Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi vừa hoàn tất đợt khai quật khảo cổ khẩn cấp tại khu vực nội thành di tích Thành cổ Châu Sa (thuộc xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi). Kết quả đợt khai quật đã làm phát lộ quần thể công xưởng gốm quy mô lớn cùng dấu tích kiến trúc quan trọng, mở ra những tư liệu quý giá để “giải mã” diện mạo một giai đoạn lịch sử chuyển tiếp vốn ít được ghi chép.
Nhiều dấu tích quan trọng
Trước đó, vào tháng 4/2026, trong lúc đào hố trồng cây tại xóm Thành (thôn Phú Bình, xã Tịnh Khê), gia đình ông Nguyễn Kiên đã bất ngờ làm xuất lộ một di tích lò nung cổ có hình dáng bầu rượu hồ lô, kích thước dài khoảng 3,5m, rộng khoảng 1m. Nhận thấy tầm quan trọng của di chỉ công xưởng có nguy cơ bị xâm hại, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành khảo sát và đề xuất xin ý kiến khai quật khẩn cấp.
Đến ngày 10/6/2026, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 296/QĐ-SVHTTDL, cho phép Bảo tàng Tổng hợp tỉnh tiến hành khai quật khảo cổ khẩn cấp trên diện tích 100m2, gồm 2 hố ký hiệu H1 và H2 tại xóm Thành. Để phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu, cơ quan chức năng đã gia hạn thời gian triển khai khai quật tại thực địa từ ngày 9/7/2026 đến hết ngày 19/7/2026.
Lò nung mới được phát hiện tại vườn nhà ông Nguyễn Kiên, thôn Phú Bình, xã Tịnh Khê (Quảng Ngãi).
Theo Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, Phó Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi (chủ trì đợt khai quật), đợt nghiên cứu khẩn cấp lần này đạt được nhiều kết quả quan trọng, làm rõ hơn các nhận định từ đợt thăm dò năm 2022. Tại hiện trường, đoàn khảo cổ phát hiện thêm 3 lò nung ngói mới, nâng tổng số lò nung được phát hiện tại khu vực này lên 4 lò. Đặc biệt, bên cạnh loại tường lò dày (trên 20 cm) trước đây, đợt nghiên cứu này phát hiện thêm loại lò mới có tường rất mỏng (chỉ dày khoảng 4,2 cm) nhưng vẫn đảm bảo chức năng nung ngói.
Đoàn khảo cổ cũng phát hiện một bãi thải chứa nhiều ngói, sạn và than nằm xung quanh khu vực các lò nung - nơi người xưa dùng làm mặt bằng để phơi và chế tác sản phẩm. Những dấu tích này là minh chứng rõ nét khẳng định khu vực nội thành Châu Sa từng là một quần thể công xưởng, trung tâm sản xuất vật liệu ngói quy mô lớn phục vụ các công trình đền đài, cung điện. Các hiện vật và kết cấu lò nung tại đây có niên đại khoảng thế kỷ II - III sau Công nguyên, thuộc giai đoạn hậu Sa Huỳnh - tiền Chăm (thời kỳ hình thành các tiểu quốc).
Từng điểm tìm thấy hiện vật đều phải được ghi chép, đánh dấu cẩn thận.
“Đặc biệt, ngay điểm giữa của khu vực nội thành Châu Sa, chúng tôi phát hiện dấu tích của một công trình kiến trúc mới. Công trình này nằm ở vị trí trọng yếu, được nhận định có thể là nơi làm việc của một cơ quan quyền lực mang tính nhà nước thời bấy giờ”, Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi nhấn mạnh.
Song song với các dấu tích kiến trúc, hàng loạt cổ vật có giá trị cao từ gốm gia dụng, ngói lợp mái cho đến các vật dụng mang tính tôn giáo và giao thương cũng được tìm thấy. Đây là “chìa khóa” quan trọng giúp các nhà khoa học giải mã cấu trúc đô thị, đời sống sinh hoạt, kỹ nghệ sản xuất của cư dân cổ, làm rõ dòng chảy tiếp biến văn hóa của người Việt sau này.
Cần sớm bảo tồn, nâng cấp
Việc khai quật được thực hiện tỉ mỉ, cẩn thận.
Thành cổ Châu Sa được xây dựng trước thế kỷ X, là tòa thành đất duy nhất của người Chăm cổ còn tồn tại tương đối nguyên vẹn ở Việt Nam. Thành có quy mô lớn gồm hai vòng thành nội và thành ngoại, tựa vào các dãy núi tự nhiên và kết nối trực tiếp với mạng lưới giao thông đường thủy ra hai cửa biển Sa Kỳ và Đại Cổ Lũy. Di tích này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia vào năm 1994.
Nhằm bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản trước những phát hiện mới mang tính bước ngoặt, Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi kiến nghị các cơ quan chức năng cần sớm thực hiện quy hoạch riêng cho di tích Thành cổ Châu Sa, đồng thời lập hồ sơ đề nghị nâng cấp từ Di tích quốc gia lên Di tích Quốc gia đặc biệt.
Đối với quần thể lò nung vừa phát lộ, Tiến sĩ Khôi cho rằng ngành văn hóa cần phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức cuộc họp thẩm định trực tiếp tại hiện trường để đưa ra giải pháp bảo tồn tối ưu nhất ngay tại vị trí khảo cổ. Trong đó, cần triển khai đồng bộ các phương án gồm: Xây dựng hệ thống nhà mái che bảo vệ di tích trước tác động thời tiết; lắp đặt hệ thống tiêu thoát nước chống úng ngập; áp dụng kỹ thuật chuyên sâu để chống xuống cấp kết cấu nguyên bản của các lò.
Các chuyên gia lấy từng mẫu than sót lại.
“Đồng thời, cần thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất phù hợp cho cộng đồng cư dân xung quanh nhằm mở rộng phạm vi khai quật, kết hợp quy hoạch di dời các nghĩa địa ra khỏi khu vực Thành Nội”, Tiến sĩ Khôi nhấn mạnh.
Là người gắn bó cả đời với mảnh đất xóm Thành, ông Hồ Duy Cư (73 tuổi, người dân địa phương) chia sẻ, người dân trong xóm rất tự hào khi biết nơi mình sinh sống lưu giữ những giá trị lịch sử vô giá của cha ông. Do đó, khi các cơ quan chức năng triển khai khảo cổ và đề xuất các phương án bảo tồn, quy hoạch mở rộng, bà con đều đồng tình, sẵn sàng tạo điều kiện phối hợp với chính quyền để sớm đưa khu di tích vào bảo vệ bền vững.
Đại diện đoàn khảo cổ cho biết, sau khi hoàn tất công tác thực địa, toàn bộ di vật, cổ vật thu được sẽ được đăng ký kiểm kê, bảo quản chuyên sâu và lưu giữ tạm thời tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi để lên phương án trưng bày, phục vụ công chúng trong thời gian tới./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn