Gìn giữ sợi dây văn hóa kết nối quá khứ với hiện tại

Múa dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên không chỉ là loại hình nghệ thuật mà còn là biểu tượng văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần, tín ngưỡng và phong tục của cộng đồng. Tại tỉnh Đắk Lắk, thời gian qua, ngành Văn hóa đã nỗ lực gìn giữ và lan tỏa những điệu múa, nhịp xoang của các dân tộc để tiếp tục “giữ hồn” múa dân gian Tây Nguyên.

mua-121125.jpg
Đắk Lắk tổ chức nhiều hoạt động truyền dạy đánh chiêng, múa xoang để gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Gìn giữ giá trị văn hóa

Trong cuộc sống hiện đại, nhiều điệu múa của đồng bào các dân tộc đang dần mai một. Để giữ gìn những giá trị ấy, ngành Văn hóa tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức nhiều chương trình, hội thi, hội diễn dân gian nhằm khuyến khích các bạn trẻ tập luyện và biểu diễn các bài múa truyền thống.

Chiều cuối tuần, tại buôn du lịch cộng đồng Tơng Jú (phường Ea Kao), tiếng chiêng vang vọng giữa khoảng sân đất đỏ sau nhà cộng đồng. Những cô gái Ê Đê trong trang phục thổ cẩm nối vòng xoang uyển chuyển, đôi tay mềm mại, chân trần nhịp theo tiếng chiêng trầm hùng. Cạnh đó, các chàng trai vừa diễn tấu cồng chiêng, vừa giữ nhịp, tái hiện sinh động không gian văn hóa buôn làng.

Chị H’Huyền Mlô, buôn M’Oa, xã Ea Kar cho biết, làn điệu dân ca và múa dân gian là hai giá trị quý nhất của dân tộc Ê Đê. Là thế hệ trẻ, chị H’Huyền rất yêu quý bản sắc của đồng bào dân tộc mình và tự nhủ bản thân cần có trách nhiệm lưu giữ, truyền lại để thế hệ trẻ hiểu, yêu và tự hào về bản sắc dân tộc mình.

Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Lân, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Đắk Lắk, hướng dẫn học viên các động tác múa.

Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Lân, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Đắk Lắk, hướng dẫn học viên các động tác múa.

Nhằm khơi dậy tình yêu văn hóa dân tộc, mới đây, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk đã mở lớp tập huấn múa dân gian Tây Nguyên, thu hút các học viên là thanh niên, nghệ nhân trẻ và cán bộ văn hóa cơ sở. Các bạn trẻ của buôn làng đã nắm được những đặc trưng cơ bản của múa dân gian Ê Đê, từ động tác, tiết tấu đến ý nghĩa nghi lễ. Các học viên được thực hành, dàn dựng và biểu diễn thành công các tiết mục múa kết hợp cồng chiêng, kỹ năng biểu diễn các điệu múa dân gian Tây Nguyên.

Nhà văn Niê Thanh Mai, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk chia sẻ, trong bối cảnh nhiều giá trị văn hóa đang đứng trước nguy cơ mai một hoặc bị cải biên, việc trang bị kiến thức nền tảng vững chắc và định hướng nghệ thuật đúng đắn cho đội ngũ làm công tác văn hóa là cần thiết, giúp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên; bồi dưỡng đội ngũ nghệ nhân trẻ, hạt nhân văn nghệ cơ sở, tiếp tục lan tỏa tinh hoa nghệ thuật dân gian đến cộng đồng.

"Chúng tôi mong muốn đồng hành cùng thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số để các bạn có kiến thức bài bản, múa đúng và có hồn. Đây là bước khởi đầu trong chuỗi hoạt động hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng, để các bạn trẻ có chiều sâu, giới thiệu đến đông đảo công chúng về lĩnh vực múa và các nghi thức văn nghệ dân gian thật sự cảm xúc", bà Niê Thanh Mai chia sẻ.

