Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.
Thanh âm của bản sắc
Đối với đồng bào Thái, Keng Lóng không chỉ là một loại hình nghệ thuật dân gian mà còn gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng. Từ những vật liệu quen thuộc như tre, nứa, qua bàn tay khéo léo của người biểu diễn, Keng Lóng tạo nên những âm thanh rộn ràng, khi sâu lắng, thiết tha, hòa cùng những bước múa uyển chuyển của các thiếu nữ Thái.
Trong các dịp lễ hội, ngày vui của bản làng, lễ mừng cơm mới hay những buổi sinh hoạt cộng đồng, tiếng Keng Lóng luôn vang lên như lời mời gọi mọi người cùng quây quần, sẻ chia niềm vui và gắn kết tình làng nghĩa xóm. Mỗi nhịp gõ, mỗi động tác biểu diễn đều phản ánh cuộc sống lao động, sản xuất, tình yêu quê hương và khát vọng về cuộc sống bình yên, no ấm của đồng bào.
Theo các nghệ nhân, điệu múa Keng Lóng được hình thành từ chính cuộc sống lao động của người Thái. Những động tác mô phỏng cảnh thu hoạch lúa, đổ lúa vào máng gỗ, giã thóc thành gạo đã được cách điệu, trở thành loại hình nghệ thuật mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc.
Ông Vì Văn Bằng, xã Mai Hạ cho biết: “Nhà nước đã công nhận Keng Lóng của người Thái là di sản văn hóa phi vật thể. Điệu múa Keng Lóng bắt nguồn từ cuộc sống lao động của bà con. Sau khi đi gặt về, người dân cho lúa vào máng gỗ, lấy thóc rồi giã thành gạo. Từ những công việc quen thuộc ấy, cha ông đã sáng tạo nên điệu múa và lưu truyền cho đến ngày nay”.
Không chỉ xuất hiện trong các lễ hội hay sự kiện văn hóa, Keng Lóng từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống thường nhật của người Thái ở Mai Châu. Sau những giờ lao động, người dân lại tập trung tại nhà văn hóa hoặc sân bản để cùng luyện tập, biểu diễn, tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa đậm đà bản sắc. Đối với nhiều người dân nơi đây, Keng Lóng không đơn thuần là một tiết mục văn nghệ mà còn là ký ức tuổi thơ, là niềm tự hào về truyền thống của dân tộc mình.
Chị Lò Bích Phương, xã Mai Hạ chia sẻ: “Keng Lóng giúp người Thái giải tỏa cảm xúc sau những ngày lao động vất vả. Trong các dịp lễ, Tết hay những hoạt động văn hóa của bản làng, Keng Lóng luôn có mặt bởi đây là cầu nối gắn kết mọi người, cùng chia sẻ niềm vui và gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc”.
Trao truyền để di sản sống cùng cộng đồng
Trước sự phát triển của đời sống hiện đại, việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống đang đặt ra nhiều yêu cầu mới. Tại Mai Châu, cùng với sự quan tâm của chính quyền địa phương, nhiều câu lạc bộ Keng Lóng đã được thành lập và duy trì hoạt động thường xuyên. Các nghệ nhân cao tuổi trở thành những “người giữ lửa”, kiên trì truyền dạy từng nhịp gõ, từng động tác múa cho lớp trẻ.
Nhiều trường học, nhà văn hóa cộng đồng cũng lồng ghép việc giới thiệu, truyền dạy Keng Lóng vào các hoạt động ngoại khóa, tạo điều kiện để thanh thiếu niên hiểu hơn về giá trị của di sản văn hóa dân tộc mình. Nhờ đó, ngày càng có nhiều người trẻ tham gia luyện tập và biểu diễn, góp phần gìn giữ loại hình nghệ thuật truyền thống.
Song song với công tác bảo tồn, Keng Lóng còn được đưa vào các chương trình biểu diễn phục vụ khách du lịch. Những tiết mục mang đậm bản sắc dân tộc không chỉ góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa người Thái mà còn tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân thông qua phát triển du lịch cộng đồng.
Theo ông Khà Văn Diệp, Bí thư Chi bộ xóm Nhót, xã Mai Châu, địa phương xác định việc bảo tồn Keng Lóng không chỉ dừng lại ở gìn giữ một loại hình nghệ thuật dân gian mà còn hướng tới phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững. Thời gian tới, địa phương sẽ tiếp tục duy trì các đội văn nghệ quần chúng, khuyến khích thế hệ trẻ tham gia các câu lạc bộ Keng Lóng, tăng cường truyền dạy trong cộng đồng và đưa loại hình nghệ thuật này trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng phục vụ khách du lịch, góp phần quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc Thái.
Ông Khà Văn Diệp cho biết: “Keng Lóng vừa là điệu múa, vừa là nghệ thuật biểu diễn nhạc cụ dân gian của người Thái. Từ xa xưa, các cụ đã gìn giữ và thực hiện trong các dịp cầu mùa, mừng cơm mới, lễ, Tết. Đến nay, khi du lịch cộng đồng ngày càng phát triển, Keng Lóng trở thành cầu nối để giới thiệu văn hóa dân tộc Thái tới du khách trong và ngoài nước”.
Thực tế cho thấy, bảo tồn di sản không chỉ là lưu giữ những giá trị của quá khứ mà còn là tạo điều kiện để các giá trị ấy tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Khi được cộng đồng gìn giữ, thực hành thường xuyên và gắn với phát triển du lịch, Keng Lóng không chỉ được bảo tồn nguyên vẹn mà còn có thêm sức sống mới, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và tạo sinh kế cho người dân địa phương.
Không chỉ là một loại hình nghệ thuật dân gian, Keng Lóng còn là không gian văn hóa gắn với đời sống, phong tục và tập quán của đồng bào Thái. Việc tiếp tục trao truyền, thực hành và phát huy giá trị của Keng Lóng trong cộng đồng, gắn với phát triển du lịch sẽ góp phần để di sản này tiếp tục được lưu giữ, trở thành cầu nối đưa những giá trị văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng và các thế hệ mai sau./.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn