Khơi dậy nguồn lực văn hóa Khmer trong thời kỳ mới

Giữa nhịp sống hiện đại, những giá trị di sản văn hóa của đồng bào Khmer vẫn được gìn giữ, phát huy, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững.

khmer-2605.jpg
Các lễ hội truyền thống tiếp tục được duy trì rộng khắp các địa phương có đông đồng bào Khmer sinh sống.

Giữ gìn bản sắc văn hóa

Dân tộc Khmer là một trong những dân tộc thiểu số có dân số đông tại Việt Nam với trên 1,3 triệu người, cư trú tập trung chủ yếu tại An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Nai, Đồng Tháp, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và Vĩnh Long. Đây là cộng đồng dân cư có lịch sử cư trú lâu đời, tạo dựng nên một không gian văn hóa đặc sắc, đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam. Trong tiến trình lịch sử, dân tộc Khmer đã sáng tạo, lưu giữ và trao truyền hệ giá trị văn hóa phong phú, thể hiện trên nhiều lĩnh vực như tiếng nói, chữ viết, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian, tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống, kiến trúc, trang phục và ẩm thực dân tộc. Các giá trị văn hóa Khmer không chỉ phản ánh đời sống tinh thần, tâm thức cộng đồng mà còn chứa đựng nhiều giá trị nhân văn, giá trị lịch sử, văn hóa đa dạng.

Bà Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận định, đồng bào dân tộc Khmer có truyền thống văn hóa đặc sắc, góp phần quan trọng làm nên sự đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, từ hệ thống chùa Phật giáo Nam tông, các lễ hội truyền thống, nghệ thuật trình diễn dân gian đến tiếng nói, chữ viết và tri thức dân gian… là những di sản vô cùng quý báu cần được gìn giữ, bảo tồn và phát huy trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay.

Tại Cần Thơ, công tác gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số luôn được chú trọng. Toàn thành phố có trên 543.000 người dân tộc Khmer, chiếm khoảng 14,11% dân số thành phố. Trên địa bàn có 120 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Hệ thống chùa Khmer giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng, không chỉ là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo mà còn là nơi bảo tồn, truyền dạy tiếng nói, chữ viết, lưu giữ thư tịch cổ, nghệ thuật dân gian, giáo dục đạo đức và duy trì các giá trị văn hóa truyền thống cho các thế hệ dân tộc Khmer.

Thời gian qua, Ủy ban nhân dân thành phố luôn quan tâm thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào. Các di sản văn hóa được gìn giữ, nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng và tổ chức trang trọng; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào Khmer ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, vai trò của các vị chức sắc, nghệ nhân, người có uy tín trong cộng đồng tiếp tục được phát huy mạnh mẽ trong việc truyền dạy, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ.

Ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ cho biết, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã lồng ghép công tác quản lý nhà nước vào việc chăm lo cho đời sống vật chất lẫn tinh thần trong đồng bào dân tộc, thực hiện tốt các hoạt động về công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Khmer. Thời gian tới, thành phố tiếp tục hoàn thiện, bổ sung các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ; tăng nguồn lực đầu tư cho việc trùng tu, tôn tạo di tích, quy hoạch tổng thể mô hình phát triển du lịch trong vùng đồng bào dân tộc Khmer. Bên cạnh đó, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống, văn hóa Khmer cho thế hệ trẻ, tạo điều kiện cho giới trẻ trải nghiệm các hoạt động truyền thống của dân tộc Khmer.

khmer3-2605.jpg
Một nghi thức trong Lễ cầu an diễn ra trong chùa Khmer.

Các địa phương có đông dân tộc Khmer sinh sống tiếp tục duy trì hoạt động của các đội văn nghệ quần chúng Khmer, câu lạc bộ nhạc Ngũ âm, lớp truyền dạy múa dân gian, nghệ thuật Dù kê, Rô băm và tiếng nói, chữ viết Khmer. Nhiều cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật khu vực Nam Bộ đã tích cực đưa nội dung văn hóa Khmer vào chương trình đào tạo; tổ chức nghiên cứu, biểu diễn và truyền dạy nghệ thuật dân gian Khmer; từng bước hình thành đội ngũ trí thức trẻ Khmer có trình độ chuyên môn, góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc.