“Đặc sản” trong các lễ hội

Trong bối cảnh hội nhập, nhiều giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ bị mai một hoặc biến tấu. Do đó, việc chuẩn hóa, khôi phục và đưa múa dân gian vào hoạt động du lịch cộng đồng được xem là hướng đi thiết thực. Tại nhiều buôn làng ở Đắk Lắk, múa dân gian cùng tiếng cồng chiêng đã trở thành “đặc sản” trong các lễ hội, chương trình giao lưu văn hóa, góp phần lan tỏa bản sắc vùng đất Tây Nguyên đến du khách trong và ngoài nước.

Các bạn trẻ thực hiện nghi thức “Mời rượu” một hoạt động mang tính trang trọng trong nghi lễ đón khách của dân tộc Ê Đê.

Các bạn trẻ thực hiện nghi thức “Mời rượu” một hoạt động mang tính trang trọng trong nghi lễ đón khách của dân tộc Ê Đê.

Tiến sĩ Lương Thanh Sơn, nguyên Giám đốc Bảo tàng Đắk Lắk nhận định, các điệu múa dân gian Tây Nguyên có ý nghĩa mô phỏng hoạt động sản xuất, săn bắt, sinh hoạt hằng ngày hoặc thể hiện tình yêu quê hương, đất nước. Mỗi động tác, mỗi nhịp xoang đều phản ánh mối giao hòa giữa con người với thiên nhiên và triết lý nhân sinh sâu sắc.

Theo Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Lân, Chi hội trưởng Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Đắk Lắk, trong sinh hoạt cộng đồng của các dân tộc Tây nguyên như: Ê Đê, M’nông, Gia Rai, Xê Đăng..., múa dân gian là yếu tố không thể thiếu. Múa dân gian Tây Nguyên không chỉ là những động tác cơ thể, mà là ngôn ngữ của linh hồn, là cách người Tây Nguyên giao tiếp với thần linh, núi rừng. Mỗi nhịp điệu, vòng xoang đều chứa đựng câu chuyện về cuộc sống, mùa màng, lễ hội. Việc đưa múa dân gian vào hoạt động của du lịch văn hóa cộng đồng là xu hướng mà nhiều buôn làng ở Đắk Lắk đang thực hiện.

Thanh niên tại buôn du lịch cộng đồng Tơng Jú (phường Ea Kao, tỉnh Đắk Lắk) đánh cồng chiêng.

Thanh niên tại buôn du lịch cộng đồng Tơng Jú (phường Ea Kao, tỉnh Đắk Lắk) đánh cồng chiêng.

Nhằm gìn giữ di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk đã triển khai nhiều chương trình, đề án cụ thể. Trên cơ sở Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, ngành Văn hóa phối hợp các địa phương khảo sát, lựa chọn những buôn làng tiêu biểu để đầu tư phát triển du lịch cộng đồng. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật dân gian, trong đó có múa truyền thống, được tổ chức thường xuyên tại điểm du lịch trọng điểm.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trẻ làm văn hóa và du lịch được tỉnh chú trọng. Các lễ hội đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, chuẩn hóa, tổ chức định kỳ nhằm tạo thương hiệu riêng cho du lịch Đắk Lắk.

Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng chiêng và vòng xoang vẫn vang vọng. Đó không chỉ là nghệ thuật trình diễn mà còn là ký ức cộng đồng, ngôn ngữ kết nối quá khứ với hiện tại để nhịp chiêng, điệu múa mãi ngân vang qua các thế hệ./.

Dân tộc Ê Đê

Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan... 

Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.

: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.

Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ê Đê

Có thể bạn quan tâm

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữa cái nắng đầu hè trên miền đá cực Bắc, sân Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Sủng Là, xã Sà Phìn (Tuyên Quang) lại rộn ràng bởi những thanh âm đặc biệt. Tiếng khèn Mông sau lúc ngập ngừng đã ngân lên thành nhịp, hòa cùng tiếng cười của những đứa trẻ vùng cao khiến không gian ngôi trường nhỏ giữa cao nguyên đá trở nên sống động, vui tươi hơn.

