Tỉnh Khánh Hòa tích cực triển khai số hóa, xây dựng “chủ quyền văn hóa số” nhằm khơi dậy nguồn lực văn hóa Chăm, mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nền tảng cho văn hóa di sản chuyển mình từ “tài nguyên” thành “nguồn lực”, từ “tiềm năng” thành “sản phẩm văn hóa đặc sắc”. Việc này sẽ đóng góp trực tiếp vào sinh kế và tăng trưởng bền vững của tỉnh theo đúng tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Di sản hòa quyện cùng nhịp sống
Di sản văn hóa là nguồn lực cốt lõi để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Trong dòng chảy lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam, văn hóa Chăm giữ một vị trí đặc thù với những giá trị nghệ thuật, tôn giáo và kiến trúc độc đáo. Hiện nay, dân tộc Chăm sinh sống tập trung nhiều ở các tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng và An Giang. Dấu ấn văn hóa Chăm thể hiện rõ nét trong kiến trúc, điêu khắc, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng, tôn giáo, tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, nghệ thuật, hoa văn, làng nghề…
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh, Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa cho biết, văn hóa Chăm là một dòng chảy liên tục, đa sắc và vô cùng độc đáo. Từ mạng lưới các di tích vật thể quốc gia đặc biệt như tháp Ponagar, tháp Po Klong Garai, tháp Hòa Lai đến các di sản được UNESCO ghi danh như Nghệ thuật làm gốm của người Chăm. Văn hóa Chăm đang ẩn chứa trong mình những trầm tích lịch sử sâu dày. Sự đa dạng nội tại của cộng đồng người Chăm với hệ thống lễ hội truyền thống phong phú như Katê, Ramưwan, các làn điệu dân ca, dân vũ hòa quyện cùng âm thanh của trống Ginăng, trống Paranưng, kèn Saranai..., đã tạo nên một hệ sinh thái nhân văn vô cùng quyến rũ. Các tháp Chăm đều ẩn chứa trong mình những giá trị riêng biệt. Điển hình như tháp Bà Ponagar, đây không chỉ là một công trình kiến trúc gạch nung kỳ vĩ, mà còn là biểu tượng sinh động cho sự giao thoa, hòa hợp văn hóa sâu sắc giữa người Chăm và người Việt trong lịch sử. Đó là một không gian thiêng, một di sản sống đúng nghĩa khi vẫn đang là trung tâm thực hành tín ngưỡng hằng ngày của người dân. Sự đa dạng, chiều sâu tâm linh và tính nguyên bản ấy là chất liệu thượng hạng để xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa độc bản. Du khách trong và ngoài nước tìm đến với di sản Chăm là tìm đến với sự chân thực của trải nghiệm. Tài nguyên di sản Chăm vô cùng dồi dào, nhưng khai thác thế nào để không làm tổn thương đến bản sắc là câu chuyện cần sự cẩn trọng của khoa học.
Nhiều di sản văn hóa Chăm được số hóa phục vụ du khách tra cứu, tìm hiểu.
Tiến sĩ Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nêu rõ, di sản văn hóa Chăm không chỉ là tài sản quý giá của cộng đồng người Chăm mà còn là một phần không thể tách rời của nền văn hóa Việt Nam đa sắc màu. Đây cũng là nguồn lực đặc biệt quan trọng để phát triển du lịch văn hóa, du lịch trải nghiệm và du lịch sinh thái cộng đồng. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc. Nhiều dự án trùng tu Tháp Chăm, phục dựng lễ hội, truyền dạy nghề truyền thống được triển khai hiệu quả. Hoạt động du lịch gắn với di sản văn hóa Chăm cũng ngày càng được quan tâm, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Nhưng thực tiễn cũng cho thấy, tiềm năng từ văn hóa Chăm vẫn chưa được khai thác xứng tầm, nhiều di sản đứng trước nguy cơ xuống cấp, thiếu nguồn lực bảo tồn. Một số giá trị văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một. Sản phẩm du lịch còn đơn điệu, liên kết giữa các địa phương có di sản văn hóa Chăm còn chưa mạnh, sự tham gia của cộng đồng chưa thật sự bền vững.
Để phát huy giá trị di sản trở thành nguồn lực quan trọng, bền vững cần kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Trọng tâm là chuyển hóa di sản thành các sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa và du lịch. Để làm được điều đó, rất cần sự chung tay của cộng đồng, nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp và chính quyền địa phương.
Tạo xung lực phát triển trên môi trường số
Việc phát huy giá trị di sản văn hóa Chăm gắn với phát triển du lịch không chỉ là tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống, mà còn khẳng định giá trị văn hóa của cộng đồng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Quốc Anh Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân tộc và Tôn giáo, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Khánh Hòa chia sẻ, trước nhu cầu phát triển càng càng mạnh của du lịch văn hóa, việc làm cho di sản sống động trở lại, mang tính hữu dụng là rất cần thiết. Khi văn hóa được bảo tồn đúng bản chất và phát huy một cách sáng tạo sẽ trở thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, phát triển ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội theo đúng tầm nhìn của Đại hội XIV của Đảng.
Tượng thờ Vua Po Klaong Girai được sử dụng mã QR Code để quét tra cứu.
Thạc sĩ Hoàng Thị Bích Hạnh, Thường trực Trung tâm Hỗ trợ chuyển đổi số báo chí, Phó Giám đốc Trung tâm Lưu chiểu dữ liệu truyền thông số quốc gia (Cục Báo chí, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi phương diện của đời sống xã hội, phương thức truyền thông di sản cũng đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, dịch chuyển từ truyền thông một chiều sang đa chiều dựa trên dữ liệu, tương tác và cá nhân hóa. Đối với văn hóa dân tộc Chăm - một kho tàng di sản đồ sộ với hệ thống tháp cổ, điêu khắc, bia ký, nghi lễ và các làng nghề truyền thống..., việc chuyển đổi này không chỉ đơn thuần là quảng bá hình ảnh mà còn mang ý nghĩa sống còn trong việc bảo tồn đúng bản chất, phát huy đúng chiều giá trị của di sản trong đời sống xã hội ngày nay. Trong kỷ nguyên số, du lịch không còn vận hành theo mô hình “quảng bá - thu hút” đơn thuần, mà đang chuyển dịch sang mô hình “trải nghiệm - hiểu biết - tương tác - bền vững”. Đây chính là thực tiễn, là yêu cầu mà du lịch văn hóa cần phải đáp ứng. Do đó, Khánh Hòa cần xây dựng “Kho tri thức di sản Chăm” (Tài nguyên di sản văn hóa Chăm) bằng cách phân nhóm đối tượng, chuẩn hóa dữ liệu 5 lớp, số hóa 3D. Đây là nền tảng để biến di sản thành tài nguyên số có thể tái sử dụng lâu dài. Cần thiết kế trải nghiệm “Học tập thông qua du lịch” theo hành trình người dùng, thực hiện đa phương thức tiếp cận bản đồ di sản số…, cho phép người dùng khám phá, tương tác và di chuyển tron không gian thực được số hóa hoặc không gian mô phỏng 3D; kết nối dữ liệu với vận hành du lịch bền vững.
Ông Lê Văn Hoa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa thông tin, Sở đang đẩy mạnh việc số hóa các di sản văn hóa ở tỉnh thông qua phối hợp với Trung tâm Lưu chiểu dữ liệu truyền thông số quốc gia, triển khai tích hợp giải pháp số, hoàn thiện nền tảng số về di sản văn hóa Chăm. Sở đã ra mắt “Nền tảng số về di sản văn hóa Chăm tại Khánh Hòa”; xây dựng cổng thông tin: http://vanhoacham.khanhhoa.gov.vn/, nhằm phục vụ du khách trong nước và quốc tế tra cứu điểm đến, di tích, sự kiện, nội dung di sản. Đặc biệt, 5 địa điểm di tích và bảo tàng liên quan đến di sản văn hoá Chăm được lựa chọn để số hóa hiện vật 3D không gian bảo tàng Khánh Hòa, số hóa hiện vật và tài liệu liên quan tại các tháp ở tỉnh.
Việc chuyển đổi phương thức truyền thông bằng dữ liệu hóa là hướng đi tất yếu để di sản văn hóa Chăm được lưu giữ khoa học, kể lại thuyết phục và trải nghiệm sống động, giúp văn hóa không chỉ được bảo tồn trong bảo tàng mà còn thực sự lan tỏa, đóng góp vào sự phát triển du lịch, giáo dục và kinh tế của Khánh Hòa./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn