rà soát trường hợp nhà tạm, nhà dột nát, nhà xuống cấp phát sinh mới theo các chương trình mục tiêu quốc gia và chương trình xã hội hóa để đề xuất hỗ trợ góp phần đảm bảo an sinh xã hội.

Ngành điện lan tỏa công nghệ cao đến vùng biên - Bài cuối: Điện 'xanh' bén rễ vùng biên

Ngành điện lan tỏa công nghệ cao đến vùng biên - Bài cuối: Điện 'xanh' bén rễ vùng biên

Cùng với điện lưới quốc gia, việc phát triển điện mặt trời mái nhà, hệ thống lưu trữ năng lượng đang mở ra hướng đi mới ở vùng biên tỉnh Lâm Đồng. Khi người dân và doanh nghiệp chủ động tạo ra nguồn điện sạch phục vụ sản xuất, điện không chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, giảm áp lực cho hệ thống điện quốc gia, tiết giảm chi phí sản xuất mà còn trở thành động lực thúc đẩy chuyển dịch năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế xanh và bền vững.

'Vượt nắng, thắng mưa' xây trường nội trú liên cấp

'Vượt nắng, thắng mưa' xây trường nội trú liên cấp

Sau 8 tháng thi công, các Trường Phổ thông dân tộc nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Cao Bằng đang bước vào giai đoạn khẩn trương nhằm đảm bảo nhu cầu học tập của học sinh vùng biên giới trong năm học 2026-2027. Để đẩy nhanh tiến độ thi công, tỉnh đã huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, áp dụng nhiều cách làm sáng tạo trong xây dựng các dự án.

Ngành điện lan tỏa công nghệ cao đến vùng biên - Bài 1: Những đại sứ số' của buôn làng

Ngành điện lan tỏa công nghệ cao đến vùng biên - Bài 1: Những đại sứ số' của buôn làng

Ở các buôn làng vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới của tỉnh Lâm Đồng, câu chuyện chuyển đổi số, phát triển của điện mặt trời mái nhà và các giải pháp lưu trữ năng lượng đã và đang góp phần thay đổi nếp sống nơi đây, đồng thời từng bước hình thành mô hình phát triển kinh tế mới ở các địa phương vùng biên, hướng tới xây dựng mô hình quản trị hiện đại, xanh hơn trong sản xuất và phát triển bền vững hơn trong tương lai.

Cấp điện trở lại cho hầu hết khách hàng ở vùng lũ Mường Than

Cấp điện trở lại cho hầu hết khách hàng ở vùng lũ Mường Than

Thông tin từ Công ty Điện lực Lai Châu cho biết, đến chiều 21/7, đơn vị đã cơ bản hoàn thành công tác khắc phục sự cố do mưa lũ, đóng điện khôi phục cấp điện cho hầu hết khu vực bị ảnh hưởng tại xã Mường Than, góp phần giúp người dân sớm ổn định đời sống và khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh sau thiên tai.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, dù được đầu tư xây dựng nhiều công trình nước sinh hoạt tập trung phục vụ người dân, song, tới nay hơn một nửa các công trình cấp nước tại các xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa đã không phát huy hiệu quả và bị hư hỏng nặng, không bảo đảm công năng để đáp ứng được nhu cầu cung cấp nước sinh hoạt cho người dân theo thiết kế, ảnh hưởng tới việc cấp nước, dẫn đến nhiều người dân miền núi đang sống trong tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt.

Chủ động phòng, chống dịch bệnh sau mưa lũ ở Mường Than

Chủ động phòng, chống dịch bệnh sau mưa lũ ở Mường Than

Cơn lũ dữ đi qua đã gây thiệt hại nặng về cho người dân ở xã Mường Than (Lai Châu). Cùng với việc khắc phục hậu quả thiên tai, công tác phòng, chống dịch bệnh cũng được ngành Y tế khẩn trương triển khai tại các khu vực bị ảnh hưởng trên địa bàn xã.

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Trên đảo tiền tiêu Lý Sơn (đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), do điều kiện đất đai khô cằn, nguồn nước ngọt hạn chế nên việc tăng gia sản xuất luôn được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lý Sơn duy trì thường xuyên. Những luống rau xanh không chỉ góp phần cải thiện bữa ăn, nâng cao đời sống bộ đội mà còn thể hiện tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, bám trụ nơi tuyến đầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.

Khắc phục tuyến đường xuống cấp, mở cơ hội phát triển vùng cao

Khắc phục tuyến đường xuống cấp, mở cơ hội phát triển vùng cao

Sau nhiều năm khai thác, tuyến đường Trà Thanh - Trà Phong, xã Thanh Bồng (Quảng Ngãi) đã xuống cấp nghiêm trọng. Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho việc đi lại, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn ảnh hưởng đến vận chuyển nông sản, giao thương hàng hóa và việc đưa các dịch vụ công đến người dân vùng cao.

'Vườn ươm' tài năng cho tương lai bền vững của vùng biên

'Vườn ươm' tài năng cho tương lai bền vững của vùng biên

Sau hơn 8 tháng thi công xây dựng 3 trường học trên địa bàn các xã vùng biên giới Giang Thành, Vĩnh Gia và Khánh Bình thuộc tỉnh An Giang, đến nay, các trường này đã sẵn sàng vang tiếng trống khai trường, đón năm học mới 2026 - 2027.

Ưu tiên ổn định chỗ ăn ở cho bà con nơi tâm lũ Mường Than

Ưu tiên ổn định chỗ ăn ở cho bà con nơi tâm lũ Mường Than

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.