Giữa đại ngàn Trường Sơn, tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều (xã Trường Sơn, Quảng Trị) vẫn ngân vang qua nhiều thế hệ như nhịp cầu kết nối con người với cội nguồn, núi rừng và đời sống tâm linh. Trong dòng chảy của cuộc sống hiện đại, sự bền bỉ của các nghệ nhân cùng những giải pháp bảo tồn của địa phương đang góp phần giữ gìn di sản quý, đồng thời mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng gắn với bản sắc văn hóa.
Người giữ hồn tiếng sáo
Bên dòng suối ở bản Khe Cát, xã Trường Sơn (Quảng Trị), tiếng sáo của già làng Hồ Ai cất lên trong trẻo, hòa quyện cùng trường ca Sa Nớt - sử thi của người Bru Vân Kiều. Giữa không gian đại ngàn, những thanh âm mộc mạc ấy không chỉ phản ánh đời sống văn hóa đặc sắc mà còn chứa đựng niềm tin tâm linh đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Đối với đồng bào Bru Vân Kiều, tiếng sáo không đơn thuần là nhạc cụ. Họ quan niệm, chỉ khi tiếng sáo cất lên, những lời cầu nguyện của con người mới đến được với thần linh. Vì vậy, tiếng sáo hiện diện trong nhiều nghi lễ, lễ hội, đồng thời là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng.
Từ những cây tre, nứa của núi rừng Trường Sơn, người Bru Vân Kiều chế tác nên nhiều loại sáo mang công năng khác nhau. Sáo Khui cùng trường ca Sa Nớt thường được sử dụng trong đời sống thường nhật, còn sáo Pi, sáo Sui lại gắn với các nghi lễ cúng tế thiêng liêng.
Nhiều năm qua, già làng Hồ Ai vẫn lặng lẽ gìn giữ những giá trị ấy. Không chỉ biểu diễn thành thạo, ông còn dành nhiều thời gian đến từng gia đình vận động thanh thiếu niên học thổi sáo, hát trường ca và tìm hiểu phong tục của dân tộc mình.
Già làng Hồ Ai chia sẻ, điều ông luôn đau đáu là nếu lớp trẻ không biết, không hiểu, những gì cha ông để lại dần biến mất. Vì vậy, ông luôn sẵn sàng truyền dạy cho bất cứ ai muốn học, từ cách chọn tre, chế tác nhạc cụ đến kỹ thuật thổi sáo. Đây là món quà của ông bà, cha mẹ để lại. Con cháu phải hiểu, học cho bằng được để giữ gìn.
Thế hệ trẻ chăm chú lắng nghe âm thanh trong trẻo của tiếng sáo Pi được thổi hồn từ già làng Hồ Ai.
Những nỗ lực của người nghệ nhân đã truyền cảm hứng cho nhiều người dân trong bản. Anh Trần Văn Dự, ở bản Khe Cát, xã Trường Sơn cho biết, từ nhỏ anh đã lớn lên cùng tiếng sáo của các nghệ nhân. Hiện nay, khi nhiều người đã cao tuổi, việc truyền dạy cho lớp trẻ càng trở nên cấp thiết để những nét đẹp văn hóa của đồng bào Bru Vân Kiều không bị mai một.
Cùng tham gia học và truyền dạy, nghệ nhân Hồ Đài cho rằng, tiếng sáo là di sản quý giá của cha ông. Việc già làng Hồ Ai kiên trì truyền lại cho con cháu không chỉ giúp bảo tồn một nhạc cụ truyền thống mà còn gìn giữ kho tàng tri thức dân gian của người Bru Vân Kiều.
Theo ông Hoàng Trọng Đức, Phó Chủ tịch UBND xã Trường Sơn, địa phương có nhiều tiềm năng phát triển du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa của đồng bào Bru Vân Kiều. Chính quyền địa phương đang nghiên cứu mở thêm các lớp truyền dạy tiếng sáo và các loại hình văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ, đồng thời khai thác những giá trị này để xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng.
Đưa tiếng sáo sống trong đời sống đương đại
Theo ông Mai Xuân Thành, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, việc đồng bào Bru Vân Kiều lưu truyền tiếng sáo từ thế hệ này sang thế hệ khác là cách bảo tồn tự nhiên, bền vững nhất đối với di sản.
Nhiều năm qua, đồng bào Bru Vân Kiều đã gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Không chỉ bảo tồn kỹ năng chế tác, biểu diễn, người dân còn lan tỏa tiếng sáo thông qua các Câu lạc bộ văn hóa dân gian tại các bản làng. Chính từ những sinh hoạt cộng đồng ấy, tiếng sáo được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, giúp loại hình nghệ thuật truyền thống tiếp tục hiện diện trong đời sống.
Để việc bảo tồn có chiều sâu hơn, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị đang phối hợp các địa phương tổ chức nhiều lớp tập huấn, xây dựng, duy trì các câu lạc bộ văn hóa dân gian tại cơ sở. Thông qua các câu lạc bộ này, tiếng sáo cùng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Bru Vân Kiều được đưa vào chương trình sinh hoạt thường xuyên để chính cộng đồng truyền dạy cho nhau. Bên cạnh đó, ngành cũng triển khai nhiều chính sách hỗ trợ, động viên người dân nâng cao ý thức gìn giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Một trong những giải pháp quan trọng tỉnh triển khai là tôn vinh người đang nắm giữ di sản. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hoàn thiện hồ sơ gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình cấp có thẩm quyền xem xét phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú đối với già làng Hồ Ai - người nhiều năm lưu giữ và truyền dạy nghệ thuật trình diễn tiếng sáo của đồng bào Bru Vân Kiều.
Thời gian tới, không chỉ bảo tồn, Quảng Trị còn hướng tới đưa di sản văn hóa trở thành nguồn lực phát triển kinh tế. Trong đó, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị sẽ hỗ trợ đồng bào chế tác và trang cấp một số nhạc cụ truyền thống; xây dựng các kênh kết nối giữa nghệ nhân với doanh nghiệp, khách du lịch để du khách có điều kiện trải nghiệm đời sống văn hóa ngay tại các bản làng.
"Bên cạnh việc bảo tồn, chúng tôi sẽ hỗ trợ đồng bào đưa các sản phẩm truyền thống như nhạc cụ, trang phục, sản phẩm nông nghiệp trở thành hàng hóa phục vụ du lịch. Khi du khách đến với bản làng, người dân vừa có thêm thu nhập, vừa có thêm động lực để gìn giữ những giá trị văn hóa của dân tộc mình", ông Mai Xuân Thành cho biết.
Theo lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, mục tiêu của địa phương không chỉ là giữ lại một nhạc cụ truyền thống mà còn tạo không gian để tiếng sáo tiếp tục sống trong đời sống đương đại, trở thành điểm nhấn trong phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa.
Giữa nhịp sống hiện đại, tiếng sáo của người Bru Vân Kiều vẫn vang vọng giữa đại ngàn Trường Sơn như lời nhắc về cội nguồn. Sự tận tâm của các nghệ nhân, sự chung tay của cộng đồng cùng những chính sách bảo tồn của địa phương đang góp phần gìn giữ một di sản văn hóa độc đáo, để tiếng sáo không chỉ ngân vang trong ký ức mà tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển của bản làng hôm nay và mai sau./.
Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi
Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều.
Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong.
Dân số: 74.506 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.
Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.
Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.
Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.
Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.
Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.
Ở: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.
Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.
Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v...
Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.
Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng.
Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.
Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.
Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.
Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...
Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.
Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.
Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.
Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...
Theo cema.gov.vn