Sáng sớm ở Xuân Giang, khi làn sương còn bảng lảng trên những triền đồi, tiếng chẻ giang, tiếng lạt va khẽ vào nhau đã vang lên trong những nếp nhà sàn. Không ồn ào, không vội vã, những âm thanh ấy như nhịp điệu quen thuộc của bản làng, gợi nhắc một nghề đã bền bỉ tồn tại qua nhiều thế hệ.
Những vòng đan giữ ký ức bản làng
Người phụ nữ Tày ngồi bên hiên, đôi tay thoăn thoắt đan từng sợi lạt mảnh. Những vòng đan cứ thế nối nhau, từ đỉnh nón lan dần xuống vành, đều đặn, chắc chắn. Nhìn họ làm nón, người ta có cảm giác như đang chứng kiến một câu chuyện được kể bằng đôi tay - chậm rãi, kiên nhẫn và đầy yêu thương.
Nón lá hai mê của Xuân Giang không chỉ là vật dụng che mưa, che nắng. Đó là kết tinh của tri thức bản địa, của kinh nghiệm sống được chắt lọc qua năm tháng. Mỗi chiếc nón là một hành trình, bắt đầu từ rừng - nơi có những cây giang dẻo dai, những tàu lá cọ xanh mướt rồi trở về trong căn bếp, dưới bàn tay người thợ, để trở thành một sản phẩm vừa mộc mạc vừa tinh tế.
Nguyên liệu làm nón tưởng chừng đơn giản, nhưng lại đòi hỏi sự chọn lựa kỹ lưỡng. Lá cọ phải là loại “bánh tẻ”, không già quá để tránh giòn, cũng không non quá để không bị mềm, dễ hỏng. Lá được hơ qua lửa, phơi sương, phơi nắng đến khi chuyển sang màu trắng ngà. Giang phải là loại giang rừng, dẻo, bền, được chẻ thành những sợi lạt mỏng, đều như sợi chỉ.
Điểm đặc biệt làm nên tên gọi “hai mê” chính là cấu trúc hai lớp đan riêng biệt. Người thợ đan từng lớp mê bằng kỹ thuật mắt lục giác, từ đỉnh nón xuống, đòi hỏi sự chính xác gần như tuyệt đối. Khi hai lớp mê hoàn thiện, chúng được ghép lại, ở giữa là lớp lá cọ đã xử lý. Chính cấu trúc này giúp chiếc nón vừa nhẹ, vừa bền, có thể chống chọi với nắng gắt, mưa rừng.
Nhưng giá trị của chiếc nón không chỉ nằm ở kỹ thuật. Trong đời sống người Tày, nón hai mê từng là thước đo sự khéo léo của người con gái. Trước khi về nhà chồng, cô gái phải tự tay đan một chiếc nón đẹp nhất, chắc nhất. Chiếc nón vì thế không chỉ là vật dụng, mà còn là lời gửi gắm về sự đảm đang, về tình yêu lao động.
Nghệ nhân Hoàng Văn Bính, người đã gắn bó với nghề hàng chục năm, chậm rãi nói: “Đan nón không khó, nhưng để đẹp thì phải đều tay. Mỗi mắt đan phải khít, mỗi vòng phải chắc. Làm nón cũng như làm người, phải cẩn thận từ những điều nhỏ nhất”.
Những lời nói mộc mạc ấy như gói trọn tinh thần của nghề - bền bỉ, kiên trì và đầy tự trọng. Với người dân Xuân Giang, làm nón không chỉ là một công việc, mà là cách giữ gìn ký ức, giữ lại những gì thuộc về mình.
Năm 2023, nghề làm nón lá hai mê được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hành trình gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống. Nhưng với người dân nơi đây, danh hiệu ấy không làm thay đổi cách họ làm nghề. Họ vẫn đan nón như cách cha ông đã làm tỉ mỉ, cần mẫn, và đầy trân trọng.
Trong một lần về thăm, trò chuyện với bà con làm nón lá hai mê, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang Vương Ngọc Hà ghi nhận sự tâm huyết của người dân trong việc gìn giữ nghề truyền thống, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu gắn bảo tồn với phát triển du lịch. Phó Chủ tịch đề nghị địa phương tiếp tục đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng từ văn hóa bản địa, trong đó có nghề làm nón lá hai mê của người Tày. Việc gìn giữ các giá trị văn hóa như nghề thủ công, thổ cẩm hay những phong tục truyền thống không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn tạo sinh kế bền vững và sức hút riêng cho du lịch địa phương.
Khi chiếc nón mở lối cho du lịch và sinh kế
Nghệ nhân xã Xuân Giang (tỉnh Tuyên Quang) với sản phẩm nón lá hai mê truyền thống. Ảnh: TTXVN phát
Từ những nếp nhà sàn, chiếc nón hai mê hôm nay đã bước ra ngoài, trở thành một sản phẩm mang theo câu chuyện của bản làng. Không còn bó hẹp trong sinh hoạt thường ngày, nón đã có mặt ở các phiên chợ, các gian hàng trưng bày, và cả trong hành trình trải nghiệm của du khách.
Theo ông Trần Trung Thành, Bí thư Đảng ủy xã Xuân Giang, việc bảo tồn nghề truyền thống không thể tách rời phát triển kinh tế. “Chúng tôi xác định, muốn giữ nghề thì phải để người dân sống được bằng nghề. Vì vậy, địa phương đang từng bước gắn nghề làm nón với phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng sản phẩm đặc trưng, tạo sinh kế bền vững cho bà con”, ông nói.
Từ định hướng đó, Xuân Giang đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ: Tổ chức các lớp truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm, đưa nón hai mê tham gia các hội chợ, sự kiện văn hóa, đồng thời quảng bá trên các nền tảng số. Những bước đi ấy không ồn ào, nhưng đang dần tạo ra sự chuyển biến.
Trong những ngôi nhà sàn, bên cạnh những người phụ nữ lớn tuổi đã gắn bó lâu năm với nghề, ngày càng có nhiều người trẻ tham gia. Ban đầu, họ học nghề vì tò mò, nhưng rồi dần hiểu rằng mình đang tiếp nối một phần di sản.
Hoàng Thị Hương, một cô gái trẻ ở Xuân Giang chia sẻ, những ngày đầu học đan nón, đôi tay còn vụng về, từng sợi lạt cứ trượt khỏi tay. Nhưng khi hoàn thành chiếc nón đầu tiên, cảm giác tự hào khiến cô muốn gắn bó lâu dài với nghề. “Mình không chỉ học một nghề, mà còn hiểu hơn về văn hóa của dân tộc mình”, Hương nói.
Cùng với việc giữ nghề, Xuân Giang cũng mở rộng không gian trải nghiệm cho du khách. Đến đây, du khách không chỉ tham quan, mà còn được trực tiếp tham gia một số công đoạn làm nón. Từ việc cầm dao chẻ giang, thử đan những mắt đầu tiên, đến việc cảm nhận sự kiên nhẫn cần có, mỗi trải nghiệm đều mang lại những cảm xúc riêng.
Chị Nguyễn Thị Thu Lan đến từ Hà Nội chia sẻ, điều khiến chị ấn tượng không phải là sự cầu kỳ, mà là sự chân thật. “Ở đây, tôi thấy mình không chỉ là người xem, mà như được sống trong không gian của bản làng. Chiếc nón không chỉ là sản phẩm, mà là câu chuyện của con người nơi này”, chị Lan nói.
Chính sự kết nối giữa nghề truyền thống và trải nghiệm du lịch đã tạo nên sức sống mới cho nón hai mê. Từ một vật dụng quen thuộc, chiếc nón trở thành sản phẩm có giá trị, góp phần tạo thêm thu nhập cho người dân, đặc biệt là phụ nữ.
Không dừng lại ở đó, việc phát triển nghề còn gắn với bảo tồn văn hóa và môi trường sinh thái. Những rừng cọ, rừng giang được gìn giữ không chỉ để lấy nguyên liệu, mà còn để duy trì cảnh quan, giữ lại những gì nguyên sơ nhất của vùng đất.
Trong dòng chảy của thời gian, có những giá trị tưởng chừng giản dị lại bền bỉ hơn tất cả. Nón lá hai mê ở Xuân Giang là một trong những giá trị như thế. Không phô trương, không ồn ào, nhưng âm thầm tồn tại, như cách người Tày gìn giữ bản sắc của mình.
Từ những nếp nhà sàn bình dị, chiếc nón lá hai mê đang từng bước đi xa hơn, trở thành một phần trong hành trình du lịch của vùng đất.
Và rồi, từ những vòng đan nối tiếp nhau, không chỉ một chiếc nón được hình thành, mà còn là một con đường - con đường để di sản đi vào đời sống, để văn hóa gắn với phát triển, và để một vùng đất tìm thấy hướng đi bền vững từ chính những gì thuộc về mình./.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn