Nghị định 05 của Chính phủ về công tác dân tộc

Nghị định 05 của Chính phủ về công tác dân tộc
                                                                 Chương I

                                                NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định các hoạt động về công tác dân tộc nhằm đảm bảo và thúc đẩy sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với cơ quan nhà nước khi thực hiện công tác dân tộc; tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài khi tham gia thực hiện chính sách dân tộc trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của công tác dân tộc

1. Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.
2. Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.
4. Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. “Công tác dân tộc” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
2. “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia.
4. “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
5. “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người.
6. “Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt” là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau:
a) Tỷ lệ hộ nghèo trong đơn vị thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước;
b) Các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khoẻ cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước;
c) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư.

Điều 5. Xác định thành phần dân tộc

Mỗi dân tộc có tên gọi riêng, xác định theo tiêu chí được pháp luật công nhận, phù hợp với nguyện vọng của đồng bào dân tộc. Thành phần dân tộc do cơ quan có thẩm quyền quyết định và công bố theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số

1. Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam được tổ chức định kỳ 10 năm một lần.
2. Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp tỉnh, huyện được tổ chức định kỳ 05 năm một lần.

Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1. Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.
2. Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
3. Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
4. Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

Tại nhà H’Mông trong “ Ngôi nhà chung” cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Mông tổ chức múa hát mừng “Tết Độc lập” truyền thống Ảnh: Thanh Hà - TTXVN
Tại nhà H’Mông trong “ Ngôi nhà chung” cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào dân tộc Mông tổ chức múa hát mừng “Tết Độc lập” truyền thống Ảnh: Thanh Hà - TTXVN

                                                                             ChươngII

                                                                 CHÍNH SÁCH DÂN TỘC

Điều 8. Chính sách đầu tư và sử dụng nguồn lực
1. Kinh phí thực hiện các chính sách dân tộc được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định về phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa vùng dân tộc với các vùng khác.
2. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý nguồn lao động là người dân tộc thiểu số tại chỗ, có chế độ đãi ngộ hợp lý.
3. Khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên vùng dân tộc thiểu số và đầu tư trở lại phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.
4. Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, đưa khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao đời sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số.
5. Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành, địa phương liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 9. Chính sách đầu tư phát triển bền vững

1. Đảm bảo việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng thiết yếu vùng dân tộc thiểu số; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, phát huy tinh thần tự lực, tự cường của các dân tộc.
2. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư phát triển ở vùng dân tộc thiểu số; ưu tiên đặc biệt đối với dân tộc thiểu số rất ít người và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; chú trọng đào tạo nghề, sử dụng lao động là người tại chỗ, đảm bảo thu nhập ổn định, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng khác.
3. Khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường.
4. Chủ đầu tư các dự án quy hoạch, xây dựng có ảnh hưởng tới đất đai, môi trường, sinh thái và cuộc sống của đồng bào các dân tộc, phải công bố công khai và lấy ý kiến của nhân dân nơi có công trình, dự án được quy hoạch, xây dựng quy định của pháp luật; tổ chức tái định cư, tạo điều kiện để người dân đến nơi định cư mới có cuộc sống ổn định tốt hơn nơi ở cũ.
Chính quyền ở nơi có người đến định cư có trách nhiệm phối hợp với chủ đầu tư đảm bảo định canh, định cư lâu dài, tạo điều kiện để đồng bào ổn định cuộc sống.
5. Thực hiện quy hoạch, sắp xếp các điểm dân cư tập trung một cách hợp lý đối với những địa bàn khó khăn, đảm bảo cho đồng bào phát triển sản xuất phù hợp với đặc điểm dân tộc, vùng miền.
6. Thực hiện các chương trình, đề án xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, giải quyết cơ bản vấn đề vốn, đất ở, đất sản xuất, công cụ sản xuất cho nông dân thiếu đất, nhà ở, nước sinh hoạt, hỗ trợ phát triển kinh tế, giao đất, giao rừng cho hộ gia đình ở vùng dân tộc thiểu số, chuyển dịch cơ cấu lao động, ngành nghề, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững.
7. Tổ chức phòng, chống thiên tai và ứng cứu người dân ở vùng bị thiên tai, lũ lụt.
8. Có chính sách hỗ trợ kịp thời những dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt để ổn định và phát triển.
9. Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Lao động - Thương binh và Xã hội, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 10. Chính sách phát triển giáo dục và đào tạo

1. Phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc.
2. Phát triển trường mầm non, trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trường dự bị đại học; nghiên cứu hình thức đào tạo đa ngành bậc đại học cho con em các dân tộc thiểu số để đẩy nhanh việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
3. Quy định các điều kiện và biện pháp cụ thể, phù hợp để hỗ trợ cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số; giải quyết chỗ ở, học bổng và cho vay vốn trong thời gian học tập phù hợp với ngành nghề đào tạo và địa bàn cư trú của sinh viên dân tộc thiểu số.
Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn được miễn học phí ở tất cả các cấp học, ngành học.
4. Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng dân tộc thiểu số phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế.
5. Quy định việc hỗ trợ giáo viên giảng dạy tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; đào tạo giáo viên là người dân tộc thiểu số và giáo viên dạy tiếng dân tộc.
6. Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc.
7. Chính quyền địa phương, nơi có con em dân tộc thiểu số thi đỗ vào Đại học, Cao đẳng và sinh viên được cử đi học hệ cử tuyển, có trách nhiệm tiếp nhận và phân công công tác phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp.
8. Các Bộ: Giáo dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 11. Chính sách cán bộ người dân tộc thiểu số

1. Cán bộ người dân tộc thiểu số có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp.
Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số.
2. Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp.
3. Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, sử dụng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
4. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 12. Chính sách đối với người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số

Người có uy tín ở vùng dân tộc thiểu số được bồi dưỡng, tập huấn, được hưởng chế độ đãi ngộ và các ưu đãi khác để phát huy vai trò trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở địa bàn dân cư, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương.

Điều 13. Chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa

1. Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
2. Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Xây dựng, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; hỗ trợ việc đầu tư, giữ gìn, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa đã được Nhà nước xếp hạng.
4. Đồng bào dân tộc thiểu số được ưu đãi, hưởng thụ văn hóa; hỗ trợ xây dựng, khai thác sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
5. Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, định kỳ tổ chức ngày hội văn hóa - thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Điều 14. Chính sách phát triển thể dục, thể thao vùng dân tộc thiểu số

1. Bảo tồn và phát triển các môn thể dục, thể thao truyền thống của các dân tộc.
2. Đầu tư xây dựng và hỗ trợ các hoạt động thể dục, thể thao, xây dựng sân vận động, nhà thi đấu, trung tâm tập luyện thể dục thể thao ở vùng dân tộc thiểu số.

Điều 15. Chính sách phát triển du lịch vùng dân tộc thiểu số

Tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái; hỗ trợ quảng bá, đa dạng hóa các loại hình, các sản phẩm du lịch, khai thác hợp lý các tiềm năng, danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch.

Điều 16. Chính sách y tế, dân số

1. Đảm bảo đồng bào các dân tộc thiểu số được sử dụng các dịch vụ y tế; thực hiện chương trình chăm sóc sức khoẻ, bảo hiểm y tế cho đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
2. Tập trung xây dựng, củng cố, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; bảo đảm thuốc phòng và chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
3. Hỗ trợ việc bảo tồn, khai thác, sử dụng những bài thuốc dân gian và phương pháp chữa bệnh cổ truyền có giá trị của đồng bào các dân tộc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
4. Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từng dân tộc theo quy định của pháp luật.
5. Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa y tế, thực hiện chính sách ưu tiên đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào các hoạt động đầu tư, phát triển y tế ở vùng dân tộc thiểu số.
6. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 17. Chính sách thông tin - truyền thông

1. Đầu tư phát triển thông tin - truyền thông vùng dân tộc thiểu số, cung cấp một số phương tiện thiết yếu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụ thông tin.
2. Xây dựng, củng cố hệ thống thông tin tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia về dân tộc; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, thiên tai, lũ lụt ở vùng dân tộc thiểu số.
3. Áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng và tổ chức thực hiện trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc.
4. Tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng.
5. Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 18. Chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý

1. Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật.
2. Chính quyền các cấp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý phù hợp với từng đối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số.
3. Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số.
4. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 19. Chính sách bảo vệ môi trường, sinh thái

1. Sử dụng, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, sinh thái vùng dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
2. Bảo vệ, cải tạo và đảm bảo cho vùng có tài nguyên được đầu tư trở lại phù hợp.
3. Tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào ở vùng có tài nguyên để nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, sinh thái, đa dạng sinh học.
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nội dung Điều này.

