Giữ hồn tiếng sáo Bru Vân Kiều giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn, tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (xã Trường Sơn, Quảng Trị) vẫn ngân vang qua nhiều thế hệ như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, sự bền bỉ của các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

sao9-150726jpg1.jpg
Già làng Hồ Ai ở bản Khe Cát, xã Trường Sơn (Quảng Trị) là người lưu giữ, biểu diễn thành thạo các loại nhạc cụ sáo của đồng bào Bru Vân Kiều.

Người giữ hồn tiếng sáo

Bên dòng suối ở bản Khe Cát, xã Trường Sơn (Quảng Trị), tiếng sáo của già làng Hồ Ai cất lên trong trẻo, hòa quyện cùng trường ca Sa Nớt - sử thi của người Bru Vân Kiều. Giữa không gian đại ngàn, những thanh âm mộc mạc ấy không chỉ phản ánh đời sống văn hóa đặc sắc mà còn chứa đựng niềm tin tâm linh đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Đối với đồng bào Bru Vân Kiều, tiếng sáo không đơn thuần là nhạc cụ. Họ quan niệm, chỉ khi tiếng sáo cất lên, những lời cầu nguyện của con người mới đến được với thần linh. Vì vậy, tiếng sáo hiện diện trong nhiều nghi lễ, lễ hội, đồng thời là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng.

Từ những cây tre, nứa của núi rừng Trường Sơn, người Bru Vân Kiều chế tác nên nhiều loại sáo mang công năng khác nhau. Sáo Khui cùng trường ca Sa Nớt thường được sử dụng trong đời sống thường nhật, còn sáo Pi, sáo Sui lại gắn với các nghi lễ cúng tế thiêng liêng.

Nhiều năm qua, già làng Hồ Ai vẫn lặng lẽ gìn giữ những giá trị ấy. Không chỉ biểu diễn thành thạo, ông còn dành nhiều thời gian đến từng gia đình vận động thanh thiếu niên học thổi sáo, hát trường ca và tìm hiểu phong tục của dân tộc mình.

Già làng Hồ Ai chia sẻ, điều ông luôn đau đáu là nếu lớp trẻ không biết, không hiểu, những gì cha ông để lại dần biến mất. Vì vậy, ông luôn sẵn sàng truyền dạy cho bất cứ ai muốn học, từ cách chọn tre, chế tác nhạc cụ đến kỹ thuật thổi sáo. Đây là món quà của ông bà, cha mẹ để lại. Con cháu phải hiểu, học cho bằng được để giữ gìn.

Thế hệ trẻ chăm chú lắng nghe âm thanh trong trẻo của tiếng sáo Pi được thổi hồn từ già làng Hồ Ai.

Thế hệ trẻ chăm chú lắng nghe âm thanh trong trẻo của tiếng sáo Pi được thổi hồn từ già làng Hồ Ai.

Những nỗ lực của người nghệ nhân đã truyền cảm hứng cho nhiều người dân trong bản. Anh Trần Văn Dự, ở bản Khe Cát, xã Trường Sơn cho biết, từ nhỏ anh đã lớn lên cùng tiếng sáo của các nghệ nhân. Hiện nay, khi nhiều người đã cao tuổi, việc truyền dạy cho lớp trẻ càng trở nên cấp thiết để những nét đẹp văn hóa của đồng bào Bru Vân Kiều không bị mai một.

Cùng tham gia học và truyền dạy, nghệ nhân Hồ Đài cho rằng, tiếng sáo là di sản quý giá của cha ông. Việc già làng Hồ Ai kiên trì truyền lại cho con cháu không chỉ giúp bảo tồn một nhạc cụ truyền thống mà còn gìn giữ kho tàng tri thức dân gian của người Bru Vân Kiều.

