Kỹ thuật ương cá trắm cỏ giống

Kỹ thuật ương cá trắm cỏ giống
1. Chọn và chuẩn bị ao ương

Chọn ao ương tốt nhất là hình chữ nhật, ao ương cá từ cá hương lên cá giống có diện tích từ 300-500m2; nhưng diện tích ao ương cá giống thích hợp nhất từ 1.000-2.000m2, mức nước trong ao từ 1,2-1,5m. Chất đáy ao là đất cát hoặc pha cát; độ dày bùn đáy từ 10-15cm, nhưng không có bùn đáy ao càng tốt vì ao nuôi cá trắm cỏ giống không yêu cầu phải gây màu nước như ương cá mè trắng. Ao ương gần nguồn nước, nguồn nước cấp cho ao ương phải đảm bảo là nguồn nước sạch, đảm bảo đạt các yếu tố về môi trường;

Trước khi san cá hương sang ao để nuôi lên giống khoảng từ 5-7 ngày tiến hành các bước như tháo cạn nước ao, tát gạn, bắt hết cá tạp, vét bớt lớp bùn đáy, đảm bảo lớp bùn đáy ao; nếu để lớp bùn đáy quá dày dẫn đến hiện tượng các chất dinh dưỡng trong ao ương dễ bị lớp bùn đáy hấp thụ do vậy những ao có lớp bùn đáy quá dày thường gây màu nước là thức ăn tự nhiên của cá rất khó; sau đó san đáy ao cho phẳng có độ dốc đáy ao thoải dần về phía cống thoát; dùng vôi (CaO; Ca(OH2…) tẩy ao với lượng 10-15 kg/100m2 để tẩy độc cho ao và khử chua; mức độ sử dụng vôi cho từng ao phụ thuộc vào độ pH của ao, sau đó phơi đáy ao khoảng 3-5 ngày. Cấp nước vào ao ương trước khi thả cá hương, tuy nhiên đối với ao ương cá hương cấp nước vào ao trước 5-10 ngày vẫn có thể thả cá được, không phải tát gạn làm lại ao như giai đoạn ao ương từ bột lên hương; nhưng rất khoát phải quản lý tốt môi trường ao nuôi không để ếch, nhái sinh sản trong ao ương. Nước cấp vào ao phải qua lọc để tránh sinh vật có hại và các loại cá khác vào ao sẽ cạnh tranh thức. Ao ương cá giống trắm cỏ không phải bón các loại phân để gây màu nước; vì vậy có thể cấp đủ mức nước ao ngay từ đầu sau đó thả cá vào ao ương.

2. Thả cá hương

Tiêu chuẩn của cá hương khi thả: Cá có kích thước chiều dài cơ thể 2,5-3cm. Mật độ ương là: 2.500-3.000 con/100m2ao; các giai đoạn ương sau đó thì giảm dần mật độ nuôi. Cá trắm cỏ ương sau 25-30 ngày thì đạt kích thước cá thể từ 5-6cm và khối lượng đạt 4-5g/con; tiếp tục ương lên cỡ cá giống lớn hơn; thời gian ương nuôi từ 78-80 ngày kích thước cá thể đạt 10-12cm/con và khối lượng  35-40g/con; trong thời gian ương nuôi ở giai đoạn này có thể thả ghép với một số loài cá giống khác với tỷ lệ: 60-70% cá trắm cỏ, 25-30% cá mè trắng, mè hoa và 5-10% là cá chép và cá trôi; tỷ lệ sống của cá đạt 70-80%.

Sau khi ao ương có độ sâu mực nước đạt 0,8-1,0m thì thả cá hương, trong suốt quá trình ương nuôi duy trì mức nước 1,2-1,5m. Thời gian thả cá hương tốt nhất vào lúc trời mát trong ngày, buổi sáng từ 7-9h và buổi chiều tối từ 18-20h. Khi thả cá nên chọn vị trí như nơi đầu hướng gió, nơi cấp nước hoặc điểm nước sâu và đáy ao ít bùn nhất. Trước khi thả cá chú ý cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bao chứa cá để tránh hiện tượng cá bị sốc nhiệt dẫn đến cá yếu và chết bằng cách ngâm bao cá trong ao ương 10-15 phút sau đó mở bao túi cho nước từ từ váo túi, mở miệng túi dần dần, quan sát hoạt động của cá trong bao chứa trước khi thả cá ra ao ương.

