Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

keng-long-060726-1.jpg
Tái hiện hoạt động văn hóa “Keng Lóng”. Ảnh tư liệu: Thanh Hải/TTXVN

Thanh âm của bản sắc

Đối với đồng bào Thái, Keng Lóng không chỉ là một loại hình nghệ thuật dân gian mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng. Từ những vật liệu quen thuộc như tre, nứa, qua bàn tay khéo léo của người biểu diễn, Keng Lóng tạo nên những âm thanh rộn ràng, khi sâu lắng, thiết tha, hòa cùng những bước múa uyển chuyển của các thiếu nữ Thái.

Trong các dịp lễ hội, ngày vui của bản làng, lễ mừng cơm mới hay những buổi sinh hoạt cộng đồng, tiếng Keng Lóng luôn vang lên như lời mời gọi mọi người cùng quây quần, sẻ chia niềm vui và gắn kết tình làng nghĩa xóm. Mỗi nhịp gõ, mỗi động tác biểu diễn đều phản ánh cuộc sống lao động, sản xuất, tình yêu quê hương và khát vọng về cuộc sống bình yên, no ấm của đồng bào.

Theo các nghệ nhân, điệu múa Keng Lóng được hình thành từ chính cuộc sống lao động của người Thái. Những động tác mô phỏng cảnh thu hoạch lúa, đổ lúa vào máng gỗ, giã thóc thành gạo đã được cách điệu, trở thành loại hình nghệ thuật mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.

Ông Vì Văn Bằng, xã Mai Hạ cho biết: “Nhà nước đã công nhận Keng Lóng của người Thái là di sản văn hóa phi vật thể. Điệu múa Keng Lóng bắt nguồn từ cuộc sống lao động của bà con. Sau khi đi gặt về, người dân cho lúa vào máng gỗ, lấy thóc rồi giã thành gạo. Từ những công việc quen thuộc ấy, cha ông đã sáng tạo nên điệu múa và lưu truyền cho đến ngày nay”.

Không chỉ xuất hiện trong các lễ hội hay sự kiện văn hóa, Keng Lóng từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống thường nhật của người Thái ở Mai Châu. Sau những giờ lao động, người dân lại tập trung tại nhà văn hóa hoặc sân bản để cùng luyện tập, biểu diễn, tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc. Đối với nhiều người dân nơi đây, Keng Lóng không đơn thuần là một tiết mục văn nghệ mà còn là ký ức tuổi thơ, là niềm tự hào về truyền thống của dân tộc mình.

Chị Lò Bích Phương, xã Mai Hạ chia sẻ: “Keng Lóng giúp người Thái giải tỏa cảm xúc sau những ngày lao động vất vả. Trong các dịp lễ, Tết hay những hoạt động văn hóa của bản làng, Keng Lóng luôn có mặt bởi đây là cầu nối gắn kết mọi người, cùng chia sẻ niềm vui và gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc”.

Trao truyền để di sản sống cùng cộng đồng

Trước sự phát triển của đời sống hiện đại, việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Tại Mai Châu, cùng với sự quan tâm của chính quyền địa phương, nhiều câu lạc bộ Keng Lóng đã được thành lập và duy trì hoạt động thường xuyên. Các nghệ nhân cao tuổi trở thành những “người giữ lửa”, kiên trì truyền dạy từng nhịp gõ, từng động tác múa cho lớp trẻ.

Nhiều trường học, nhà văn hóa cộng đồng cũng lồng ghép việc giới thiệu, truyền dạy Keng Lóng vào các hoạt động ngoại khóa, tạo điều kiện để thanh thiếu niên hiểu hơn về giá trị của di sản văn hóa dân tộc mình. Nhờ đó, ngày càng có nhiều người trẻ tham gia luyện tập và biểu diễn, góp phần gìn giữ loại hình nghệ thuật truyền thống.

Song song với công tác bảo tồn, Keng Lóng còn được đưa vào các chương trình biểu diễn phục vụ khách du lịch. Những tiết mục mang đậm bản sắc dân tộc không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa người Thái mà còn tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân thông qua phát triển du lịch cộng đồng.

Theo ông Khà Văn Diệp, Bí thư Chi bộ xóm Nhót, xã Mai Châu, địa phương xác định việc bảo tồn Keng Lóng không chỉ dừng lại ở gìn giữ một loại hình nghệ thuật dân gian mà còn hướng tới phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục duy trì các đội văn nghệ quần chúng, khuyến khích thế hệ trẻ tham gia các câu lạc bộ Keng Lóng, tăng cường truyền dạy trong cộng đồng và đưa loại hình nghệ thuật này trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng phục vụ khách du lịch, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Thái.

Ông Khà Văn Diệp cho biết: “Keng Lóng vừa là điệu múa, vừa là nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian của người Thái. Từ xa xưa, các cụ đã gìn giữ và thực hiện trong các dịp cầu mùa, mừng cơm mới, lễ, Tết. Đến nay, khi du lịch cộng đồng ngày càng phát triển, Keng Lóng trở thành cầu nối để giới thiệu văn hóa dân tộc Thái tới du khách trong và ngoài nước”.

Thực tế cho thấy, bảo tồn di sản không chỉ là lưu giữ những giá trị của quá khứ mà còn là tạo điều kiện để các giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Khi được cộng đồng gìn giữ, thực hành thường xuyên và gắn với phát triển du lịch, Keng Lóng không chỉ được bảo tồn nguyên vẹn mà còn có thêm sức sống mới, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và tạo sinh kế cho người dân địa phương.

Không chỉ là một loại hình nghệ thuật dân gian, Keng Lóng còn là không gian văn hóa gắn với đời sống, phong tục và tập quán của đồng bào Thái. Việc tiếp tục trao truyền, thực hành và phát huy giá trị của Keng Lóng trong cộng đồng, gắn với phát triển du lịch sẽ góp phần để di sản này tiếp tục được lưu giữ, trở thành cầu nối đưa những giá trị văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng và các thế hệ mai sau./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Bảo tồn nghệ thuật truyền thống Khmer biến văn hóa thành động lực phát triển

Tiếng trống Chhay-Dăm rộn ràng vang lên trong sân chùa của đồng bào dân tộc Khmer mỗi dịp Tết Chôl Chnăm Thmây hay lễ hội Ok Om Bok từ lâu đã trở thành âm thanh quen thuộc ở những phum, sóc Khmer An Giang. Nhưng phía sau những nhịp trống sôi động ấy là nỗi trăn trở của nhiều nghệ nhân lớn tuổi khi lớp kế cận thưa vắng, không gian diễn xướng dần thu hẹp trước nhịp sống hiện đại.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sau hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ tiếp tục dành sự quan tâm đối với công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên địa bàn.

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm: Bảo tồn gắn với phát triển du lịch

Tối 28/6, tại phường Đông Hải (tỉnh Khánh Hòa), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026. Sự kiện khép lại chuỗi hoạt động sôi nổi nhằm giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống tinh hoa của đồng bào Chăm.

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa, các hoạt động thi đấu thể thao truyền thống và trò chơi dân gian đã thu hút sự tham gia tranh tài của hơn 260 vận động viên đến từ 7 tỉnh, thành phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống. Các cuộc thi đấu diễn ra kịch tính, sôi nổi tại Trung tâm Dịch vụ thi đấu thể thao tỉnh Khánh Hòa (phường Bảo An), thu hút hàng ngàn lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Diễn ra trong 3 ngày với sự tham gia đại diện của đồng bào Chăm từ 7 tỉnh, thành phố, Ngày hội văn hóa Chăm tại Khánh Hòa không chỉ là không gian trình diễn những giá trị di sản truyền thống đặc sắc, mà còn là nhịp cầu kết nối, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Hơn sáu thập kỷ sau ngày hoàn thành, đường Hạnh Phúc đã trở thành biểu tượng của ý chí, tinh thần cống hiến và khát vọng dựng xây của một thế hệ thanh niên Việt Nam. Từ một tuyến giao thông mở lối cho vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, con đường hôm nay là di sản lịch sử của nơi địa đầu Tổ quốc. Hiếm có công trình giao thông nào mà trên từng mét đường đều in đậm dấu chân, mồ hôi và cả máu của hàng nghìn thanh niên xung phong như đường Hạnh Phúc.

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Những nghi lễ tín ngưỡng, lễ hội và phong tục truyền thống đặc sắc của đồng bào Chăm được tái hiện sinh động tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI. Sự kiện góp phần tôn vinh, lan tỏa và gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng Chăm.

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Sáng 27/6, tại Đầm Vực, thôn Nam Viên (xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), UBND xã Nghi Xuân tổ chức Lễ hội đánh cá Vực - Rào năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa truyền thống được địa phương duy trì nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân gian gắn với đời sống cộng đồng. Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách tham gia trải nghiệm.

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tối 26/6, tại Khánh Hòa, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng tỉnh Khánh Hòa tổ chức đã chính thức diễn ra. Ngày hội quy tụ hàng trăm nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên quần chúng và đông đảo đồng bào Chăm đến từ 7 tỉnh, thành: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tham gia.

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Hướng tới Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026, ngành Văn hóa tỉnh Khánh Hòa đã chủ động triển khai tích hợp mã QR cùng nền tảng trải nghiệm số tại Khu di tích Tháp Bà Pô Nagar.

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Với bề dày hàng trăm năm, văn hóa của người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay vẫn được đồng bào gìn giữ và phát huy giá trị. Nhiều di sản vật thể, phi vật thể được khai thác, phát triển thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, đưa hình ảnh văn hóa Chăm nói riêng, tỉnh Khánh Hòa nói chung vươn xa trên bản đồ du lịch.

Bảo tồn thư tịch cổ của người Chăm loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Bảo tồn thư tịch cổ của người Chăm loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Thư tịch cổ của người Chăm ở Khánh Hòa là một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thư tịch không chỉ lưu giữ những tri thức về lịch sử,mà còn phản ánh quá trình sáng tạo, tiếp biến văn hóa tri thức độc đáo của đồng bào Chăm. Tuy nhiên, Thư tịch cổ cũng đang dần bị bào mòn theo thời gian.

Phát huy giá trị Di tích lịch sử sóc Bom Bo và các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Phát huy giá trị Di tích lịch sử sóc Bom Bo và các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Ngày 24/6, Lễ công bố Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử sóc Bom Bo và Quyết định đưa Tập quán giã gạo chày tay của người S’tiêng, người M’nông vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được tổ chức tại Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng sóc Bom Bo (xã Bom Bo).

Văn hóa Chăm: 'Mỏ vàng' còn nhiều dư địa khai mở

Văn hóa Chăm: 'Mỏ vàng' còn nhiều dư địa khai mở

Là những địa phương sở hữu kho tàng văn hóa Chăm độc đáo và phong phú, những năm qua Khánh Hòa và Lâm Đồng đã có nhiều giải pháp để thu hút các nguồn lực đầu tư, tạo giá trị gia tăng từ kho tàng văn hóa.

Xây dựng văn hóa, con người trở thành sức mạnh nội sinh

Xây dựng văn hóa, con người trở thành sức mạnh nội sinh

Sau hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình, tỉnh Phú Thọ hiện trở thành địa phương có không gian văn hóa rộng lớn, hội tụ nhiều giá trị đặc sắc của vùng đất cội nguồn dân tộc, văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và văn hóa miền núi Tây Bắc. 

Giữ hồn văn hóa Chăm từ những 'di sản sống'

Giữ hồn văn hóa Chăm từ những 'di sản sống'

Văn hóa Chăm là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa đa dạng của Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, hệ thống di sản văn hóa Chăm vẫn lưu giữ những giá trị độc đáo về lịch sử, kiến trúc, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng.

Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Hàng trăm năm qua, những mái chùa Phật giáo Nam tông vừa là điểm tựa tín ngưỡng, vừa là nơi lưu giữ di sản của đồng bào Khmer. Giờ đây, khi “guồng quay” du lịch chạm đến từng phum sóc, những không gian thiêng liêng ấy nhanh chóng trở thành điểm đến đầy sức hút.

Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Biến khó khăn thành lợi thế, Tây Yên Tử chuyển mình mạnh mẽ

Đồng bào dân tộc Dao ở xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh) sở hữu nhiều di sản văn hóa đặc sắc. Thời gian qua, cấp ủy, chính quyền địa phương đã triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Dao, nhất là việc gìn giữ tiếng nói, trang phục, nghề thêu, dân ca và các nghi lễ truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng... Đây cũng là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.