Điều 20. Chính sách quốc phòng, an ninh

1. Xây dựng, củng cố, quốc phòng, an ninh ở các địa bàn xung yếu, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo gắn với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị và giữ vững trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.
2. Cơ quan nhà nước, đồng bào các dân tộc ở vùng biên giới và hải đảo có trách nhiệm cùng các cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và chính quyền địa phương bảo vệ đường biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội và tăng cường quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước láng giềng ở vùng biên giới và hải đảo theo quy định của pháp luật.

                                                                             Chương III

                                                QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC

Điều 21. Quản lý nhà nước về công tác dân tộc

1. Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc.
2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.
3. Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc.
4. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số.
5. Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định của pháp luật.
6. Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện.
Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.
7. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc.
8. Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc.
9. Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.
10. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.
11. Hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc; khuyến khích việc giúp đỡ, hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện tốt công tác dân tộc và chính sách dân tộc theo quy định của pháp luật.

Điều 22. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
2. Ủy ban Dân tộc có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật.
4. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương theo quy định của pháp luật.
5. Cơ quan công tác dân tộc được tổ chức từ Trung ương, tỉnh và cấp huyện thuộc vùng đồng bào dân tộc.

                                                                              Chương IV

                                                                   TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 23. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ
1. Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
2. Xây dựng, ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực công tác do Bộ, ngành quản lý để áp dụng đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, các dân tộc rất ít người, dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt, hộ dân tộc thiểu số nghèo; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án thuộc quyền quản lý.
3. Định kỳ 06 tháng, năm gửi báo cáo về tình hình công tác dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước do Bộ, ngành chủ trì và gửi Ủy ban Dân tộc để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
4. Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước khác về công tác dân tộc theo sự phân công của Chính phủ.

Điều 24. Trách nhiệm của Ủy ban Dân tộc

1. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hoạch định, xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá, tuyên truyền, vận động việc thực hiện chính sách dân tộc theo quy định tại Nghị định này.
2. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan công tác dân tộc. Định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc.
3. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chính phủ giao.

Điều 25. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp

1. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật và các quy định tại Nghị định này ở địa phương.
2. Hằng năm, xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch, chương trình công tác dân tộc. Tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật và chính sách dân tộc; tổ chức, chỉ đạo thực hiện biện pháp bảo đảm các điều kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số.
3. Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, dự án của địa phương đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh định kỳ 06 tháng, năm báo cáo về tình hình dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở địa phương mình gửi Ủy ban Dân tộc tổng hợp chung, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Điều 26. Phối hợp thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc

Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phối hợp với Ủy ban Dân tộc, các Bộ, ngành liên quan giám sát, tuyên truyền, vận động thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc quy định tại Nghị định này.

                                                                         Chương V

                                                             ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 27. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 04 tháng 3 năm 2011.
2. Các quy định liên quan đến công tác dân tộc trái với quy định tại Nghị định này đều bị bãi bỏ.

Điều 28. Trách nhiệm hướng dẫn và thi hành

1. Ủy ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Điều 5, 12, khoản 5 Điều 22; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Điều 13, 14, 15, các điều khoản cần thiết khác của Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tổ chức, cá nhân liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Thủ tướng chính phủ

Có thể bạn quan tâm

Ngăn chặn hơn 1,8 tấn thực phẩm đông lạnh nhập lậu tại biên giới phía Bắc

Ngăn chặn hơn 1,8 tấn thực phẩm đông lạnh nhập lậu tại biên giới phía Bắc

Ngày 16/3, Cục Hải quan cho biết, lực lượng hải quan tại các cửa khẩu tuyến biên giới phía Bắc đã trực tiếp phát hiện và ngăn chặn hơn 1,8 tấn thực phẩm đông lạnh nhập lậu, không rõ nguồn gốc xuất xứ trong đợt cao điểm đấu tranh chống buôn lậu dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.

Linh hoạt các hình thức hỗ trợ người yếu thế vùng cao, biên giới thực hiện quyền bầu cử

Linh hoạt các hình thức hỗ trợ người yếu thế vùng cao, biên giới thực hiện quyền bầu cử

Trong ngày hội lớn của toàn dân, bên cạnh các hòm phiếu chính được đặt tại các khu vực bỏ phiếu, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã linh hoạt bố trí thêm các hòm phiếu phụ di động, mang lá phiếu đến tận nhà cho những cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật hoặc đi lại khó khăn. 

Xúc động lá phiếu đầu đời dưới lá cờ Tổ quốc nơi biên giới cực Tây

Xúc động lá phiếu đầu đời dưới lá cờ Tổ quốc nơi biên giới cực Tây

Sáng sớm nơi cực Tây Tổ quốc, khi những dải sương mỏng còn lững lờ vắt ngang các triền núi A Pa Chải, không khí của ngày hội lớn đã rộn ràng khắp các bản làng ở xã biên giới Sín Thầu, tỉnh Điện Biên. Nơi đây có cột mốc ba cạnh thiêng liêng – điểm gặp nhau của ba quốc gia Việt Nam, Lào, Trung Quốc và cột cờ A Pa Chải, nơi lá cờ đỏ sao vàng hiên ngang bay giữa bầu trời Tây Bắc.

Vượt lên trời mưa, giao thông chia cắt, nhiều xã miền núi đạt 100% cử tri đi bầu cử sớm

Vượt lên trời mưa, giao thông chia cắt, nhiều xã miền núi đạt 100% cử tri đi bầu cử sớm

Theo Trung tâm chỉ đạo, điều hành Ủy ban Bầu cử thành phố Đà Nẵng, đến 14 giờ ngày 15/3, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 tại tất cả xã, phường trên địa bàn thành phố trung bình đạt hơn 97,3%; trong đó, có 27 xã đạt 100%, 22 phường, xã đạt từ 99% trở lên.

Cử tri xứ Mường rộn ràng trong ngày hội non sông

Cử tri xứ Mường rộn ràng trong ngày hội non sông

Ngày 15/3, tại các xã vùng cao xứ Mường (Hòa Bình cũ), nay thuộc tỉnh Phú Thọ, không khí ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra sôi nổi, phấn khởi.

Cử tri tại các công trình trọng điểm và đồng bào các dân tộc, tôn giáo đi bỏ phiếu đầy đủ

Cử tri tại các công trình trọng điểm và đồng bào các dân tộc, tôn giáo đi bỏ phiếu đầy đủ

Cùng với cử tri cả nước, tại Đồng Nai, đông đảo cử tri là công nhân, kỹ sư, chuyên gia đang làm việc tại các công trình trọng điểm quốc gia như Cảng hàng không quốc tế Long Thành, cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, đường Vành đai 3 - Thành phố Hồ Chí Minh, cao tốc Bến Lức - Long Thành... đã đi bầu cử trong niềm hân hoan.

Cử tri vùng cao biên giới Na Mèo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân

Cử tri vùng cao biên giới Na Mèo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân

Sáng 15/3, cùng với cử tri trong tỉnh và cả nước, hơn 2.400 cử tri xã vùng cao biên giới Na Mèo, tỉnh Thanh Hóa đã nô nức đến các khu vực bỏ phiếu, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân. Dù là địa bàn còn nhiều khó khăn, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là người Mông và Thái, song nhờ sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, công tác tuyên truyền, vận động được triển khai sâu rộng, phù hợp với từng thôn, bản. Nhờ đó, ngay trong buổi sáng ngày bầu cử, tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu ở xã đã vượt kế hoạch đề ra.

Thanh Hóa: Hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng cho ngày bầu cử

Thanh Hóa: Hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, sẵn sàng cho ngày bầu cử

Đến thời điểm hiện tại 1.112 đơn vị bầu cử cấp xã, 3.411 khu vực bỏ phiếu với 3.411 tổ bầu cử và 48.329 thành viên tham gia phục vụ công tác bầu cử trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã hoàn thành xong công tác chuẩn bị bầu cử để đón cử tri tham gia bầu cử vào sáng 15/3.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Đảm bảo các cử tri đều tự tay bỏ lá phiếu của mình

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Đảm bảo các cử tri đều tự tay bỏ lá phiếu của mình

Không khí chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang diễn ra khẩn trương, nghiêm túc trên khắp cả nước. Từ trung tâm đô thị đến các vùng nông thôn, từ trụ sở cơ quan, trường học đến từng khu dân cư, công tác chuẩn bị được triển khai đồng bộ, đúng quy định, thể hiện tinh thần sẵn sàng cho ngày hội lớn của toàn dân.

Cử tri cả nước gửi kỳ vọng đến ngày hội lớn

Cử tri cả nước gửi kỳ vọng đến ngày hội lớn

Không khí chuẩn bị cho ngày hội của toàn dân đang lan tỏa khắp các địa phương trong cả nước. Nhiều cử tri bày tỏ kỳ vọng các đại biểu được bầu sẽ lắng nghe nhiều hơn tiếng nói từ thực tiễn, giúp người dân yên tâm phát triển kinh tế.

