Khám phá miền nón lá hai mê - hành trình từ bản làng đến phát triển du lịch

Sáng sớm ở Xuân Giang, khi làn sương còn bảng lảng trên những triền đồi, tiếng chẻ giang, tiếng lạt va khẽ vào nhau đã vang lên trong những nếp nhà sàn. Không ồn ào, không vội vã, những âm thanh ấy như nhịp điệu quen thuộc của bản làng, gợi nhắc một nghề đã bền bỉ tồn tại qua nhiều thế hệ.

Những vòng đan giữ ký ức bản làng

non-la-xuan-giang-2.jpg
Nghệ nhân người Tày ở xã Xuân Giang tỉ mỉ đan mê nón tạo nên dáng và độ bền cho chiếc nón lá hai mê. Ảnh: TTXVN phát

Người phụ nữ Tày ngồi bên hiên, đôi tay thoăn thoắt đan từng sợi lạt mảnh. Những vòng đan cứ thế nối nhau, từ đỉnh nón lan dần xuống vành, đều đặn, chắc chắn. Nhìn họ làm nón, người ta có cảm giác như đang chứng kiến một câu chuyện được kể bằng đôi tay - chậm rãi, kiên nhẫn và đầy yêu thương.

Nón lá hai mê của Xuân Giang không chỉ là vật dụng che mưa, che nắng. Đó là kết tinh của tri thức bản địa, của kinh nghiệm sống được chắt lọc qua năm tháng. Mỗi chiếc nón là một hành trình, bắt đầu từ rừng - nơi có những cây giang dẻo dai, những tàu lá cọ xanh mướt rồi trở về trong căn bếp, dưới bàn tay người thợ, để trở thành một sản phẩm vừa mộc mạc vừa tinh tế.

Nguyên liệu làm nón tưởng chừng đơn giản, nhưng lại đòi hỏi sự chọn lựa kỹ lưỡng. Lá cọ phải là loại “bánh tẻ”, không già quá để tránh giòn, cũng không non quá để không bị mềm, dễ hỏng. Lá được hơ qua lửa, phơi sương, phơi nắng đến khi chuyển sang màu trắng ngà. Giang phải là loại giang rừng, dẻo, bền, được chẻ thành những sợi lạt mỏng, đều như sợi chỉ.

Điểm đặc biệt làm nên tên gọi “hai mê” chính là cấu trúc hai lớp đan riêng biệt. Người thợ đan từng lớp mê bằng kỹ thuật mắt lục giác, từ đỉnh nón xuống, đòi hỏi sự chính xác gần như tuyệt đối. Khi hai lớp mê hoàn thiện, chúng được ghép lại, ở giữa là lớp lá cọ đã xử lý. Chính cấu trúc này giúp chiếc nón vừa nhẹ, vừa bền, có thể chống chọi với nắng gắt, mưa rừng.

Nhưng giá trị của chiếc nón không chỉ nằm ở kỹ thuật. Trong đời sống người Tày, nón hai mê từng là thước đo sự khéo léo của người con gái. Trước khi về nhà chồng, cô gái phải tự tay đan một chiếc nón đẹp nhất, chắc nhất. Chiếc nón vì thế không chỉ là vật dụng, mà còn là lời gửi gắm về sự đảm đang, về tình yêu lao động.

Nghệ nhân Hoàng Văn Bính, người đã gắn bó với nghề hàng chục năm, chậm rãi nói: “Đan nón không khó, nhưng để đẹp thì phải đều tay. Mỗi mắt đan phải khít, mỗi vòng phải chắc. Làm nón cũng như làm người, phải cẩn thận từ những điều nhỏ nhất”.

Những lời nói mộc mạc ấy như gói trọn tinh thần của nghề - bền bỉ, kiên trì và đầy tự trọng. Với người dân Xuân Giang, làm nón không chỉ là một công việc, mà là cách giữ gìn ký ức, giữ lại những gì thuộc về mình.

Năm 2023, nghề làm nón lá hai mê được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hành trình gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống. Nhưng với người dân nơi đây, danh hiệu ấy không làm thay đổi cách họ làm nghề. Họ vẫn đan nón như cách cha ông đã làm tỉ mỉ, cần mẫn, và đầy trân trọng.