Theo Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch, các lễ hội truyền thống như Chôl Chnăm Thmây, Sene Dolta, Oóc Om Bóc, lễ cúng Trăng, đua ghe Ngo, Dua Tpeng (Phá Bàu)… tiếp tục được duy trì rộng khắp tại các địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Nhiều loại hình di sản văn hóa của dân tộc Khmer đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như nghệ thuật Dù kê Khmer Nam Bộ, nghệ thuật Rô băm, lễ hội Oóc Om Bóc, nghệ thuật trình diễn dân gian nhạc Ngũ âm, nghề làm cốm dẹp của dân tộc Khmer, nghệ thuật múa dân gian Khmer. Đây là cơ sở quan trọng để triển khai các hoạt động bảo tồn, phục dựng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong giai đoạn hiện nay.

Phát huy nguồn lực nội sinh

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức. Một số loại hình văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một. Cùng với thời gian, đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi, việc truyền dạy gặp không ít khó khăn. Mặt khác, nhiều yếu tố khách quan tác động có nguy cơ làm biến đổi không gian văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Khmer nói riêng.

Nhằm góp phần bảo tồn và phát huy hiệu quả các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống của dân tộc Khmer Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay, thượng tọa Lý Hùng, Trụ trì chùa Pitu Khôsa Răngsây cho rằng, đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố then chốt quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của nghệ thuật truyền thống Khmer. Trong quá trình đào tạo, cần kết hợp hài hòa giữa kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành. Các trường đảm nhiệm giảng dạy kiến thức chung theo quy định hiện hành; đồng thời mời nghệ nhân dân tộc Khmer trực tiếp truyền dạy kỹ năng biểu diễn, kỹ thuật hát, múa, diễn xuất, sử dụng nhạc cụ dân tộc… nhằm bảo đảm tính nguyên gốc và đặc trưng văn hóa dân tộc.

Ông Nguyễn Hoàng Hành, Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn Giáo) nhấn mạnh, trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số toàn diện, yêu cầu đặt ra không chỉ dừng lại ở bảo tồn bản sắc văn hóa Khmer theo nghĩa truyền thống mà quan trọng hơn là phải tổ chức quản trị hiệu quả hệ sinh thái văn hóa - tôn giáo - xã hội Khmer theo hướng tích hợp, hiện đại và thích ứng. Điều đó đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa gìn giữ và phát triển, giữa truyền thống và hiện đại, giữa mục tiêu phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh văn hóa - tư tưởng, qua đó tạo lập thế cân bằng động, bền vững trong toàn bộ tiến trình phát triển.

khmer2-2605.jpg
Một lớp học của các em nhỏ xã Xà Phiên, thành phố Cần Thơ tổ chức trong khuông viên chùa.

Thời gian tới, Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành địa phương tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách dân tộc, tôn giáo gắn với phát triển văn hóa theo hướng tích hợp, liên ngành và đồng bộ, phù hợp với bối cảnh phát triển mới; thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa, dân tộc; phát huy vai trò đội ngũ nghệ nhân, người có uy tín trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Trong tiến trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa Việt Nam, là nguồn lực nội sinh quan trọng, là di sản quý báu, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc và thống nhất của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Giữ gìn văn hóa các dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn là giữ gìn nền tảng tinh thần, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nên sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Giữa núi rừng biên giới Pà Vầy Sủ (Tuyên Quang), những điệu múa truyền thống, tiếng khèn, câu hát dân gian vẫn được các em học sinh nâng niu gìn giữ mỗi ngày. Từ mái trường vùng cao, tình yêu văn hóa dân tộc đang được thầy cô và cộng đồng bền bỉ trao truyền, góp phần gìn giữ mạch nguồn bản sắc nơi biên cương Tổ quốc.