Thực hiện tốt trách nhiệm của người đại biểu dân cử nếu được cử tri tín nhiệm

Thực hiện tốt trách nhiệm của người đại biểu dân cử nếu được cử tri tín nhiệm

Những ngày này, các ứng cử viên đại biểu Quốc hội khóa XVI của tỉnh Gia Lai đang tích cực tham gia các hội nghị tiếp xúc cử tri để trình bày chương trình hành động và lắng nghe ý kiến, kiến nghị của nhân dân. Qua các buổi tiếp xúc, cử tri bày tỏ sự quan tâm lớn tới chương trình hành động của các ứng cử viên, đồng thời gửi gắm nhiều kỳ vọng vào vai trò của đại biểu Quốc hội trong việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Rộn ràng không khí hướng tới ngày hội bầu cử tại vùng đồng bào dân tộc Lào Cai

Rộn ràng không khí hướng tới ngày hội bầu cử tại vùng đồng bào dân tộc Lào Cai

Những ngày này, cùng với người dân cả nước, cử tri ở tỉnh Lào Cai từ thành thị đến các vùng nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số rộn ràng không khí chuẩn bị cho ngày hội lớn của đất nước. Người dân háo hức chờ đến ngày bầu cử cầm lá phiếu trên tay bầu ra những đại biểu đại diện cho tiếng nói của người dân trong nhiệm kỳ tới.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Mỗi lá phiếu của cử tri góp phần lựa chọn những đại biểu tiêu biểu

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Mỗi lá phiếu của cử tri góp phần lựa chọn những đại biểu tiêu biểu

Những ngày này, trên khắp các địa bàn của tỉnh Lai Châu, Nghệ An không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử 15/3/2026 đang rộn ràng, khẩn trương. Cờ Tổ quốc tung bay, băng rôn, khẩu hiệu được treo trang trọng; danh sách cử tri được niêm yết công khai; các tổ bầu cử hoàn tất những khâu chuẩn bị cuối cùng. Tất cả đang sẵn sàng cho ngày hội lớn, ngày toàn dân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng.

Cử tri vùng biên giới sẵn sàng cho một kỳ bầu cử dân chủ, đúng luật, an toàn

Cử tri vùng biên giới sẵn sàng cho một kỳ bầu cử dân chủ, đúng luật, an toàn

Những ngày này, không khí của ngày hội lớn đang lan tỏa mạnh mẽ. Sắc đỏ của cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu, pano cổ động được trang hoàng rực rỡ khắp mọi nơi, tạo nên một diện mạo rực rỡ, bức tranh tươi mới về niềm tin và trách nhiệm của nhân dân trước vận hội mới của đất nước. Ở các xã biên giới, mọi công tác chuẩn bị đã bước vào giai đoạn hoàn thiện, sẵn sàng cho ngày hội lớn của đất nước Hướng tới ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, các xã biên giới đang khẩn trương hoàn tất những khâu chuẩn bị cuối cùng, quyết tâm tổ chức một kỳ bầu cử dân chủ, đúng luật và an toàn.

Triệu lá phiếu chung một niềm tin, khát vọng

Triệu lá phiếu chung một niềm tin, khát vọng

Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, là ngày hội của non sông, nơi ý Đảng hòa cùng lòng dân vì một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Đây cũng là dịp để ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trực tiếp thông qua lá phiếu bầu.

Rộn ràng không khí bầu cử nơi biên cương Phong Thổ

Rộn ràng không khí bầu cử nơi biên cương Phong Thổ

Những ngày này, không khí chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đang rộn ràng khắp xã biên giới Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Từ các bản đến cửa khẩu biên giới, công tác tuyên truyền, hướng dẫn cử tri được triển khai rộng khắp giúp đồng bào các dân tộc hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình trước ngày hội lớn của đất nước.

Đồng bào Khmer tại Cần Thơ hướng về Ngày hội toàn dân

Đồng bào Khmer tại Cần Thơ hướng về Ngày hội toàn dân

Một buổi sáng đầu tháng 3, khi vừa kết thúc việc đồng áng, bà con đồng bào Khmer ấp Ngã Cạy, xã Xà Phiên, thành phố Cần Thơ tập trung về chùa Bôrâysarâychum tham dự buổi gặp gỡ và tiếp xúc cử tri để những người ứng cử đại biểu HĐND xã, nhiệm kỳ 2026 - 2031 vận động bầu cử. Bảng thông tin về các ứng cử viên bố trí ở vị trí thuận lợi, giúp bà con dễ dàng tìm hiểu về từng người tham gia ứng cử.

