Vào mỗi dịp đầu năm mới, đồng bào các dân tộc, đặc biệt là dân tộc Tày trong tỉnh Lào Cai lại nô nức, phấn khởi tham gia Lễ hội Lồng Tồng hay còn gọi Hội xuống đồng. Đây là lễ hội độc đáo của người Tày, mang theo thông điệp cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Điểm hẹn văn hóa - du lịch hấp dẫn
Là xã vùng sâu, vùng xa, nằm ở khu vực khó khăn của tỉnh Lào Cai, Phong Dụ Thượng là nơi sinh sống của 6 dân tộc, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Tày, Dao và Mông. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng thời gian qua, xã Phong Dụ Thượng luôn gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, trong đó có Lễ hội Lồng Tồng được tổ chức thường niên vào dịp đầu năm mới.
Năm nay, Lễ hội Lồng Tồng được tổ chức trong hai ngày 1 - 2/3. Đây không chỉ là nghi lễ cầu mùa truyền thống, mà còn là điểm hẹn văn hóa - du lịch hấp dẫn du khách những ngày đầu năm. Ghi nhận của phóng viên, từ 6 giờ 30 phút ngày 2/3, đồng bào các dân tộc nơi đây cùng du khách nô nức đến sân vận động xã để đón xem lễ hội.
Nghi thức rước lễ của đồng bào dân tộc Tày ở Phong Dụ Thượng.
Bà Lò Thị Nguyên (thôn Làng Chạng, xã Phong Dụ Thượng) chia sẻ, đối với đồng bào các dân tộc nơi đây, Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội lớn của người dân trong những ngày đầu Xuân năm mới. Do đó, gần đến ngày tổ chức lễ hội, người dân ai cũng háo hức chờ đợi để đi chơi hội với các trò chơi dân gian. Đây cũng là dịp để đồng bào các dân tộc gặp gỡ và thắt chặt tình đoàn kết.
Lễ hội năm nay được mở đầu bằng các nghi thức trang nghiêm tại đình thôn Làng Chạng và đình Làng Than - những ngôi đình cổ gắn với đời sống tâm linh của cộng đồng. Nghi lễ mổ trâu cúng tế, lễ rước và cúng thần Nông thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, vạn vật sinh sôi.
Mâm lễ được dâng lên các vị thần.
Điểm nhấn của lễ hội là nghi thức tịch điền (xuống đồng). Người đứng đầu địa phương thực hiện những đường cày đầu tiên trên thửa ruộng được chọn, mở đầu cho mùa sản xuất mới trong tiếng trống hội rộn ràng và niềm hân hoan của người dân. Ngay sau đó, người dân cùng lãnh đạo địa phương gieo hạt, gửi gắm niềm tin vào một năm đủ đầy.
Không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, Lễ hội Lồng Tồng còn là không gian giao lưu văn hóa sôi động. Các trò chơi dân gian như: ném còn, đẩy gậy, kéo co, bịt mắt đánh trống, đi cà kheo… thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia. Những làn điệu dân ca, điệu múa truyền thống cùng nghi thức đốt lửa xòe tạo nên bức tranh Xuân rực rỡ giữa núi rừng vùng cao.
Thiếu nữ Tày rạng rỡ tại lễ hội.
Du khách Nguyễn Thị Huyền (đến từ Phú Thọ) chia sẻ, đây là lần đầu tiên chị đến Phong Dụ Thượng. Dù là xã vùng cao khó khăn nhưng quy mô tổ chức lễ hội rất bài bản. Tại đây, chị được xem các nghi lễ linh thiêng và hòa mình cùng người dân vui chơi các trò chơi dân gian, đó là một trải nghiệm thú vị của bản thân.
Thiếu nữ Tày rạng rỡ trong bộ trang phục truyền thống.
Trong khuôn khổ lễ hội còn có không gian trưng bày sản vật của các thôn, đơn vị và doanh nghiệp địa phương. Du khách có thể thưởng thức và trải nghiệm nhiều đặc sản vùng cao như: cá bỗng, gà cẩm, ốc, lợn đen bản địa, xôi ngũ sắc, thảo quả, ớt thóc, gừng đen cùng các loại rau rừng, măng, nấm tự nhiên. Đây cũng là dịp để địa phương quảng bá nông sản đặc trưng, từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm gắn với phát triển du lịch cộng đồng.
Hành trình du Xuân trọn vẹn
Múa then nét văn hóa độc đáo của người Tày được tái hiện tại lễ hội.
Chủ tịch UBND xã Phong Dụ Thượng Lương Văn Thu cho biết, Lễ hội Lồng Tồng được khởi nguồn từ nhu cầu sản xuất nông nghiệp của người Tày khi sống thành làng bản. Đây là một di sản văn hóa của dân tộc, biểu tượng thiêng liêng, biểu tượng gắn kết cộng đồng. Theo thời gian, lễ hội không chỉ quy tụ những sắc thái văn hóa đặc trưng nhất của dân tộc Tày mà còn lan tỏa sang các dân tộc khác như: Dao, Thái, Mông. Lễ hội không chỉ là dịp để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là cơ hội để gắn kết cộng đồng, trao truyền những giá trị văn hóa tốt đẹp cho thế hệ mai sau.
Chủ tịch UBND xã Phong Dụ Thượng Lương Văn Thu thực hiện những đường cày đầu tiên mở đầu cho mùa sản xuất mới.
Năm 2025 dù gặp nhiều khó khăn nhưng xã Phong Dụ Thượng đạt được nhiều kết quả trong phát triển kinh tế - xã hội; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 2.851,9 tấn, tăng 51,9 tấn; tổng đàn gia súc chính 10.026 con, tăng 1.480 con so với năm 2024; có 53 hộ thoát nghèo. Công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc trên địa bàn được chú trọng; một số điểm, không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống được duy trì. Trong năm, xã đón 16.000 khách du lịch với doanh thu đạt 9 tỷ đồng, góp phần thay đổi diện mạo vùng quê khó khăn nơi đây.
Chủ tịch UBND xã Phong Dụ Thượng Lương Văn Thu thực hiện những đường cày đầu tiên mở đầu cho mùa sản xuất mới.
Đến với Phong Dụ Thượng, du khách còn có cơ hội khám phá quần thể ruộng bậc thang Khe Táu, suối nước nóng Cao Sơn, thác Khe Ban, thác Khe Mạng… Những cảnh quan nguyên sơ, hùng vĩ hòa cùng không khí lễ hội tạo nên hành trình du Xuân trọn vẹn giữa thiên nhiên và bản sắc văn hóa.
Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội mở đầu cho một năm mới, mang đậm nét văn hóa truyền thống của một nền văn minh lúa nước được đồng bào các dân tộc ở tỉnh Lào Cai tổ chức hằng năm vào dịp đầu Xuân. Ngoài xã Phong Dụ Thượng, lễ hội này cũng được tổ chức tại các xã như: Hợp Thành, Bát Xát, Cốc Lầu, Yên Thành và Cốc San (Lào Cai).
Giữa nhịp sống hiện đại, Lễ hội Lồng Tồng vẫn giữ nguyên giá trị cốt lõi, đó là niềm tin vào đất trời, sức lao động và tinh thần đoàn kết cộng đồng. Từ những nghi lễ truyền thống, các địa phương đang từng bước phát huy lợi thế văn hóa để phát triển du lịch bền vững, quảng bá hình ảnh quê hương giàu bản sắc đến với bạn bè, du khách gần xa./.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn