Độc đáo món xôi ngũ sắc của đồng bào dân tộc Lự

Xôi ngũ sắc được bà con dân tộc Lự, ở bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường xếp từng tầng khi đồ xôi. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN
Xôi ngũ sắc được bà con dân tộc Lự, ở bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường xếp từng tầng khi đồ xôi. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Lai Châu là tỉnh vùng cao biên giới với 20 dân tộc sinh sống, trong đó có người dân tộc Lự. Người Lự Lai Châu có nhiều món ẩm thực độc đáo, nhưng nổi bật là món xôi ngũ sắc. Món xôi được người dân gìn giữ đến tận nay và trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc, hấp dẫn du khách khi đặt chân đến nơi đây.

Dân tộc Lự là một trong 16 dân tộc ít người ở Việt Nam, với số dân dưới 10.000 người. Hiện nay, dân tộc Lự ở Lai Châu có trên 6.700 người, chiếm 1,49% dân số toàn tỉnh. Người Lự phân bố tập trung ở 2 huyện Tam Đường, Sìn Hồ và sống xen kẽ với người Thái, Khơ Mú ở huyện Than Uyên. Tại huyện Tam Đường, người Lự tập trung chủ yếu ở xã Bản Hon, nơi các giá trị văn hóa truyền thống người Lự vẫn còn lưu giữ được những nét nguyên bản.

Độc đáo món xôi ngũ sắc của đồng bào dân tộc Lự ảnh 1Xôi ngũ sắc được bà con dân tộc Lự, ở bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường xếp từng tầng khi đồ xôi. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Khu Du lịch Cộng đồng Bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường, cách trung tâm thành phố Lai Châu khoảng 15 km về phía Đông Nam là điểm đến vô cùng thú vị cho du khách. Có gần 70 gia đình người Lự sinh sống, Bản Thẳm nằm ẩn mình giữa những vạt rừng xanh thơ mộng, có mây bao phủ, có núi non hùng vĩ và có những vườn hoa luôn ngát hương thơm cùng với những điệu múa truyền thống, những món ăn độc đáo làm say đắm du khách mỗi khi ghé thăm.

Từ lâu, xôi ngũ sắc được biết đến là món ăn truyền thống của người Lự và mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Trong các dịp lễ, Tết của người dân nơi đây, nhất là trong đám cưới, đám giỗ, không thể thiếu món xôi này. Xôi ngũ sắc tượng trưng cho âm dương ngũ hành, cho tình đoàn kết của cộng đồng dân tộc Lự nói riêng và cộng đồng các dân tộc nói chung.

Nguyên liệu dùng để làm ra món xôi ngũ sắc gồm gạo nếp thơm và các loại cây rừng. Công dụng của những lá cây này là để nhuộm màu cho xôi. Thông thường, màu đỏ sẽ được làm từ quả gấc, màu xanh được lấy từ lá gừng hoặc lá dứa, màu vàng làm từ màu của củ nghệ già giã lấy nước, màu tím của xôi lấy từ lá cẩm. Cuối cùng, màu trắng là màu của xôi tự nhiên, không cần thêm bất kì loại lá nào.

Độc đáo món xôi ngũ sắc của đồng bào dân tộc Lự ảnh 2 Phụ nữ Lự, ở bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường đồ xôi ngũ sắc để chuẩn bị cho ngày lễ, ngày giỗ. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Chị Lò Thị Pầu, dân tộc Lự ở Bản Thẳm cho hay: Mỗi gia đình người Lự trong bản đều trồng quanh nhà các loại cây để làm xôi. Cách làm xôi ngũ sắc cũng khá đơn giản, gần giống với làm món xôi thông thường. Trước khi đem gạo nếp đi nhuộm màu thì phải ngâm gạo trong nước lã từ 6 đến 8 tiếng. Sau đó chia nếp thành 5 phần bằng nhau, mỗi phần tương ứng với một màu. Để đảm bảo màu đẹp, người nấu phải tránh không được để lẫn các loại cây màu với nhau. Tiếp đó là sự cầu kỳ trong khâu nấu, giã lá, củ để lấy nước màu trộn vào gạo nếp. Các loại cây, lá màu phải được nấu ở các nồi khác nhau để tránh bị lẫn màu.