Rộn ràng không khí chuẩn bị bầu cử tại vùng biên Đồng Nai

Rộn ràng không khí chuẩn bị bầu cử tại vùng biên Đồng Nai

Những ngày này, trên khắp các tuyến đường và khu dân cư biên giới của tỉnh Đồng Nai, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang diễn ra khẩn trương và sôi nổi. Ghi nhận tại xã biên giới Hưng Phước.

Nậm Mạ tăng cường phòng, chống thông tin xấu, độc trước ngày hội dân tộc

Nậm Mạ tăng cường phòng, chống thông tin xấu, độc trước ngày hội dân tộc

Chỉ còn vài ngày nữa là đến ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, xã Nậm Mạ, tỉnh Lai Châu tăng cường triển khai nhiều giải pháp phòng, chống thông tin xấu, độc trên không gian mạng. Việc tăng cường tuyên truyền, định hướng dư luận và kịp thời xử lý thông tin sai sự thật góp phần bảo đảm môi trường thông tin minh bạch, tạo niềm tin để ngày bầu cử diễn ra an toàn, đúng quy định của pháp luật.

Tuyên truyền về ngày hội lớn của đất nước đến đồng bào nơi phên giậu Tổ quốc

Tuyên truyền về ngày hội lớn của đất nước đến đồng bào nơi phên giậu Tổ quốc

Hiện nay, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang lan tỏa khắp các xã, bản của tỉnh Sơn La. Trên những con đường đất, đồi núi quanh co, các cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng mang theo loa tuyên truyền, tờ rơi đến từng nhà, từng bản để tuyên truyền về ngày hội lớn của đất nước đến với đồng bào các dân tộc nơi phên giậu của Tổ quốc.

Khổng Lào chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hội của non sông

Khổng Lào chuẩn bị sẵn sàng cho ngày hội của non sông

Chỉ còn gần 1 tuần nữa là đến Ngày hội của non sông, xã biên giới Khổng Lào, tỉnh Lai Châu đang tích cực triển khai nhiều giải pháp nhằm bảo đảm an ninh trật tự, chủ động rà soát danh sách cử tri, đặc biệt chú trọng những trường hợp đi làm xa. Với sự chuẩn bị chu đáo từ cơ sở, địa phương quyết tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để mỗi cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình.

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Đổi mới phương thức truyền thông tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Đổi mới phương thức truyền thông tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Trong không khí phấn khởi hướng về Ngày hội non sông, xã Tân Khai (Đồng Nai) đang trở thành điểm sáng trong việc đổi mới phương thức truyền thông về bầu cử. Ngoài những tờ rơi hay loa phát thanh truyền thống tuyên truyền về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, xã Tân Khai đã mạnh dạn ứng dụng công nghệ số để thông tin sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số.

Đa dạng hình thức tuyên truyền bầu cử ở Sơn La

Đa dạng hình thức tuyên truyền bầu cử ở Sơn La

Hướng về Ngày hội non sông – bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, các cấp ủy, chính quyền tỉnh Sơn La đã huy động các cơ quan, đơn vị, tổ chức hội, đoàn thể tham gia tuyên truyền bằng nhiều hình thức; trong đó, có lực lượng Bộ đội Biên phòng. Sự đa dạng về hình thức đã tạo nên không khí phấn khởi, góp phần nâng cao nhận thức, tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với ngày hội bầu cử, sự kiện chính trị trọng đại của đất nước và địa phương.

Niềm tin cử tri vùng biên Gia Lai

Niềm tin cử tri vùng biên Gia Lai

Những ngày này, tại 7 xã biên giới đất liền của tỉnh Gia Lai, không khí chuẩn bị cho Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đang diễn ra khẩn trương. Trên các tuyến đường dẫn vào trung tâm xã, cờ Tổ quốc, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền được treo trang trọng, tạo nên không khí phấn khởi hướng về ngày hội lớn của toàn dân.

Giữ vững trận địa an ninh cho ngày hội của toàn dân

Giữ vững trận địa an ninh cho ngày hội của toàn dân

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của đất nước. Xác định rõ vai trò nòng cốt trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự ngay từ cơ sở, lực lượng Công an tỉnh Đắk Lắk đã chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cho cuộc bầu cử trên địa bàn.