Trong một lần về thăm, trò chuyện với bà con làm nón lá hai mê, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Vương Ngọc Hà ghi nhận sự tâm huyết của người dân trong việc gìn giữ nghề truyền thống, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu gắn bảo tồn với phát triển du lịch. Phó Chủ tịch đề nghị địa phương tiếp tục đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng từ văn hóa bản địa, trong đó có nghề làm nón lá hai mê của người Tày. Việc gìn giữ các giá trị văn hóa như nghề thủ công, thổ cẩm hay những phong tục truyền thống không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn tạo sinh kế bền vững và sức hút riêng cho du lịch địa phương.

Khi chiếc nón mở lối cho du lịch và sinh kế

Nghệ nhân xã Xuân Giang (tỉnh Tuyên Quang) với sản phẩm nón lá hai mê truyền thống. Ảnh: TTXVN phát

Nghệ nhân xã Xuân Giang (tỉnh Tuyên Quang) với sản phẩm nón lá hai mê truyền thống. Ảnh: TTXVN phát

Từ những nếp nhà sàn, chiếc nón hai mê hôm nay đã bước ra ngoài, trở thành một sản phẩm mang theo câu chuyện của bản làng. Không còn bó hẹp trong sinh hoạt thường ngày, nón đã có mặt ở các phiên chợ, các gian hàng trưng bày, và cả trong hành trình trải nghiệm của du khách.

Theo ông Trần Trung Thành, Bí thư Đảng ủy xã Xuân Giang, việc bảo tồn nghề truyền thống không thể tách rời phát triển kinh tế. “Chúng tôi xác định, muốn giữ nghề thì phải để người dân sống được bằng nghề. Vì vậy, địa phương đang từng bước gắn nghề làm nón với phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng sản phẩm đặc trưng, tạo sinh kế bền vững cho bà con”, ông nói.

Từ định hướng đó, Xuân Giang đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ: Tổ chức các lớp truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm, đưa nón hai mê tham gia các hội chợ, sự kiện văn hóa, đồng thời quảng bá trên các nền tảng số. Những bước đi ấy không ồn ào, nhưng đang dần tạo ra sự chuyển biến.

Trong những ngôi nhà sàn, bên cạnh những người phụ nữ lớn tuổi đã gắn bó lâu năm với nghề, ngày càng có nhiều người trẻ tham gia. Ban đầu, họ học nghề vì tò mò, nhưng rồi dần hiểu rằng mình đang tiếp nối một phần di sản.

Hoàng Thị Hương, một cô gái trẻ ở Xuân Giang chia sẻ, những ngày đầu học đan nón, đôi tay còn vụng về, từng sợi lạt cứ trượt khỏi tay. Nhưng khi hoàn thành chiếc nón đầu tiên, cảm giác tự hào khiến cô muốn gắn bó lâu dài với nghề. “Mình không chỉ học một nghề, mà còn hiểu hơn về văn hóa của dân tộc mình”, Hương nói.

Cùng với việc giữ nghề, Xuân Giang cũng mở rộng không gian trải nghiệm cho du khách. Đến đây, du khách không chỉ tham quan, mà còn được trực tiếp tham gia một số công đoạn làm nón. Từ việc cầm dao chẻ giang, thử đan những mắt đầu tiên, đến việc cảm nhận sự kiên nhẫn cần có, mỗi trải nghiệm đều mang lại những cảm xúc riêng.

Chị Nguyễn Thị Thu Lan đến từ Hà Nội chia sẻ, điều khiến chị ấn tượng không phải là sự cầu kỳ, mà là sự chân thật. “Ở đây, tôi thấy mình không chỉ là người xem, mà như được sống trong không gian của bản làng. Chiếc nón không chỉ là sản phẩm, mà là câu chuyện của con người nơi này”, chị Lan nói.

Chính sự kết nối giữa nghề truyền thống và trải nghiệm du lịch đã tạo nên sức sống mới cho nón hai mê. Từ một vật dụng quen thuộc, chiếc nón trở thành sản phẩm có giá trị, góp phần tạo thêm thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ.