Theo ông Hoàng Trọng Đức, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn, địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa của đồng bào Bru Vân Kiều. Chính quyền địa phương đang nghiên cứu mở thêm các lớp truyền dạy tiếng sáo và các loại hình văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ, đồng thời khai thác những giá trị này để xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng.

Đưa tiếng sáo sống trong đời sống đương đại

Theo ông Mai Xuân Thành, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, việc đồng bào Bru Vân Kiều lưu truyền tiếng sáo từ thế hệ này sang thế hệ khác là cách bảo tồn tự nhiên, bền vững nhất đối với di sản.

Nhiều năm qua, đồng bào Bru Vân Kiều đã gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Không chỉ bảo tồn kỹ năng chế tác, biểu diễn, người dân còn lan tỏa tiếng sáo thông qua các Câu lạc bộ văn hóa dân gian tại các bản làng. Chính từ những sinh hoạt cộng đồng ấy, tiếng sáo được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, giúp loại hình nghệ thuật truyền thống tiếp tục hiện diện trong đời sống.

sao4-150726jpg1.jpg
Già làng Hồ Ai dạy sáo cho thế hệ trẻ.

Để việc bảo tồn có chiều sâu hơn, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị đang phối hợp các địa phương tổ chức nhiều lớp tập huấn, xây dựng, duy trì các câu lạc bộ văn hóa dân gian tại cơ sở. Thông qua các câu lạc bộ này, tiếng sáo cùng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Bru Vân Kiều được đưa vào chương trình sinh hoạt thường xuyên để chính cộng đồng truyền dạy cho nhau. Bên cạnh đó, ngành cũng triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, động viên người dân nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình.

Một trong những giải pháp quan trọng tỉnh triển khai là tôn vinh người đang nắm giữ di sản. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình cấp có thẩm quyền xem xét phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú đối với già làng Hồ Ai - người nhiều năm lưu giữ và truyền dạy nghệ thuật trình diễn tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều.

Thời gian tới, không chỉ bảo tồn, Quảng Trị còn hướng tới đưa di sản văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Trong đó, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị sẽ hỗ trợ đồng bào chế tác và trang cấp một số nhạc cụ truyền thống; xây dựng các kênh kết nối giữa nghệ nhân với doanh nghiệp, khách du lịch để du khách có điều kiện trải nghiệm đời sống văn hóa ngay tại các bản làng.

"Bên cạnh việc bảo tồn, chúng tôi sẽ hỗ trợ đồng bào đưa các sản phẩm truyền thống như nhạc cụ, trang phục, sản phẩm nông nghiệp trở thành hàng hóa phục vụ du lịch. Khi du khách đến với bản làng, người dân vừa có thêm thu nhập, vừa có thêm động lực để gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc mình", ông Mai Xuân Thành cho biết.

Theo lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, mục tiêu của địa phương không chỉ là giữ lại một nhạc cụ truyền thống mà còn tạo không gian để tiếng sáo tiếp tục sống trong đời sống đương đại, trở thành điểm nhấn trong phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa.

Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng sáo của người Bru Vân Kiều vẫn vang vọng giữa đại ngàn Trường Sơn như lời nhắc về cội nguồn. Sự tận tâm của các nghệ nhân, sự chung tay của cộng đồng cùng những chính sách bảo tồn của địa phương đang góp phần gìn giữ một di sản văn hóa độc đáo, để tiếng sáo không chỉ ngân vang trong ký ức mà tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển của bản làng hôm nay và mai sau./.

Dân tộc Bru-Vân Kiều

Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi

Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều.

Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.

Dân số: 74.506 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.

Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.

Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.

Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việtngười Lào.

Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.

Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.

: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.

Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...

Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.

Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.

Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.

Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.

Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.

Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...

Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.

Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.

Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.

Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Bru-Vân Kiều

Có thể bạn quan tâm

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Giữ hồn tiếng sáo giữa đại ngàn Trường Sơn

Tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (bản xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị) ngân vang giữa đại ngàn Trường Sơn như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer

Lễ dâng nến và dâng bông là các nghi thức tâm linh đặc sắc trong văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer. Lễ thường diễn ra vào dịp Lễ Nhập hạ (tháng 6 - tháng 9 âm lịch) hoặc Lễ dâng y Kathina (tháng 9 - tháng 10 âm lịch), các nghi lễ này cầu mong bình an, mưa thuận gió hòa và phum sóc yên ấm. 

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Điểm hẹn văn hóa đêm ở xứ Lạng

Tối 11/7, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lạng Sơn tổ chức khai trương không gian văn hóa đêm tại đường Hùng Vương, phường Lương Văn Tri.

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tạo nền tảng để chuyển 'tài nguyên' thành 'nguồn lực' phát triển mới

Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Ngoại giao văn hóa mở thêm không gian hợp tác quốc tế

Không chỉ là cầu nối đưa những giá trị văn hóa cội nguồn đến với bạn bè quốc tế, ngoại giao văn hóa đang được Phú Thọ kỳ vọng trở thành động lực thúc đẩy du lịch, thu hút đầu tư và mở rộng hợp tác. Với định hướng xây dựng chuỗi hoạt động mang dấu ấn riêng, địa phương đang từng bước biến bản sắc văn hóa thành lợi thế trong quá trình hội nhập.

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trao truyền và gắn kết nghệ thuật Keng Lóng của đồng bào dân tộc Thái

Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang đứng trước nguy cơ mai một. Tuy nhiên, tại các bản làng của người Thái ở xã Mai Châu và xã Mai Hạ, tỉnh Phú Thọ, nghệ thuật Keng Lóng vẫn được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa và làm phong phú đời sống tinh thần của cộng đồng.

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Giữ sắc đỏ Pà Thẻn trong dòng chảy mới

Sắc đỏ trên trang phục truyền thống của phụ nữ Pà Thẻn ở xã Tân Trịnh (tỉnh Tuyên Quang) hiện diện bền bỉ trong đời sống thường ngày, lễ hội, đám cưới hỏi và cả những buổi truyền dạy nghề thêu, dệt giữa các thế hệ. Từng đường kim, mũi chỉ, hoa văn không chỉ tạo vẻ đẹp độc đáo, riêng có cho bộ trang phục mà còn góp phần lưu giữ ký ức văn hóa, tín ngưỡng và tri thức dân gian của đồng bào.

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Văn hoá soi đường: Đặc sắc lễ hội đình Chèm

Lễ hội đình Chèm tại phường Đông Ngạc (thành phố Hà Nội) diễn ra từ ngày 28 đến 30/6/2026 (tức 14 - 16/5 âm lịch), là một trong những lễ hội truyền thống tiêu biểu của vùng Đồng bằng sông Hồng và đã được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2016.

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Rà soát nhu cầu đầu tư giai đoạn mới các Chương trình mục tiêu quốc gia

Trong 6 tháng đầu năm 2026, cùng với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội sau hợp nhất địa giới hành chính, tỉnh Phú Thọ tiếp tục dành sự quan tâm đối với công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo; coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trên địa bàn.

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Hơn 260 vận động viên tranh tài đầy kịch tính, sôi nổi

Trong khuôn khổ Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI tại tỉnh Khánh Hòa, các hoạt động thi đấu thể thao truyền thống và trò chơi dân gian đã thu hút sự tham gia tranh tài của hơn 260 vận động viên đến từ 7 tỉnh, thành phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống. Các cuộc thi đấu diễn ra kịch tính, sôi nổi tại Trung tâm Dịch vụ thi đấu thể thao tỉnh Khánh Hòa (phường Bảo An), thu hút hàng ngàn lượt khán giả đến xem và cổ vũ.

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Khánh Hòa giới thiệu Ngày hội văn hóa Chăm

Diễn ra trong 3 ngày với sự tham gia đại diện của đồng bào Chăm từ 7 tỉnh, thành phố, Ngày hội văn hóa Chăm tại Khánh Hòa không chỉ là không gian trình diễn những giá trị di sản truyền thống đặc sắc, mà còn là nhịp cầu kết nối, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Đường Hạnh Phúc - bản hùng ca tuổi trẻ nơi cực Bắc

Hơn sáu thập kỷ sau ngày hoàn thành, đường Hạnh Phúc đã trở thành biểu tượng của ý chí, tinh thần cống hiến và khát vọng dựng xây của một thế hệ thanh niên Việt Nam. Từ một tuyến giao thông mở lối cho vùng Cao nguyên đá Đồng Văn, con đường hôm nay là di sản lịch sử của nơi địa đầu Tổ quốc. Hiếm có công trình giao thông nào mà trên từng mét đường đều in đậm dấu chân, mồ hôi và cả máu của hàng nghìn thanh niên xung phong như đường Hạnh Phúc.

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Tái hiện nghi thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc Chăm

Những nghi lễ tín ngưỡng, lễ hội và phong tục truyền thống đặc sắc của đồng bào Chăm được tái hiện sinh động tại Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI. Sự kiện góp phần tôn vinh, lan tỏa và gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng Chăm.

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Rộn ràng Lễ hội đánh cá Vực - Rào ở Hà Tĩnh

Sáng 27/6, tại Đầm Vực, thôn Nam Viên (xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), UBND xã Nghi Xuân tổ chức Lễ hội đánh cá Vực - Rào năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa truyền thống được địa phương duy trì nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa dân gian gắn với đời sống cộng đồng. Lễ hội thu hút đông đảo người dân địa phương và du khách tham gia trải nghiệm.

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tôn vinh các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm

Tối 26/6, tại Khánh Hòa, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng tỉnh Khánh Hòa tổ chức đã chính thức diễn ra. Ngày hội quy tụ hàng trăm nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên quần chúng và đông đảo đồng bào Chăm đến từ 7 tỉnh, thành: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh cùng tham gia.

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Khoác 'áo số' cho di sản nghìn năm Tháp Bà Pô Nagar

Hướng tới Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026, ngành Văn hóa tỉnh Khánh Hòa đã chủ động triển khai tích hợp mã QR cùng nền tảng trải nghiệm số tại Khu di tích Tháp Bà Pô Nagar.

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Khám phá nét văn hóa đặc sắc của người Chăm

Với bề dày hàng trăm năm, văn hóa của người Chăm tại tỉnh Khánh Hòa hiện nay vẫn được đồng bào gìn giữ và phát huy giá trị. Nhiều di sản vật thể, phi vật thể được khai thác, phát triển thành những sản phẩm du lịch đặc sắc, đưa hình ảnh văn hóa Chăm nói riêng, tỉnh Khánh Hòa nói chung vươn xa trên bản đồ du lịch.

Bảo tồn thư tịch cổ của người Chăm loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Bảo tồn thư tịch cổ của người Chăm loại hình tư liệu đặc biệt quý hiếm

Thư tịch cổ của người Chăm ở Khánh Hòa là một bộ phận quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam. Thư tịch không chỉ lưu giữ những tri thức về lịch sử,mà còn phản ánh quá trình sáng tạo, tiếp biến văn hóa tri thức độc đáo của đồng bào Chăm. Tuy nhiên, Thư tịch cổ cũng đang dần bị bào mòn theo thời gian.

Phát huy giá trị Di tích lịch sử sóc Bom Bo và các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Phát huy giá trị Di tích lịch sử sóc Bom Bo và các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Ngày 24/6, Lễ công bố Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đối với Di tích lịch sử sóc Bom Bo và Quyết định đưa Tập quán giã gạo chày tay của người S’tiêng, người M’nông vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia được tổ chức tại Khu bảo tồn văn hóa dân tộc S’tiêng sóc Bom Bo (xã Bom Bo).