3. Đánh giá chất lượng cá hương

Cá hương phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn về kích thước cá thể cũng như khối lượng; cỡ cá phải đồng đều, thân hình cân đối, không bị dị hình, dị dạng; cá có màu xanh sẫm, vây, vẩy hoàn chỉnh không bị sây sát và mất nhớt; cá bơi lội, hoạt động nhanh nhẹn, có phản xạ tốt với tiếng động; có thể cho một số cá ra thau quan sát thấy cá bơi thành đàn, vòng tròn quanh thau là đạt. Trước khi đưa cá về ao ương sử dụng muối ăn hoặc thuốc tím để tắm cho cá với liều lượng: nước muối 2-3%, thời gian 3-5 phút hoặc sử dụng thuốc tím (KMnO4) với liều lượng 1g thuốc hòa trong 50-100 lít nước, thời gian tắm 10-12 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ các loại ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Sau khi tắm xong cho cá, cho cá về ao ương nuôi phải thao tác nhẹ nhàng, nhanh chóng.

Sau 2-3 ngày nuôi chú ý đến mức độ sử dụng thức ăn của cá nhất là thức ăn xanh (bèo tấm) để cung cấp thức ăn hằng ngày cho phù hợp.

4. Quản lý và chăm sóc ao ương

Đặc điểm dinh dưỡng của giai đoạn này là cá sử dụng thức ăn  xanh (chủ yếu là bèo tấm); sau đó là các loại rong (thực vật thủy sinh thượng đẳng) hoặc các loại lá xanh trên cạn, các loại cỏ. Các loại thức ăn xanh này (ngoài bèo tấm) phải được thái nhỏ vừa cỡ mồi cá mới sử dụng được. Ở giai đoạn này cá trắm cỏ có hiện tượng sinh trưởng không đều, đặc biệt là trong môi trường ao nuôi thiếu thức ăn. Vì vậy khi cá đã sử dụng tốt thức ăn xanh thì cho cá ăn thỏa mãn trong ngày; theo dõi thức ăn xanh trong ao nuôi từ khi cho thức ăn xanh cho đến sáng hôm sau lượng thức ăn xanh trong ao hết hoặc còn một ít là đạt; tốt nhất cho thức ăn xanh vào khung chứa thức ăn.

Chủ động thức ăn xanh bằng cách ương nuôi bèo tấm: Chủ động thức ăn xanh cho cá rất quan trọng; ngoài việc tìm kiếm nguồn thức ăn xanh có sẵn ngoài tự nhiên người nuôi cá phải tạo nguồn thức ăn bằng cách nuôi bèo tấm như: Chọn diện tích ao vừa phải 100-200m2, mặt ao có độ che phủ tốt của bóng cây, ao không cần nguồn nước lưu thông (ao tù); thả một lượng bèo tấm làm giống khoảng 1/3-1/4 diện tích ao; bổ sung thức ăn cho bèo bằng đạm vô cơ hoặc Kali (thay bằng tro bếp). Khi bèo sinh sản phủ kín mặt ao thì thu hoạch dần cho cá ăn;

Thức ăn tinh: giai đoạn này  điều chỉnh theo tuần nuôi (theo biểu dưới đây) tương ứng với kích thước cá thể; thức ăn tinh của cá gồm: thức ăn công nghiệp dạng viên nhỏ vừa cỡ miệng cá sử dụng được và có hàm lượng đạm 25-30% hoặc sử dụng thức ăn tự phối chế dạng bột như: Cám gạo, bột đậu tương, bột mì, bột ngô, khô dầu lạc và bột cá nhạt nhưng phải đảm bảo chất lượng thức ăn sau phối chế có hàm lượng đạm đạt 25-30%.
 
Bảng sử dụng thức ăn cho cá trắm cỏ: Tính cho 10.000 con
 
Kích thước cá thể
(cm)
Lượng thức ăn xanh
(kg/ngày)
Lượng thức ăn tinh
(kg/ngày)
2,5-6 30-40 1,2-1,5
6-12 60-80 3-4
12-15 80-90 4-5
Hàng ngày phải kiểm tra tình hình sử dụng thức ăn xanh và thức ăn tinh của cá để điều chỉnh cho hợp lý. Khi cá sử dụng hết thức ăn thì ngày hôm sau phải tăng thêm. Cá sử dụng thức ăn này nhiều hơn thức ăn khác, ngày hôm sau phải thêm bớt cho phù hợp. Nếu các loại thức ăn đều không sử dụng hết thì số lượng quá nhiều hoặc cá có hiện tượng không bình thường phải kịp thời tìm hiểu nguyên nhân để giải quyết. Giai đoạn này sinh vật phù du vẫn có vai trò trong khẩu phần ăn của cá nhưng đóng vai trò thứ yếu.

Quản lý ao ương: Yếu tố môi trường và địch hại là hai yếu tố quyết định đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng, phát triển của cá do đó người nuôi cá phải thường xuyên thăm ao nhất là buổi sáng sớm; nếu thấy cá nổi đầu buổi sáng từ 5-7 giờ khi mặt trời chưa mọc đó là hiện tượng tốt, nhưng khi cá nổi đầu quá lâu đến 9-10 giờ sáng không lặn điều đó chứng tỏ rằng trong môi trường nước ao không đủ hàm lượng ôxy cho cá hô hấp hoặc chất lượng nước không tốt phải kịp thời xử lý. Vì vậy phải định kỳ bổ sung cấp nước mới vào ao ương, khi cấp nước vào ao phải qua lọc để tránh địch hại và các loại cá khác vào ao và thực hiện các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp.

5. Ghi chép và phân tích dữ liệu ao ương cá giống

Ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu, theo dõi trong nhật ký quá trình ương nuôi cá như: Môi trường ao nuôi; tình trạng sức khỏe, hoạt động của cá; thức ăn; thuốc, chế phẩm sinh học sử dụng; thời gian bổ sung hoặc cấp nước mới vào ao ương; từ 5-10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá một lần để biết được chất lượng, số lượng thức ăn, tình trạng sức khỏe của cá và điều kiện môi trường ao ương để điều chỉnh cho phù hợp;

Phân tích số liệu kỹ thuật dựa trên nhật ký nuôi cá để có các giải pháp xử lý kịp thời trong quá trình ương nuôi cũng như đúc rút kết kinh nghiệm cho vụ ương nuôi kế tiếp;

Tổng hợp kết quả tỷ lệ sống ao ương sau một đợt ương nuôi để đánh giá các định mức kỹ thuật, chi phí giá thành và hiệu quả kinh tế.

6. Thu hoạch cá giống

Sau thời gian ương nuôi 25-30 ngày, cá đạt kích cỡ 4-6cm thì thu hoạch; có thể bán hoặc san sang ao khác để đảm bảo đủ mật độ nuôi đến khi cá đạt kích thước 12-15cm/con .Trước khi thu hoạch, phải quấy dẻo, luyện ép cho cá trước 2-3 ngày; trước khi luyện ép không cho cá ăn thức xanh và cả thức ăn tinh; khi luyện ép cá dùng lưới mềm kéo dồn cá từ từ 2/3 ao; 1/2 ao và 1/3 ao; thời gian một lần luyện ép cá ngày đầu, lần đầu 30 phút và tăng dần thời gian luyện ép cá của những ngày sau. Khi thu hoạch cá giống dùng lưới sợi mềm để kéo cá; các thao tác làm phải nhanh nhưng nhẹ nhàng, khéo léo tránh làm xây xước cá.

Theo sonongnghiep.haiduong.gov.vn

Có thể bạn quan tâm

Quyết sách nhân văn, hỗ trợ học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp hiệu quả

Quyết sách nhân văn, hỗ trợ học sinh vùng cao ôn thi tốt nghiệp hiệu quả

Tháng 4/2026, HĐND tỉnh Lai Châu đã ban hành quy định chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc nội trú, học sinh bán trú, học viên bán trú năm cuối cấp trung học phổ thông và cơ sở giáo dục để ôn thi, thi tốt nghiệp. Đây là một quyết sách đậm tính nhân văn, thể hiện sự quan tâm thiết thực của cấp ủy, chính quyền tỉnh Lai Châu đối với thế hệ trẻ vùng cao trong thời điểm quan trọng nhất của học sinh.

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên

Những năm gần đây, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại Điện Biên ngày càng được đẩy mạnh. Nhiều mô hình sản xuất hiện đại đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và mở ra hướng phát triển nông nghiệp bền vững cho địa phương.