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Từng được kỳ vọng là nơi lưu giữ giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương, đồng thời phục vụ nhu cầu tham quan, giáo dục truyền thống cho học sinh và người dân trên địa bàn, nhưng thời gian gần đây, Bảo tàng Phù Cát (xã Phù Cát, tỉnh Gia Lai) lại rơi vào tình trạng xuống cấp, hoang hóa với thời gian.

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

UBND tỉnh Khánh Hòa đang phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị tổ chức “Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI” với quy mô cấp quốc gia. Thông qua các hoạt động của ngày hội, tỉnh hướng tới quảng bá nét đẹp văn hóa, con người đồng bào Chăm đến người dân và du khách trong, ngoài nước; đồng thời góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Tối 12/5/2026, tại thành phố Hải Phòng đã diễn ra chương trình biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc. Chương trình có sự góp mặt của hàng trăm nghệ sĩ đến từ đoàn nghệ thuật tỉnh Lào Cai, mang tới sắc màu rực rỡ góp thêm vào bức tranh đa sắc màu của Lễ hội Hoa Phượng đỏ 2026. 

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Không đơn thuần là nơi gặp gỡ của những mối tình xưa, chợ tình Khâu Vai (xã Khâu Vai, tỉnh Tuyên Quang) hôm nay đã trở thành một không gian văn hóa đặc biệt - nơi ký ức, phong tục của đồng bào vùng cao tiếp nối qua nhiều thế hệ. Mỗi năm vào tháng Ba âm lịch, Khâu Vai lại rộn ràng trong tiếng khèn, tiếng hát giao duyên và sắc váy rực rỡ của đồng bào các dân tộc.

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

Ngày 10/5, UBND xã Xuân Dương (tỉnh Thái Nguyên) đã khai mạc Lễ hội văn hóa truyền thống “Chợ tình Xuân Dương” năm 2026. Việc tổ chức lễ hội truyền thống này nhằm tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, nơi những câu hát Sli, hát Lượn làm say lòng du khách thập phương.

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Ngày 9/5, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nga My (Nghệ An) tổ chức Lễ đón nhận Chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Lễ đón tiếng sấm của người Ơ Đu” và kỷ niệm 20 năm thành lập bản tái định cư Văng Môn - nơi sinh sống tập trung đông dân cư nhất của đồng bào Ơ Đu trên địa bàn tỉnh.

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Tối 8/5, tại Sơn La đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Hương sắc vùng cao” năm 2026. Triển lãm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức nhằm tôn vinh, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao; góp phần tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Giữa không gian đá xám của vùng cao Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, có những căn nhà nhỏ luôn đỏ lửa từ sáng sớm. Trong làn khói mỏng quyện mùi sáp ong thơm dịu, những người phụ nữ Mông lặng lẽ cúi mình bên tấm vải lanh, đôi tay thoăn thoắt đưa từng nét vẽ bằng chiếc bút đồng nhỏ bé. Ở nơi ấy, vẽ sáp ong không chỉ là một nghề thủ công mà còn là cách người Mông gửi vào tấm vải những ký ức của cộng đồng, những quan niệm về cuộc sống và cả sự gắn bó với núi rừng đá xám.

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Tối 7/5, UBND phường Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ) tổ chức Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà năm 2026, tại khu vực Vườn hoa phố đi bộ đường Đà Giang. Đây là hoạt động văn hóa tâm linh mang đậm bản sắc dân tộc; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước.

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Giữa miền biên viễn nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, sau phiên chợ tình Khâu Vai một ngày, đồng bào các dân tộc lại tìm về với chợ Phong lưu Sơn Vĩ ở xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang. Không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa, chợ Phong lưu Sơn Vĩ còn là không gian văn hóa đậm sắc màu truyền thống, nơi lưu giữ những câu chuyện tình yêu mộc mạc, thủy chung của đồng bào vùng cao.