Không dừng lại ở đó, việc phát triển nghề còn gắn với bảo tồn văn hóa và môi trường sinh thái. Những rừng cọ, rừng giang được gìn giữ không chỉ để lấy nguyên liệu, mà còn để duy trì cảnh quan, giữ lại những gì nguyên sơ nhất của vùng đất.

Trong dòng chảy của thời gian, có những giá trị tưởng chừng giản dị lại bền bỉ hơn tất cả. Nón lá hai mê ở Xuân Giang là một trong những giá trị như thế. Không phô trương, không ồn ào, nhưng âm thầm tồn tại, như cách người Tày gìn giữ bản sắc của mình.

Từ những nếp nhà sàn bình dị, chiếc nón lá hai mê đang từng bước đi xa hơn, trở thành một phần trong hành trình du lịch của vùng đất.

Và rồi, từ những vòng đan nối tiếp nhau, không chỉ một chiếc nón được hình thành, mà còn là một con đường - con đường để di sản đi vào đời sống, để văn hóa gắn với phát triển, và để một vùng đất tìm thấy hướng đi bền vững từ chính những gì thuộc về mình./.

Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Huy động các lực lượng ứng cứu khi xảy ra tình huống khẩn cấp

Huy động các lực lượng ứng cứu khi xảy ra tình huống khẩn cấp

Khi thời tiết nắng nóng gay gắt và nguy cơ cháy nổ tăng cao, tỉnh Tuyên Quang đã xây dựng kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện và tài sản của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân để chủ động xử lý các tình huống cháy, nổ, tai nạn, sự cố có quy mô lớn xảy ra trên địa bàn.

Dông lốc khiến một người bị thương và 35 ngôi nhà tốc mái ở Lào Cai

Dông lốc khiến một người bị thương và 35 ngôi nhà tốc mái ở Lào Cai

Khoảng từ 15 giờ đến 18 giờ ngày 27/5, trên địa bàn tỉnh Lào Cai xuất hiện dông lốc, gió giật mạnh kèm mưa to khiến một người bị thương, 35 ngôi nhà bị tốc mái cùng nhiều diện tích sản xuất nông nghiệp và hạ tầng giao thông bị thiệt hại tại các xã Xuân Ái, Tân Hợp, Văn Chấn, Mỏ Vàng và Nghĩa Tâm.

Khắc phục sự cố sụp lún tuyến lộ giao thông Kênh Cựa Gà Sáu Dần

Khắc phục sự cố sụp lún tuyến lộ giao thông Kênh Cựa Gà Sáu Dần

Tại xã Đá Bạc (Cà Mau), tuyến lộ giao thông Kênh Cựa Gà Sáu Dần, thuộc ấp Đá Bạc A, xã Đá Bạc được khánh thành và đưa vào sử dụng ngay dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ với chiều dài 600m. Nhưng công trình đưa vào sử dụng chưa được 4 tháng thì nay tuyến đường này đã bị sụp lún nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến việc đi lại mua bán hàng hóa của hàng trăm hộ dân sống ven khu vực.

Bảo đảm an toàn các kỳ thi ở miền núi, biên giới

Bảo đảm an toàn các kỳ thi ở miền núi, biên giới

Ngày 27/5, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Sơn La Hà Trung Chiến đã chủ trì buổi làm việc với Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các sở, ngành liên quan về công tác chuẩn bị tổ chức các kỳ thi năm 2026.

Lâm Đồng sớm gỡ vướng mặt bằng thi công dự án giao thông trọng điểm

Lâm Đồng sớm gỡ vướng mặt bằng thi công dự án giao thông trọng điểm

Ngày 27/5, Ủy ban nhân dân phường Tiến Thành (Lâm Đồng) có thông báo kêu gọi người dân đồng thuận bàn giao mặt bằng để sớm thi công hoàn thành tuyến đường trọng điểm Trần Quý Cáp. Đây là tuyến đường cửa ngõ quan trọng vào trung tâm Phan Thiết và kết nối với Khu du lịch quốc gia Mũi Né.

Đánh thức giá trị lan rừng công nghệ cao

Đánh thức giá trị lan rừng công nghệ cao

Tại tỉnh Lâm Đồng, ngoài thương hiệu hoa Đà Lạt vốn đã định hình từ nhiều năm nay, trên thị trường hoa cảnh, “hoa lan Bảo Lộc” đang dần tạo dấu ấn riêng bằng một hướng đi khác biệt: từ những giống lan rừng được thuần dưỡng, bảo tồn đến ứng dụng công nghệ lai tạo, nhân giống quy mô lớn.

90 ngày đêm thi công cao điểm: ‘Luồng gió mới’ cho giáo dục vùng biên

90 ngày đêm thi công cao điểm: ‘Luồng gió mới’ cho giáo dục vùng biên

Chiến dịch “90 ngày đêm thi công cao điểm” đang được tỉnh Nghệ An triển khai quyết liệt nhằm đưa 10 trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở tại các xã biên giới về đích trước ngày 26/8. Với sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo địa phương cùng những cơ chế gỡ vướng kịp thời từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án mang tính chiến lược này kỳ vọng sẽ giải quyết căn cơ nhu cầu học tập, đổi mới diện mạo giáo dục cho hàng nghìn học sinh vùng sâu, vùng xa biên giới của tỉnh Nghệ An.

Tỷ lệ tưới thấp nhất cả nước, Gia Lai cần sớm đầu tư hạ tầng thủy lợi

Tỷ lệ tưới thấp nhất cả nước, Gia Lai cần sớm đầu tư hạ tầng thủy lợi

Theo báo cáo của UBND tỉnh Gia Lai, tỷ lệ tưới chủ động tại tỉnh chỉ đạt 8,9%, thấp nhất cả nước, đây là con số đáng báo động về thực trạng hạ tầng thủy lợi. Việc phụ thuộc quá lớn vào thiên nhiên và nước ngầm đang đẩy sản xuất nông nghiệp địa phương vào thế khó. Đã đến lúc cần một giải pháp căn cơ cho hệ thống thủy lợi để bảo vệ hơn 763.600 ha đất canh tác trước bài toán thiếu nước trầm trọng.

Khai thác lợi thế biển, tạo động lực tăng trưởng mới

Khai thác lợi thế biển, tạo động lực tăng trưởng mới

Với hơn 13 km bờ biển cùng hệ sinh thái ven biển, rừng ngập mặn và nhiều giá trị văn hóa - lịch sử, phường Trường Long Hòa (tỉnh Vĩnh Long) đang có nhiều dư địa phát triển du lịch biển, du lịch sinh thái và trải nghiệm văn hóa. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả tiềm năng, địa phương vẫn cần thêm những “mảnh ghép” về hạ tầng, dịch vụ và sản phẩm du lịch đặc trưng.

Chủ động bảo đảm an toàn kỳ thi tuyển sinh lớp 10 trong điều kiện nắng nóng kéo dài

Chủ động bảo đảm an toàn kỳ thi tuyển sinh lớp 10 trong điều kiện nắng nóng kéo dài

Trước tình hình thời tiết nắng nóng đột biến kéo dài, nhằm bảo đảm Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông năm học 2026 - 2027 diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Công văn số 2717/SGDĐT-KHTC về việc chỉ đạo công tác phối hợp tổ chức kỳ thi trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp.

Những mũi nhọn để mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội

Những mũi nhọn để mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội

Không chỉ tập trung tăng số người tham gia, tỉnh Phú Thọ đang hướng tới mục tiêu phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bền vững bằng những giải pháp linh hoạt, sát thực tiễn; trong đó, đổi mới truyền thông, nâng cao chất lượng phục vụ và khai thác hiệu quả nhóm đối tượng tiềm năng được xác định là những mũi nhọn để mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội trong năm 2026.

Học sinh Lai Châu tự tin trước kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026

Học sinh Lai Châu tự tin trước kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026

Chỉ còn khoảng nửa tháng nữa là đến Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông 2026, tỉnh Lai Châu đã và đang chuẩn bị chu đáo các điều kiện và phương án sẵn sàng để các thí sinh dự thi an toàn, đúng kế hoạch, đạt kết quả cao.

Đồng bào Chăm An Giang chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp

Đồng bào Chăm An Giang chung sức xây dựng quê hương giàu đẹp

Sáng 26/5, tại xã Châu Phong, UBND tỉnh An Giang tổ chức Họp mặt mừng Tết Roya Haji của đồng bào dân tộc Chăm theo đạo Hồi (Islam) tỉnh An Giang năm 2026. Đây không chỉ là ngày hội văn hóa mà còn là nhịp cầu thắt chặt tình đoàn kết dân tộc, gắn bó cộng đồng và giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc trên vùng đất đầu nguồn sông Cửu Long.

Lạng Sơn giữ an toàn hệ thống thủy lợi trước mùa mưa bão

Lạng Sơn giữ an toàn hệ thống thủy lợi trước mùa mưa bão

Mùa mưa bão đang đến gần, công tác bảo đảm an toàn hồ chứa, đập dâng và hệ thống công trình thủy lợi đang được tỉnh Lạng Sơn triển khai quyết liệt, từ kiểm tra hiện trạng công trình, hạ thấp mực nước hồ đón lũ, ứng trực 24/24 giờ đến ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý vận hành… nhằm hạn chế thấp nhất nguy cơ xảy ra sự cố, bảo vệ an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân và phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp.

Lan tỏa lối sống xanh và bảo tồn bản sắc dân tộc

Lan tỏa lối sống xanh và bảo tồn bản sắc dân tộc

Phát huy tinh thần sáng tạo và tình yêu quê hương, học sinh các xã vùng cao Sơn Tây và Sơn Hà (tỉnh Quảng Ngãi) đã nghiên cứu, triển khai thành công nhiều dự án từ nguồn nguyên liệu bản địa. Những sản phẩm từ lúa rẫy hay vỏ keo không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo tồn văn hóa và bảo vệ môi trường sống.

Sức dân làm đổi thay bản làng nơi cực Bắc Tổ quốc

Sức dân làm đổi thay bản làng nơi cực Bắc Tổ quốc

Giữa cao nguyên đá nơi địa đầu Tổ quốc, người dân thôn Ma Lé, xã Lũng Cú (tỉnh Tuyên Quang) đang cùng nhau trồng hoa, chỉnh trang đường làng, gìn giữ nhà cổ và bảo tồn văn hóa truyền thống để xây dựng bản du lịch cộng đồng xanh, sạch, đẹp từ chính sức dân nơi biên cương.

Những bước chân nhỏ bền bỉ vượt núi đến lớp ở vùng cao Làng Sáng

Những bước chân nhỏ bền bỉ vượt núi đến lớp ở vùng cao Làng Sáng

Những buổi sáng sớm ở bản Làng Sáng, xã Tà Xùa (tỉnh Sơn La) mây, sương từ các sườn núi phủ trắng lối đi. Dù cuộc sống nơi đây vẫn còn nhiều khó khăn nhưng các em nhỏ dân tộc Mông vẫn mỗi ngày được gia đình đưa đến lớp. Trên gương mặt nhỏ bé của các em ánh lên niềm háo hức khi được đến trường, học chữ, gặp bạn bè và thầy cô giáo.

Điện lực Lạng Sơn chống quá tải mùa cao điểm nắng nóng

Điện lực Lạng Sơn chống quá tải mùa cao điểm nắng nóng

Công ty Điện lực Lạng Sơn cho biết, việc cung ứng điện đối mặt với nhiều thách thức, nhất là trong các tháng cao điểm nắng nóng từ cuối tháng 5/2026 đến hết tháng 8/2026, khi nhu cầu sử dụng điện tăng cao, nguy cơ thiếu hụt công suất vào các khung giờ cao điểm. Trước tình hình đó, Điện lực Lạng Sơn đã chủ động xây dựng và triển khai các phương án vận hành linh hoạt, đảm bảo cung ứng điện an toàn, liên tục, phục vụ tốt nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Xây 'lá chắn số' bảo vệ rừng Hoàng Liên

Xây 'lá chắn số' bảo vệ rừng Hoàng Liên

Vườn Quốc gia Hoàng Liên (tỉnh Lào Cai) đang từng bước ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ vào công tác quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu nguy cơ cháy rừng và phát hiện sớm các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.