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Trong dòng chảy hiện đại, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số luôn là một hành trình nhiều tâm huyết. Với cộng đồng người S’tiêng tại Đồng Nai, những điệu múa, lời ca không chỉ là nét đẹp truyền thống mà còn là sợi dây kết nối các thế hệ. Suốt hơn ba năm qua, Câu lạc bộ văn hóa người S’tiêng BP đã trở thành nơi “giữ lửa” văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của dân tộc mình.

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Sáng 24/5/2026, vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19 diễn ra sôi động tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến theo dõi, cổ vũ. Đây là điểm nhấn đặc biệt trong chuỗi hoạt động Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026. 

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Giữa vùng đất đầy nắng gió, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh nổi bật với kiến trúc độc đáo, không gian thanh tịnh và những giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ là trung tâm của đạo Cao Đài, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn để du khách tìm hiểu tín ngưỡng, khám phá nét đẹp kiến trúc, văn hóa cũng như đời sống tinh thần đặc trưng của vùng Nam Bộ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước mỗi năm.

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Sáng 23/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026 chính thức khai mạc, thu hút đông đảo người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham dự. Đây là hoạt động mở đầu cho chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch diễn ra đến hết ngày 31/5 với chủ đề “Vang xa vó ngựa cao nguyên”.

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Cùng sự phát triển kinh tế, Đồng Nai đang thổi bùng luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tích cực phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống đặc sắc. Các địa phương không chỉ bảo tồn trọn vẹn kho tàng văn hóa phong phú của 37 dân tộc anh em, mà còn tạo sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện.

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều chuyển biến tích cực. Từ việc hoàn thiện quy hoạch, tu bổ di tích đến đẩy mạnh xã hội hóa và gắn bảo tồn với phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của vùng Đất Tổ đang tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữ hồn khèn Mông nơi sân trường vùng cao

Giữa cái nắng đầu hè trên miền đá cực Bắc, sân Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Sủng Là, xã Sà Phìn (Tuyên Quang) lại rộn ràng bởi những thanh âm đặc biệt. Tiếng khèn Mông sau lúc ngập ngừng đã ngân lên thành nhịp, hòa cùng tiếng cười của những đứa trẻ vùng cao khiến không gian ngôi trường nhỏ giữa cao nguyên đá trở nên sống động, vui tươi hơn.

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Hoang phế Bảo tàng Phù Cát

Từng được kỳ vọng là nơi lưu giữ giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương, đồng thời phục vụ nhu cầu tham quan, giáo dục truyền thống cho học sinh và người dân trên địa bàn, nhưng thời gian gần đây, Bảo tàng Phù Cát (xã Phù Cát, tỉnh Gia Lai) lại rơi vào tình trạng xuống cấp, hoang hóa với thời gian.

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm được tổ chức với quy mô cấp quốc gia

UBND tỉnh Khánh Hòa đang phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chuẩn bị tổ chức “Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI” với quy mô cấp quốc gia. Thông qua các hoạt động của ngày hội, tỉnh hướng tới quảng bá nét đẹp văn hóa, con người đồng bào Chăm đến người dân và du khách trong, ngoài nước; đồng thời góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Hải Phòng: Biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc

Tối 12/5/2026, tại thành phố Hải Phòng đã diễn ra chương trình biểu diễn và giao lưu nghệ thuật các dân tộc. Chương trình có sự góp mặt của hàng trăm nghệ sĩ đến từ đoàn nghệ thuật tỉnh Lào Cai, mang tới sắc màu rực rỡ góp thêm vào bức tranh đa sắc màu của Lễ hội Hoa Phượng đỏ 2026. 