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Nằm ở vùng đất đỏ miền Đông, sau khi sáp nhập xã Bom Bo cũ và Bình Minh cũ, xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) hôm nay không chỉ được biết đến như một biểu tượng của tinh thần kháng chiến quật khởi mà còn là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của người S'tiêng.

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học

Lan tỏa văn hóa truyền thống trong trường học

Việc đưa di sản văn hóa vào trường học không còn là câu chuyện mang tính khuyến khích, mà đang dần trở thành một yêu cầu tất yếu. Giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt tri thức, mà còn là hành trình hình thành nhân cách, bồi đắp tâm hồn và xây dựng văn hóa cho thế hệ trẻ. 

Dệt thổ cẩm - nét văn hóa của đồng bào M’nông

Dệt thổ cẩm - nét văn hóa của đồng bào M’nông

Dệt thổ cẩm là nét văn hóa đặc trưng, thể hiện sự khéo léo của đồng bào M'nông, là sự tiếp nối của một nghề truyền thống lâu đời. Vải thổ cẩm được dệt hoàn toàn trên khung cửi truyền thống, từ những kỹ năng, sự sáng tạo và kiên nhẫn của những người phụ nữ M’nông đã tạo ra những trang phục truyền thống với những hoa văn, họa tiết sặc sỡ mang sắc thái đặc sắc của cộng đồng.

Độc đáo nước uống ‘chè đâm’ của đồng bào Thái

Độc đáo nước uống ‘chè đâm’ của đồng bào Thái

Chè đâm là thức uống dân dã nhưng độc đáo của đồng bào Thái miền Tây Nghệ An; không chỉ gây ấn tượng bởi tên gọi lạ mà còn bởi cách chế biến công phu và hương vị đặc trưng. Từ những lá chè rừng được giã nhuyễn trong cối gỗ, cối đá, ống tre, người Thái đã tạo nên một loại nước giải khát mang đậm dấu ấn văn hóa, khiến du khách một lần thưởng thức là nhớ mãi.

Tình ca Tây Nguyên ngân vang giữa lòng Thủ đô

Tình ca Tây Nguyên ngân vang giữa lòng Thủ đô

Trong chuỗi hoạt động chào mừng Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, chương trình dân ca, dân vũ “Tình ca Tây Nguyên” diễn ra tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam đã mang đến không gian đậm sắc màu đại ngàn, thu hút đông đảo du khách.

Giữ vững danh hiệu toàn cầu từ những việc làm cụ thể

Giữ vững danh hiệu toàn cầu từ những việc làm cụ thể

Giữa trùng điệp đá tai mèo nơi địa đầu cực Bắc, Cao nguyên đá Đồng Văn không chỉ là một vùng địa chất độc đáo, mà còn là một “bảo tàng sống” lưu giữ ký ức hàng trăm triệu năm của trái đất, hòa quyện với đời sống văn hóa của các cộng đồng dân tộc.

Xây dựng Măng Đen trở thành khu du lịch quốc gia với hệ sinh thái đặc sắc

Xây dựng Măng Đen trở thành khu du lịch quốc gia với hệ sinh thái đặc sắc

Tối 30/4, UBND xã Măng Đen tổ chức chương trình nghệ thuật “Măng Đen – Khát vọng vươn xa”. Đây là hoạt động trọng tâm trong chuỗi các sự kiện văn hóa – nghệ thuật của Khu du lịch sinh thái Măng Đen nhân dịp kỷ niệm 51 năm Giải phóng miền Nam – Thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 1/5.

Khai mạc Lễ hội mùa hè Sa Pa năm 2026

Khai mạc Lễ hội mùa hè Sa Pa năm 2026

Tối 29/4, tại trung tâm Khu du lịch quốc gia Sa Pa (Lào Cai), Lễ hội mùa hè Sa Pa 2026 chính thức khai mạc. Đây là sự kiện quan trọng, điểm nhấn trong chuỗi “Lễ hội 5 mùa” của phường Sa Pa, góp phần đẩy mạnh kích cầu, xúc tiến và quảng bá du lịch trên địa bàn phường, khu vực và của cả tỉnh.