Sau khi nhuộm màu, xôi sẽ được mang đi đồ. Khâu này tùy, thuộc vào mức độ khéo tay và kinh nghiệm nấu của mỗi người mà cho ra một món xôi như ý. Một lưu ý quan trọng để làm thành công món xôi ngũ sắc chính là gạo màu nào dễ phai nhất thì phải cho vào đồ đầu tiên, tiếp đến tới các màu khác. Xôi được nhuộm màu từ lá, củ, khi ăn sẽ rất thơm và mang đặc trưng hương vị của núi rừng.

Theo quan niệm của người Lự, hình ảnh xôi ngũ sắc mang nhiều ý nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều tượng trưng cho những điều may mắn, tốt lành. Tuy là một món ăn bình dân, nhưng với người Lự lại thể hiện những giá trị tinh tế trong quan niệm, ứng xử của con người với tự nhiên; thể hiện tinh thần lao động hăng say để làm nên những hạt gạo, lòng hiếu thảo và ứng xử đẹp của con người. Giống như sự đa dạng trong các mối quan hệ xã hội của con người, xôi ngũ sắc là sự kết hợp đa dạng, tinh tế của nhiều loại cây, củ, quả để tạo thành món xôi thơm, ngon độc đáo.

Độc đáo món xôi ngũ sắc của đồng bào dân tộc Lự ảnh 3Phụ nữ Lự, ở bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường đồ xôi ngũ sắc để chuẩn bị cho ngày lễ, ngày giỗ. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Đối với đồng bào nơi đây, ngũ sắc là tên gọi của 5 màu chủ đạo gồm: trắng, tím, xanh, vàng và đỏ. Món xôi này thể hiện cho tình yêu son sắt, thủy chung và lòng yêu mẹ, kính cha. Xôi màu đỏ sẽ tượng trưng cho khát vọng sống và những ước mơ về tương lai tươi sáng. Xôi màu tím tượng trưng cho màu của đất đai trù phú. Xôi màu vàng tượng trưng cho sự no ấm và phồn thịnh, thể hiện mong ước cho cuộc sống yên bình của người dân. Xôi màu xanh sẽ tượng trưng cho màu của núi rừng Tây Bắc, của cây cối, rừng rậm và nương rẫy. Xôi màu trắng tượng trưng cho tình yêu trong trắng, thủy chung và tình thương đối với cha mẹ.

Mặc dù cách nấu xôi ngũ sắc không khó nhưng lại đòi hỏi sự tỉ mỉ cao. Vì thế mà loại xôi này cũng được ví như sự tinh tế của người phụ nữ Tây Bắc. Xôi muốn thơm ngon phải chọn nếp tốt, nấu từ nước suối tinh khiết và giữ lửa đều. Có như vậy thì xôi mới mềm dẻo, chín đều và mang một hương vị đặc trưng. Xôi ngũ sắc của người Lự tại Bản Thẳm mang những hương vị riêng biệt bởi nơi đây có những khe núi với mạch nước ngầm sạch, trong lành. Khi đồ xôi xong, người phụ nữ sẽ khéo léo lấy từng tầng xôi để không bị lẫn màu, công đoạn này đòi hỏi phải nhẹ nhàng, tỉ mỉ.

Du khách gần xa khi được thưởng thức xôi ngũ sắc của người Lự sẽ ấn tượng với hương vị thơm ngon, màu sắc bắt mắt của món ăn này. Du khách Hoàng Ngọc Diệp đến từ tỉnh Lạng Sơn hào hứng nói "lên Lai Châu được 2 ngày, khi đặt chân tới Bản Thẳm mình cảm thấy nơi đây thật bình yên, thoải mái và là điểm đến thư giãn tuyệt vời sau những ngày làm việc mệt mỏi. Con người ở đây rất gần gũi, thân thiện, bà con còn giữ được nét bản sắc văn hóa dân tộc. Đến đây, mình được thưởng thức các món ăn, trong đó có xôi ngũ sắc và các điệu múa mà bình thường mình chỉ được xem trên ti vi".

Độc đáo món xôi ngũ sắc của đồng bào dân tộc Lự ảnh 4Xôi ngũ sắc của người Lự, ở bản Thẳm, xã Bản Hon, huyện Tam Đường được biết đến là món ăn truyền thống của đồng bào và mang nhiều ý nghĩa quan trọng. Ảnh: Đinh Thùy-TTXVN

Anh Tạ Ngọc Lâm, du khách đến từ tỉnh Phú Thọ chia sẻ: Lần đầu tiên tới thăm Bản Thẳm, anh thấy bản này không khí mát mẻ, trong lành, quang cảnh đẹp. Được chứng kiến người dân làm món xôi ngũ sắc anh thấy rất thú vị, lạ lẫm và khi thưởng thức, món xôi này dẻo thơm khác hẳn món xôi mà hàng ngày anh vẫn ăn. Sau khi về Phú Thọ anh sẽ rủ bạn bè và gia đình lên thăm quan bản này để cùng thưởng thức món ăn dân tộc đặc sắc.

Có thể thấy, món xôi ngũ sắc có vai trò quan trọng trong văn hóa ẩm thực của người Lự tại Bản Thẳm. Vì vậy, để lưu giữ lại món xôi truyền thống này cho thế hệ mai sau, những người con gái trong gia đình người Lự từ nhỏ đã được các bà, các mẹ hướng dẫn cách chọn gạo, chọn lá, đồ xôi sao cho thơm, cho dẻo.

Việt Hoàng – Đinh Thùy

(TTXVN)
Dân tộc Lự

Tên tự gọi: Lừ, Thay hoặc Thay Lừ.

Tên gọi khác: Phù Lừ, Nhuồn, Duồn.

Nhóm địa phương: Ở Việt Nam chỉ có nhóm Lự Ðen (Lừ Ðăm) ở xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), phân biệt nhóm Lự Trắng (Lừ Khao) ở Síp Song Păn Na (Trung Quốc).

Dân số: 5.601 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) ít nhất cũng trước thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng. Vào thế kỷ chiến tranh người Lự phải phân tán đi khắp nơi, một bộ phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ.

Hoạt động sản xuất: Người Lự sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác rưởi và phân chuồng để bón ruộng. Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu từ người Mông. Nghề dệt phát triển. Dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng. Hái lượm, săn bắt, đặc biệt đánh cá ở suối là hoạt động thường xuyên.

Ăn: Người Lự ăn xôi, ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán.

Mặc: Nữ mặc áo chàm, xẻ ngực. Váy nữ bằng vải chàm đen, có thêu dệt thành hai phần trang trí, dễ cảm giác như váy có hai tầng ghép lại. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Ðầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Nhuộm răng đen. Ðeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng.

Nam mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen. Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.

: Người Lự cư trú ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Ðiện Biên (Lai Châu). Nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm; bếp ở giữa nhà.

Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.

Quan hệ xã hội: Quan hệ láng giềng là chủ đạo. Họ theo tập quán tương trợ giữa các gia đình trong lao động sản xuất, khi làm nhà mới, cưới xin ma chay.

Hai họ - Pu Da (nội) và Ta Nai (ngoại) là quan trọng nhất.

Cưới xin: Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng của mình. Có ba bước cưới xin:

+ "Ăn giáp tối": lễ nhập phòng.

+ "Ăn mới": tổ chức ăn uống và nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái trong đó phải có một thanh gươm.

+ "Ðón dâu".

Sinh đẻ: Khi đầy tháng nhờ ông máy đem bút vót bằng cây guột và một mảnh vải trắng đĩa mực tàu đến bói và tìm tên cho trẻ nhỏ. Ðặt trứng gà lên bát gạo, ông máy gieo hạt gạo lên trông trứng xem chẵn, lẻ. Nếu ứng đúng như ông xướng thì lấy tên đó đặt cho trẻ và ghi tên vào mảnh vải rồi trao lại cho bố mẹ giữ lấy làm khai sinh. Nữ thường có tên là Kẻo (Ngọc) và nam là Khăm (Vàng)...

Ma chay: Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Mổ một trâu đen (không trắng) để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Quàn thi thể ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ để khiêng ra rừng ma. Chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất.

Nhà mới: Kiêng không làm lễ lên nhà mới vào giữa trưa. Sau khi quét sạch nhà, mời 4 cụ già ngoài họ đến uống rượu quanh một cái chậu có 4 chén rượu đặt ở giữa nhà. Một chàng trai trẻ đến bên cửa ra vào, ngồi xổm và cất tiếng xin mua nhà, các cụ đang uống rượu đáp: "chủ nhà sắp đến nhận rồi". Vợ chồng chủ nhà đã đứng sẵn ở chân cầu thang. Chồng mang một cái chài trên vai, vợ gánh một bên là kiềng và một bên là chõ xôi; chồng trước, vợ theo sau leo lên cầu thang, đặt đồ vào nhà. Tiếp theo, hai thiếu nữ thắp hai bó đuốc bước lên nhà. Một cô khác ở đầu cầu thang cầm ống nước để dập tắt lửa cháy ở bó đuốc đi đầu. Người thứ hai, cầm bó đuốc vẫn cháy sáng, đưa đến nhóm lửa ở bếp. Ngọn lửa phải giữ cho cháy suốt 3 ngày 3 đêm. Chủ nhà làm lễ thờ tổ tiên bằng cỗ đầu lợn. Dân bản được mời ăn cỗ uống rượu, mọi người vui hát theo điệu sáo đôi.

Thờ cúng: Người Lự thờ cúng tổ tiên ở gian "hóng" trong nhà, mỗi năm một lần vào tháng giêng theo lịch Lự, tương đương với tháng 10 âm lịch; thắp thêm 10 ngọn nến sáp ong ở quanh mâm cỗ. Ông "chủ đầu" (chảu hô) đọc bài cúng. Vào tháng giêng có lễ cúng bản gọi là "kiêng bản" (căm bản) với mâm cỗ 3 yến lợn đều cúng dựng ở đầu bản và cạnh sông, suối. Vào tháng 3 mồng 3 có lễ cúng ở khu "rừng thiêng" (đóng căm) với mâm cỗ 3 yến lợn và cũng như thế, tháng 6 mồng 6 với mâm cỗ 6 yến lợn. Sau khi "chủ đầu" làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày gọi chung là "kiêng bản kiêng mường".

Lễ tết: Cách đương đại 3 thế hệ về trước, khoảng 60-70 năm, người Lự còn thực hiện những nghi lễ Phật giáo gọi là bun như: lễ mừng năm mới (bun pi mày) vào tháng giêng; lễ té nước (bun huất nặm) vào tháng11, tháng 12 và lễ thả ống pháo sáng (bun bẳng phay) vào tháng 2, 3 theo âm lịch Lự.

Lịch: Có lịch riêng - tháng giêng là tháng10 âm lịch.

Học: Người Lự có sử dụng chữ theo mẫu tự Pali. Người ta lấy gai hoặc que sắt nhọn làm bút viết trên lá cọ rừng ghi nhiều loại truyện thần thoại, cổ tích. Cũng có thể vỏ cây guột khô, vót nhọn, chấm mực tàu viết trên miếng vải trắng. Xưa kia, trẻ 7-8 tuổi có tập quán đến học chữ của ông "chẩu hua" (sư).

Văn nghệ: Hát Lự (Khắp Lử) là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Theo lối hát này (ỉn khống). Xưa, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.

Chơi: Người Lự có các trò chơi kéo co, ném én. Nam thanh niên thích múa gươm.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Lự

Có thể bạn quan tâm

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Để di sản hát then, đàn tính tiếp tục truyền lửa trong thời đại công nghệ số

Cao Bằng được biết đến là quê hương của hát then, đàn tính. Để lời then tiếng tính không chỉ vang lên ở mỗi nếp nhà, mà còn lan tỏa sâu rộng, những nghệ nhân, người truyền lửa cùng sự định hướng của ngành du lịch và chính quyền các cấp đã góp phần gìn giữ giá trị bền vững của quê hương giữa dòng chảy hiện đại.

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Rà soát việc thực hiện khuyến nghị của UNESCO ở Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đăk Nông

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã phối hợp với các chuyên gia Mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Việt Nam tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông. Đây là hoạt động quan trọng nhằm rà soát việc thực hiện các khuyến nghị của UNESCO, chuẩn bị cho kỳ tái thẩm định danh hiệu dự kiến diễn ra vào năm 2027.

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Lan tỏa bản sắc, hình ảnh vùng cao Lai Châu

Sáng 2/6, Ban tổ chức Cuộc thi sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Lai Châu tổ chức lễ phát động cuộc thi với chủ đề “Lai Châu - Mạch nguồn văn hóa, tiềm năng, động lực phát triển”. Lễ phát động được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp với trực tuyến từ điểm cầu tỉnh đến điểm cầu 36 xã, phường trong tỉnh.

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Phật giáo Nam tông và sứ mệnh bảo tồn bản sắc văn hóa vùng đồng bào Khmer

Tại thành phố Cần Thơ, Phật giáo Nam tông tiếp tục thể hiện rõ vai trò trụ cột trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Không chỉ là điểm tựa tâm linh thiêng liêng, thiết chế này còn là không gian giáo dục, bảo vệ di sản và thắt chặt đại đoàn kết dân tộc.

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Nhiều hoạt động trong 'Ngày hội gia đình' tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Ngày 30/5, thông tin từ Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam cho biết, từ ngày 1 - 30/6, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) sẽ diễn ra các hoạt động tháng 6 với chủ đề “Ngày hội gia đình”, hướng tới chào mừng kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026).

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Trao truyền những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào S’tiêng

Nhằm bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn, xã Tân Hưng (thành phố Đồng Nai) vừa tổ chức công bố và trao Quyết định công nhận Câu lạc bộ Văn hóa truyền thống S’tiêng Tân Hưng. Câu lạc bộ được thành lập với 35 thành viên, trong đó Ban Chủ nhiệm gồm 7 thành viên do chị Điểu Thị Hồng giữ vai trò Chủ nhiệm.

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Đồng cỏ bàng giúp ổn định cuộc sống người dân vùng biên giới Tây Nam

Tận dụng nguồn nguyên liệu cỏ bàng sẵn có ở các vùng biên giới (giáp ranh Campuchia) thuộc tỉnh An Giang, người dân địa phương đã tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ như, túi xách thời trang, giỏ, ví và nhiều loại vật dụng gia đình, đồ trang trí nội thất… tạo nguồn thu nhập, ổn định cuộc sống.

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Văn hoá soi đường: Gìn giữ nhịp Xoan vùng đất Tổ từ mái trường

Là điểm sáng trong phong trào “Hát Xoan học đường” của tỉnh Phú Thọ, Trường Tiểu học Gia Cẩm, phường Việt Trì đã đưa những làn điệu Xoan cổ hòa vào nhịp sống học đường, để tiếng trống phách và câu hát giao duyên mỗi ngày ngân vang dưới mái trường gần 2.000 học sinh.

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Đưa văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đến với đất mỏ

Ngày 28/5, Bảo tàng Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh tổ chức khai mạc Triển lãm “Cồng chiêng Tây Nguyên - Thanh âm từ đại ngàn”. Sự kiện diễn ra tại Bảo tàng - Thư viện tỉnh Quảng Ninh đến hết ngày 28/6.

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Đẹp nao lòng những cánh đồng lúa Sơn La

Cuối tháng 5, những cánh đồng lúa ở Sơn La mang đến vẻ đẹp say đắm lòng người, với sắc vàng của mùa lúa chuẩn bị chín cùng sắc xanh mướt trải dài khắp các bản làng của núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, tạo nên bức tranh thiên nhiên yên bình, thơ mộng và đẹp đến nao lòng.

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Trao truyền và phát huy văn hóa dân tộc trong trường học vùng biên

Giữa núi rừng biên giới Pà Vầy Sủ (Tuyên Quang), những điệu múa truyền thống, tiếng khèn, câu hát dân gian vẫn được các em học sinh nâng niu gìn giữ mỗi ngày. Từ mái trường vùng cao, tình yêu văn hóa dân tộc đang được thầy cô và cộng đồng bền bỉ trao truyền, góp phần gìn giữ mạch nguồn bản sắc nơi biên cương Tổ quốc.

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Giữ gìn bản sắc dân tộc S’tiêng trong dòng chảy hiện đại

Trong dòng chảy hiện đại, việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số luôn là một hành trình nhiều tâm huyết. Với cộng đồng người S’tiêng tại Đồng Nai, những điệu múa, lời ca không chỉ là nét đẹp truyền thống mà còn là sợi dây kết nối các thế hệ. Suốt hơn ba năm qua, Câu lạc bộ văn hóa người S’tiêng BP đã trở thành nơi “giữ lửa” văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị đặc sắc của dân tộc mình.

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19

Sáng 24/5/2026, vòng chung kết Giải đua ngựa truyền thống Bắc Hà lần thứ 19 diễn ra sôi động tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, thu hút hàng nghìn người dân và du khách đến theo dõi, cổ vũ. Đây là điểm nhấn đặc biệt trong chuỗi hoạt động Festival mùa Hè “Vang xa vó ngựa cao nguyên” năm 2026. 

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh - điểm nhấn du lịch văn hóa độc đáo

Giữa vùng đất đầy nắng gió, Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh nổi bật với kiến trúc độc đáo, không gian thanh tịnh và những giá trị văn hóa đặc sắc. Không chỉ là trung tâm của đạo Cao Đài, nơi đây còn trở thành điểm đến hấp dẫn để du khách tìm hiểu tín ngưỡng, khám phá nét đẹp kiến trúc, văn hóa cũng như đời sống tinh thần đặc trưng của vùng Nam Bộ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước mỗi năm.

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Khai mạc Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026

Sáng 23/5, tại sân vận động trung tâm xã Bắc Hà, Festival Cao nguyên trắng Bắc Hà 2026 chính thức khai mạc, thu hút đông đảo người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham dự. Đây là hoạt động mở đầu cho chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch diễn ra đến hết ngày 31/5 với chủ đề “Vang xa vó ngựa cao nguyên”.

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Sợi dây kết nối hồn thiêng di sản

Cùng sự phát triển kinh tế, Đồng Nai đang thổi bùng luồng sinh khí mới vào đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bằng việc tích cực phục dựng và duy trì các lễ hội truyền thống đặc sắc. Các địa phương không chỉ bảo tồn trọn vẹn kho tàng văn hóa phong phú của 37 dân tộc anh em, mà còn tạo sợi dây gắn kết cộng đồng bền chặt, hướng tới mục tiêu phát triển con người toàn diện.

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Giữ hồn di sản giữa nhịp sống hiện đại

Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có nhiều chuyển biến tích cực. Từ việc hoàn thiện quy hoạch, tu bổ di tích đến đẩy mạnh xã hội hóa và gắn bảo tồn với phát triển du lịch, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của vùng Đất Tổ đang tiếp tục được gìn giữ và lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Chợ phiên - nơi lưu giữ nét đẹp văn hóa vùng cao Tây Bắc

Giữa núi rừng Tây Bắc trùng điệp, trên dải đất biên cương Lai Châu nơi 20 dân tộc cùng sinh sống, những phiên chợ vùng cao từ lâu đã trở thành điểm hẹn quen thuộc của đồng bào các dân tộc. Trong điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, chợ phiên không chỉ đơn thuần là nơi trao đổi hàng hóa mà đã trở thành không gian văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao Lai Châu.

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Kết nối hợp tác trong bảo tồn văn hóa Chăm

Ngày 18/5, nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng (18/5) với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (EFEO) tổ chức sự kiện văn hóa - khoa học nhằm tôn vinh giá trị di sản và khẳng định mối quan hệ hợp tác giữa hai đơn vị.