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Khâu Vai - khi ký ức thành di sản

Không đơn thuần là nơi gặp gỡ của những mối tình xưa, chợ tình Khâu Vai (xã Khâu Vai, tỉnh Tuyên Quang) hôm nay đã trở thành một không gian văn hóa đặc biệt - nơi ký ức, phong tục của đồng bào vùng cao tiếp nối qua nhiều thế hệ. Mỗi năm vào tháng Ba âm lịch, Khâu Vai lại rộn ràng trong tiếng khèn, tiếng hát giao duyên và sắc váy rực rỡ của đồng bào các dân tộc.

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

'Chợ tình Xuân Dương' - Nơi lưu giữ mạch ngầm văn hóa trăm năm

Ngày 10/5, UBND xã Xuân Dương (tỉnh Thái Nguyên) đã khai mạc Lễ hội văn hóa truyền thống “Chợ tình Xuân Dương” năm 2026. Việc tổ chức lễ hội truyền thống này nhằm tiếp tục khẳng định sức sống mãnh liệt của một di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc, nơi những câu hát Sli, hát Lượn làm say lòng du khách thập phương.

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Gìn giữ di sản văn hóa truyền thống của người Ơ Đu trong dòng chảy hiện đại

Ngày 9/5, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Nga My (Nghệ An) tổ chức Lễ đón nhận Chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Lễ đón tiếng sấm của người Ơ Đu” và kỷ niệm 20 năm thành lập bản tái định cư Văng Môn - nơi sinh sống tập trung đông dân cư nhất của đồng bào Ơ Đu trên địa bàn tỉnh.

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Triển lãm 'Hương sắc vùng cao': Kết nối sắc màu văn hóa các dân tộc

Tối 8/5, tại Sơn La đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Hương sắc vùng cao” năm 2026. Triển lãm do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức nhằm tôn vinh, quảng bá những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc vùng cao; góp phần tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập và phát triển.

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Khi hoa văn dệt nên hồn cốt người vùng cao

Giữa không gian đá xám của vùng cao Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, có những căn nhà nhỏ luôn đỏ lửa từ sáng sớm. Trong làn khói mỏng quyện mùi sáp ong thơm dịu, những người phụ nữ Mông lặng lẽ cúi mình bên tấm vải lanh, đôi tay thoăn thoắt đưa từng nét vẽ bằng chiếc bút đồng nhỏ bé. Ở nơi ấy, vẽ sáp ong không chỉ là một nghề thủ công mà còn là cách người Mông gửi vào tấm vải những ký ức của cộng đồng, những quan niệm về cuộc sống và cả sự gắn bó với núi rừng đá xám.

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước

Tối 7/5, UBND phường Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ) tổ chức Lễ cầu ngư, thả hoa đăng trên sông Đà năm 2026, tại khu vực Vườn hoa phố đi bộ đường Đà Giang. Đây là hoạt động văn hóa tâm linh mang đậm bản sắc dân tộc; đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh du lịch, văn hóa xứ Mường tới du khách trong và ngoài nước.

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Phong lưu Sơn Vĩ - Phiên chợ tình ca

Giữa miền biên viễn nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc, sau phiên chợ tình Khâu Vai một ngày, đồng bào các dân tộc lại tìm về với chợ Phong lưu Sơn Vĩ ở xã Sơn Vĩ, tỉnh Tuyên Quang. Không chỉ là nơi gặp gỡ, trao đổi hàng hóa, chợ Phong lưu Sơn Vĩ còn là không gian văn hóa đậm sắc màu truyền thống, nơi lưu giữ những câu chuyện tình yêu mộc mạc, thủy chung của đồng bào vùng cao.

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Bom Bo - bản sắc S’tiêng, điểm đến cộng đồng

Nằm ở vùng đất đỏ miền Đông, sau khi sáp nhập xã Bom Bo cũ và Bình Minh cũ, xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) hôm nay không chỉ được biết đến như một biểu tượng của tinh thần kháng chiến quật khởi mà còn là nơi hội tụ, kết tinh những giá trị văn hóa đặc sắc của người S'tiêng.