Học và làm theo Bác trở thành 'mạch sống' ở vùng biên

Học và làm theo Bác trở thành 'mạch sống' ở vùng biên

Tháng Năm về trên vùng biên giới Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh, những cơn mưa đầu mùa bắt đầu làm dịu đi cái nắng gay gắt của miền Đông Nam Bộ. Trong khuôn viên trụ sở xã, “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” vừa được ra mắt trở thành nơi nhiều cán bộ, đảng viên, đoàn viên, học sinh tìm đến đọc sách, xem hình ảnh tư liệu về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không gian ấy không chỉ là mô hình trưng bày mà đang dần trở thành nơi hun đúc niềm tin, trách nhiệm và tinh thần cống hiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân vùng biên.

Lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng học sinh dân tộc miền núi

Lắng nghe, thấu hiểu và đồng hành cùng học sinh dân tộc miền núi

Ngày 16/5, tại phường Tân Hòa, tỉnh Phú Thọ, Trung tâm Y tế khu vực Hòa Bình phối hợp với Bệnh viện Tâm thần Vĩnh Phúc và Trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú Hòa Bình tổ chức hội nghị truyền thông và sàng lọc sức khỏe tâm lý cho hơn 560 học sinh của nhà trường.

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao phát huy hiệu quả

Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng nông sản, an toàn thực phẩm và phát triển xanh ngày càng cao, tỉnh Phú Thọ đang xác định khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, sinh thái và bền vững. Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng kỹ thuật tiên tiến đã mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần thay đổi tư duy sản xuất và nâng cao giá trị nông sản địa phương.

Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Khoa học đồng hành cùng sinh kế vùng chè di sản

Trong dòng chảy phát triển hôm nay, quần thể chè Shan tuyết cổ thụ đang được nhìn nhận không chỉ như một nguồn gen quý hiếm, mà còn là "di sản sống" cần được bảo tồn, phát huy gắn với nâng cao đời sống người dân. Và để đánh thức trọn vẹn giá trị ấy, khoa học đang được đặt vào vị trí đồng hành cùng cộng đồng địa phương.

Trồng dâu tây - hướng phát triển kinh tế mới ở xã biên giới Dào San

Trồng dâu tây - hướng phát triển kinh tế mới ở xã biên giới Dào San

Cây dâu tây đang dần trở thành cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao tại nhiều địa phương của tỉnh Lai Châu. Tại xã biên giới Dào San, mô hình trồng dâu tây đang mở ra hướng phát triển mới, giúp người dân nâng cao thu nhập, từng bước thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp truyền thống.

Để giấc mơ không đứt đoạn giữa đại ngàn

Để giấc mơ không đứt đoạn giữa đại ngàn

Từng là địa bàn có tỷ lệ tảo hôn khá cao, xã Pu Sam Cáp (Lai Châu) đã có những chuyển biến rõ rệt trong việc ngăn chặn hủ tục này. Sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, nhà trường và cộng đồng đã từng bước thay đổi nhận thức, giúp nhiều em nhỏ có cơ hội tiếp tục học tập, hướng tới tương lai bền vững.

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nông dân trồng mía liên kết đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt

Nhằm thích ứng với tình hình nắng hạn kéo dài, nhiều nông dân trồng mía tại tỉnh Đắk Lắk đã liên kết với doanh nghiệp để đầu tư hệ thống tưới nước nhỏ giọt. Ứng dụng công nghệ này, người dân không chỉ giải quyết “bài toán” chống hạn mà còn nâng cao năng suất cây mía, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Đồng bào Cơ Tu phát triển kinh tế dưới tán rừng

Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm. Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng bền vững

Trong bối cảnh ngành lúa gạo chịu áp lực từ biến đổi khí hậu, chi phí tăng và yêu cầu thị trường ngày càng cao, việc triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp trên địa bàn tỉnh An Giang đang mở ra hướng đi mới. Đề án không chỉ đổi mới phương thức canh tác mà còn tái cấu trúc chuỗi giá trị lúa gạo theo hướng sản xuất bền vững, giảm chi phí, giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo và gắn chặt với chuỗi liên kết tiêu thụ.

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Khởi nghiệp thành công với mô hình 'kinh tế nông nghiệp xanh'

Gần đây, nhiều nông dân ở tỉnh An Giang đã khai thác tốt các thế mạnh, nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương để phát triển sản xuất, kinh doanh, qua đó tạo thu nhập, việc làm cho nhiều công nhân lao động, góp phần chung vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Hồi chuông cảnh báo từ những vụ đuối nước trẻ em

Chỉ trong vòng vài ngày, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk liên tiếp xảy ra 3 vụ đuối nước, khiến 5 trẻ em từ 9 - 14 tuổi tử vong. Những mất mát dồn dập không chỉ để lại nỗi đau không thể bù đắp cho các gia đình mà còn đặt ra cảnh báo cấp thiết về nguy cơ đuối nước đang hiện hữu, đặc biệt trong thời điểm nắng nóng.

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Chuẩn hóa vùng trồng, tạo đà nâng giá trị nông sản Gia Lai

Trước yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu, tỉnh Gia Lai đang chuyển hướng mạnh từ phát triển sản lượng sang chuẩn hóa chất lượng thông qua việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Đây được xem là giải pháp căn cơ giúp nông sản địa phương nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường theo hướng bền vững.

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Những 'thầy giáo quân hàm xanh' xóa mù công nghệ nơi biên giới Lai Châu

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thời gian qua, những người lính Biên phòng tỉnh Lai Châu không chỉ chắc tay súng bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia mà còn đang miệt mài mang “ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc tại các bản qua mô hình đầy nhân văn: “Thầy giáo quân hàm xanh, đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Tiếng dân tộc - 'Chìa khóa' mở cửa lòng dân biên giới

Trong hai ngày 8 - 9/4/2026, tại tỉnh Lào Cai, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã tổ chức thành công Hội thi tiếng Mông trong Bộ đội Biên phòng khu vực 2 năm 2026. Hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhằm cụ thể hóa chủ trương của Bộ Quốc phòng và Bộ đội Biên phòng về tăng cường học tập ngoại ngữ và tiếng dân tộc thiểu số trong toàn lực lượng.

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mở hướng sinh kế cho người dân miền núi

Xác định thế mạnh của từng vùng, địa phương trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thời gian qua, xã Châu Quế (tỉnh Lào Cai) đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn từng bước thay đổi tư duy sản xuất, chủ động tiếp cận thị trường, ứng dụng khoa học công nghệ nhằm gia tăng giá trị sản xuất. Từ đó, xã xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế hiệu quả đem lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Hành trình 'viết lại' cuộc đời cho cây nấm rơm

Rời phố về quê, chị Nguyễn Hoàng Ngọc Yến (xã Bình Hòa, An Giang) đã chọn cây nấm rơm làm điểm tựa để hiện thực hóa khát vọng nâng tầm nông sản địa phương qua dòng bánh phồng độc đáo. Bằng tư duy đổi mới và tinh thần “khởi nghiệp xanh”, chị Yến không chỉ khẳng định thương hiệu bánh phồng nấm rơm bằng những giải thưởng uy tín mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu cho nông sản quê hương, trở thành điểm sáng trong phong trào khởi nghiệp nông thôn hiện nay.

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Mở lối làm giàu từ hộ nông dân đến chi hội nghề nghiệp

Với hiệu quả kinh tế từ nuôi dê thương phẩm, Hội Nông dân xã Thọ Phong (Quảng Ngãi) đã thành lập Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi dê, mở ra hướng đi mới cho phát triển kinh tế bền vững. Mô hình nuôi dê tại Thọ Phong không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn khẳng định sức mạnh liên kết, giúp nông dân cải thiện thu nhập và ổn định cuộc sống.

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Chuyển đổi số, nâng giá trị nhung hươu

Sản phẩm nhung hươu ở Hà Tĩnh từ lâu trở thành thương hiệu đặc sắc. Tại vùng nuôi hươu sao các xã miền núi Hương Sơn, Quang Diệm, Sơn Giang..., không khí thu hoạch nhung hươu diễn ra nhộn nhịp. Khác với trước đây, hiện nay nhờ ứng dụng chuyển đổi số và công nghệ chế biến sâu, đặc sản “tứ đại danh dược” này không chỉ nâng cao giá trị kinh tế cho người dân mà còn dễ dàng tiếp cận người tiêu dùng cả nước.